Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản - Pdf 19

Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản
Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường
xuyên các chất từ dạ dày lên thực quản, bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh
nhân mà còn có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu
thực quản, thậm chí dẫn tới ung thư. Việc chẩn đoán sớm, điều trị hợp lý và kịp
thời sẽ làm cải thiện cuộc sống cho người bệnh cũng như giảm thiểu được các biến
chứng nguy hiểm.
1. Nguyên nhân của trào ngược dạ dày thực quản?
Các chất trong dạ dày trào ngược lên thực quản là hiện tượng sinh lý. Chỉ khi hiện
tượng trào ngược gây ra triệu chứng và/hoặc tổn thương thực thể được gọi là bệnh
trào ngược dạ dày-thực quản (Gastroesophageal Reflux Disease – GERD)
Nguyên nhân gây bệnh vẫn còn chưa rõ, tuy vậy người ta nói nhiều tới vai trò của
cơ thắt thực quản dưới. Các tác nhân làm yếu hoặc gây giãn cơ góp phần gây ra
bệnh trào ngược dạ dày-thực quản như: uống rượu, hút thuốc; thức ăn chứa nhiều
gia vị, mỡ, cà phê, sô-cô-la; các tình trạng bệnh lý như béo phì, đái tháo đường, ở
phụ nữ có thai, thoát vị hoành; dùng các thuốc chẹn kênh canxi, theophyllin…
2. Triệu chứng và chẩn đoán.
- Ợ nóng: Là triệu chứng thường gặp nhất, đó là cảm giác gây ra do các thành
phần của dịch dạ dày trào ngược lên thực quản. Bệnh nhân thấy nóng rát từ vùng
thượng vị, lan ngược lên phía sau xương ức có khi lên tận cổ họng. Ợ nóng thường
tăng lên sau khi ăn, khi nằm xuống hoặc ưỡn người về phía trước.
- Ợ chua: Là hiện tượng do các thành phần acid của dịch dày và/hoặc thực quản
trào ngược lại ra vùng hầu họng.
- Nuốt khó: Xuất hiện ở 1/3 số bệnh nhân trào ngược, đó là cảm giác thức ăn hay
nước uống dừng lại phía sau xương ức ngay sau khi nuốt. Nuốt khó, hay nghẹn là
triệu chứng cần cảnh giác với ung thư thực quản.
Ngoài các triệu chứng trên có thể gặp các triệu chứng không điển hình hoặc do
biến chứng như nuốt đau, nôn, ợ hơi; khàn tiếng, đau họng, ho; tăng tiết nước bọt;

viên nén 1g, uống ngày 4 viên trước bữa ăn và lúc đi ngủ, tránh dùng antacid hoặc
kháng histamin H2 30 phút trước hoặc sau khi uống Sucralfat.
- Thuốc điều hòa vận động: Làm tăng trương lực cơ thắt thực quản dưới đồng thời
làm tăng nhu động, nhanh chóng làm rỗng dạ dày. Thuốc cơ bản trong nhóm này
là Metoclopropamide, Cisapride nên chỉ định dùng trong đợt ngắn ngày, uống 30
phút trước bữa ăn và lúc ngủ.
- Các thuốc ức chế tiết acid: Chia làm hai nhóm: kháng histamin H2 và ức chế
bơm proton.
+ Nhóm kháng histamine H2 có tác dụng làm giảm tiết dịch acid trong dạ dày.
Thuốc được hấp thu nhanh và dễ dàng qua đường tiêu hóa thường dùng để điều trị
các trường hợp trào ngược nhẹ và vừa. Nhóm này gồm có: Cimetidin, Ranitidine,
Famotidin, Nizatidine.
+ Nhóm ức chế bơm proton: Có tác dụng ức chế khâu cuối cùng của quá trình bài
tiết acid. Nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc nhanh chóng cải thiện triệu chứng,
giảm tình trạng viêm loét thực quản và nguy cơ tái phát. Nhóm này gồm có:
Omeprazole, Rabeprazole, Lanzoprazole, Pantoprazole, Esomeprazole.
Điều trị ngoại khoa: Thông thường 80% bệnh nhân đáp ứng với điều trị nội khoa,
số còn lại thường gây ra các biến chứng như chít hẹp thực quản, bệnh thực quản
Barrett, ung thư hóa… trong những trường hợp như vậy cần cân nhắc làm thủ
thuật điều trị qua nội soi hay phẫu thuật.
Sai lầm hay mắc phải của người bệnh là tự ý mua thuốc về dùng, không theo chỉ
định của bác sỹ. Cần phải hiểu rằng với mỗi người bệnh có tình trạng bệnh lý cụ
thể khác nhau, người bệnh cần được thầy thuốc chuyên khoa khám và chỉ định
điều trị thích hợp thì bệnh mới mau lành và hạn chế được các biến chứng nguy
hiểm của bệnh và do dùng thuốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status