Đề cương kinh tế quản lý doc - Pdf 19

Câu 1: Đặc điểm của đầu tư phát triển.Sự quán triệt những đặc điểm này trong công tác
quản lý đầu tư.
I. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển
1.1 Đầu tư và đầu tư phát triển
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đó
nhằm thu về, đem lại lợi ích cho chủ đầu tư trong tương lai.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại
để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất
và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát
triển.
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn
lực cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực bao gồm cả
tiền vốn, đất đai, lao động, thiết bị, tài nguyên.
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ
vốn nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm phân công lao động xã
hội, có hai nhóm đối tưọng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh
thổ. Trên góc độ tính chất và mục đích, đối tượng đầu tư được chia thành hai
nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận…
Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất,
tài sản trí tuệ và tài sản vô hình. Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm
tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh
quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tê xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt
được kết quả đó. Kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển cần được xem xét
trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi
ích, phát huy vai trò chủ động sang tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra
giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc
gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Ở góc độ vĩ mô, đó là thúc đẩy tăng trưỏng kinh
tế, góp phần giảI quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
xã hội. Ở góc độ vi mô, đó là tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận, nâng

2
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
hưởng lợI ích vật chất ( như cổ tích, tiền lãi trái phiếu), lợì ích phi vật chất
(quyền biểu quyết, quyền tiên mãi) nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp
tài sản mà mình bỏ vốn đầu tư.
Đầu tư trực tiếp: người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá
trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư dịch
chuyển và đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trong
đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản. Thực chất
trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản.
Như vậy theo cách tiếp cận này, đầu tư phát triển là một hình thức đầu tư
trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản
xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp
tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ. Hình
thức đầu tư này đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của
nền kinh tế tại mỗi quốc gia.
2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm chủ yếu sau:
Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn. Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói
chung. vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi
ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và
các khoản đầu tư phát trỉển khác.
Trên phạm vi nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển bao gồm: vốn đầu tư xây
dựng cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.Trong đó, vốn
đầu tư xây dựng cơ bản là quan trọng nhất. Đó là những chi phí bằng tiền để xây
dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hay là khôi phục năng lực sản xuất của tài sản
cố định trong nền kinh tế. Quy mô các dự án đầu tư có lớn hay không thể hiện ở
nguồn vốn đầu tư.
Mặt khác, các dự án đầu tư cũng cần một số lượng lao động rất lớn, đặc

hưởng rất lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.
Đặc điểm thứ tư là các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà
là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được
tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của
các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Các điều kiện tự nhiên của vùng
Nhóm I
4
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
như khí hậu, đất đai có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và vận
hành các kết quả đầu tư. Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa chất
ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong thi công mà cả trong giai đoạn đưa công trình
vào sử dụng, nếu nó không ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượng
công trình. Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra
quyết định và quy mô vốn đầu tư. Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởng
rất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình độ văn
hóa
Một đặc điểm dễ nhận thấy là hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi ro
cao. Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không
gian. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành
các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát
triển thường rất cao, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến buộc các nhà quản lý
và chủ đầu tư cần phải có khả năng nhận diện rủi ro cũng như biện pháp khắc
phục kịp thời. Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả trươc hết cần nhận diện
rủi ro. Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư,các rủi ro về thời tiết ví dụ như
trong quá trình đâu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làm cho các hoạt động thi công
công trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư.
Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào và sản phẩm
đầu ra thay đổi, ví dụ như do thông tin trong sữa Trung Quốc có chất gây bệnh
sỏi thận mà cầu về sữa giảm sút nghiêm trọng, hoạt động đầu tư mở rộng cơ sở

đầu tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư
ở tầm vi mô một cách có hiệu quả.
Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ
các điều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địa
phương. Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoa
học để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải. Cần rõ ràng trong
Nhóm I
6
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
chuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư Một điều cũng rất quan trọng đó là cần
xác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu ra
của dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện pháp
điều chỉnh kịp thời.
2. Trong công tác chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư
2.1Công tác chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai
đoạn sau, đặc biệt là với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Ở giai đoạn này, vấn
đề chất lượng, chính xác kết của kết quả nghiên cứu. Tổng chi phí giai đoạn
chuẩn bị chiếm từ 0,5- 15% vốn đầu tư chảy vào dự án. Làm tốt công tác chuẩn
bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt phần vốn còn lại, tạo cơ sở cho quá
trình hành động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư,
nhanh chóng phát huy hết nguồn lực phục vụ dự kiến.
Quá trình chuẩn bị đầu tư gồm 4 bước: nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên
cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án.
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bị
đầu tư được thể hiện qua các mặt như:
- Với đặc điểm vốn, vật tư lao động cho dự án đầu tư lớn:
Thứ nhất là có giải pháp huy tạo vốn và huy động vốn hợp lý. Các chính

Một trong các yếu tố làm cho thời kỳ đầu tư thực tế thường kéo dài hơn nhiều so
với dự kiến đó là tình trạng thiếu vốn. Chính vì vậy cần có các giải pháp về bố
trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công
trình, bố trí xen kẽ các công việc cần thực hiện nhằm đảm bảo đúng thời gian
hoàn thành dự án.
- Về đặc điểm đầu tư phát triển phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên kinh
tế-xã hội vùng. Trước hết cần nghiên cứu tiềm năng thế mạnh của từng vùng, địa
phương, các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển. Điều này ảnh hưởng rất
lớn đến việc ra quyết định đầu tư. Chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ và lựa chọn địa
điểm đầu tư phù hợp nếu không chủ đầu tư sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro về
nhiều mặt cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội. Do đó, khi lựa chon địa điểm đầu tư
cần dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào hệ thống các chỉ tiêu về tự nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội nhằm khai thác tối đa lợi thế của vùng, nâng cao hiệu
quả vốn đầu tư.
Nhóm I
8
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
- Với đặc điểm đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Cần có biện pháp tổng thể
quản lý rủi ro bao gồm từ việc nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và xây
dựng biện pháp phòng và chống rủi ro, điều này rất quan trọng. Xác định đúng
nguyên nhân rủi ro là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp để
khắc phục. Mặt khác, việc đánh giá xếp thứ tự ưu tiên rủi ro sẽ đưa ra được biện
pháp tối ưu xử lý rủi ro, hạn chế thấp nhất được các thiệt hại có thể có do rủi ro
gây ra trong suốt vòng đời của dự án.
2.2Quá trình thực hiện đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư: Vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 85-
95.5% vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thực hiện đầu
tư. Đây là những năm vốn không sinh lời, thời hạn thực hiện đầu tư cũng kéo
dai, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn. Thời gian thực hiện đầu tư phụ
thuộc nhiều vào công tác chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quá trình

lại tiết kiệm được đáng kể chi phí về vận hành, về nhân công, nguyên vật liệu và
năng lường, góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện đầu tư.
2.3Quá trình vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạt
được các giai mục tiêu của dự án, nếu các két quả do giai đoạn thực hiện đầu tư
tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, tồn tại thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ tại thời
điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và
mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý
hoạt động. Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đầu tư sẽ tạo
thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư.
Thời gian phát huy tác động của các kết quả đầu tư chính là đời của dự án nó
gắn với đời sống của sản phẩm trên thị trưòng.
Đây là giai đoạn thu hồi vốn, dự án có đạt mục tiêu hay không phụ thuộc
vào kết quả hoạt động của giai đoạn này. Giai đoạn vận hành khai thác là giai
đoạn mà hiệu quả khai thác nguồn lực được thể hiện rõ nét phụ thuộc vào năng
lực tổ chức quản lý điều hành. Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển
trong công tác vận hành kết quả đầu tư bỉểu hiện ở các mặt:
Thứ nhất, xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học nhằm có
những bước đi phù hợp trong mỗi giai đoạn cụ thể cả ở cấp vĩ mô và vi mô về
nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung
Nhóm I
10
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
ứng từng năm và toàn bộ vòng đời của dự án. Từ đó nắm bắt được thời cơ để tạo
ra những bứơc nhảy vọt trong đời của dự án.
Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư
vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh các
hao mòn vô hình. Đồng thời cần tuân thủ chiến lược về công suất. Vòng đời sản
phẩm của dự án càng dài thì lợi nhuận thu được càng lớn, do đó hiệu quả đầu tư
càng cao.

khác chiếm khoảng 4,7%.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hôi tăng đáng kể năm 2005 số vốn đầu tư toàn xã
hội là 3.301,780 tỷ đồng; năm 2006 tổng số vốn đầu tư tòan xã hội là 4.027,166
tỷ đồng; và năm 2007 con số đó là 4.851,917 tỷ đồng(tính theo giá trị hiệ hành).
Như vậy trong vòng 3 năm 2005-2007 tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăng
khoảng 46,95%.
Vốn nhà nước tăng liên tục qua các năm;năm 2005 là 1.198,814 tỷ đồng,
năm 2006 là 1.244,303 tỷ đồng, năm 2007 là 1138,762 tỷ đồng. Ngân sách nhà
Nhóm I
12
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển và vốn ngân sách
nhà nước chiếm khoảng 70% vốn nhà nước.Trong ngân sách nhà nước thì nguồn
thu chủ yếu là từ thuế và phí (chiếm tới 90%),tăng trung bình 17%/năm.Trong
đó ngân sách trung ương chiếm khoảng 10%(năm 2007 vốn ngan sách trung
ương là 74,911 tỷ đồng trong tổng ngân sách nhà nước là 778,46 tỷ đồng, chiếm
khoảng 9,624%);ngân sách địa phương đóng góp khoảng 90%(năm 2007 vốn
ngân sách đia phương là 703,549 tỷ đồng, chiếm khoảng 90,376%) .GDP đóng
góp vào ngân sách nhà nứơc khoảng 23.5%.Tỷ lệ đầu tư phát triển chiếm 29.7%
trong tổng vốn ngân sách nhà nước. Nguồn vốn tín dụng đầu tư cũng cố những
chuyển biến tiến bộ, tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn vốn đầu tư tín
dụng Nhà nước xu hướng giảm dần do nhà nước có chủ trương thu hẹp đối
tương cho vay ,hạn chế cho vay theo dự án và đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ lãi suất
đầu tư.Năm 2005 số vốn tín dụng nhà nước là 159,816 tỷ đồng, năm 2006 là
117,554 tỷ đồng,, và năm 2007 là 91,877 tỷ đồng; giảm khoảng 42,5% trong
vòng 3 năm. Nguồn vốn tín dụng từ các nguồn khác tăng lên rất nhanh;năm
2005 là 122,317 tỷ đồng, năm 2006 là 288,165 tỷ đồng;năm 2007 là 221,608 tỷ
đồng; mức tăng khoảng 81,17%.
Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây được
chú trọng, tăng khoảng 78,5%trong vòng 3năm 2005-2007 (năm 2005 là

chức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam.
Thu hút vốn FDI cũng đạt kết quả tích cực khoảng 298,4 nghìn tỷ
đồng,tương ứng khoảng 19.5% nguồng vốn đầu tư phát triển của toàn nền kinh
tế.Trong số 64 nước đầu tư tại Việt Nam ,các nước châu Á chiếm trên 76% số
dự án và trên 70% số vốn đăng kí,trong đó Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc
,Hồng Kông chiếm trên 605 số dự án và đăng kí còn các nước EU chiếm khoảng
16% vê số dự án và 24% số vốn đăng kí,Hoa Kì chiếm khoảng 19.55 số dự án
va 2.7%sô vốn đăng kí.
Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn không nhỏ được chuyển vào
nước ta là kiêu hối chuyển về hang năm .Lượng kiều hố năm 2006 dạt 4.5 tỷ
USDvà năm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.So với tổng
mức ngoại tệ Việt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tăng gần
50%. Nguyên nhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đối với
Việt kiều trong các lĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh. Đặc
biệt gần đây quốc hội thông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại Việt Nam.
Ngoài các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngoài .Tuy
nhiên, lượng vốn này không đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Lượng trái
phiếu chính phủ phát hành ra nước ngoài bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷ đồng.
Nhóm I
14
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
II. Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công
tác đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
1,Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong quản
lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
1.1,Công tác quản lý đầu tư ở cấp độ vĩ mô.
Dựa trên việc nắm bắt các đặc điểm của đầu tư phát triển, ở mức độ vĩ mô
chính phủ đã có những cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư phát triển có
nhiều đổi mới, góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư,
khuyến khích các chủ thể trong nền kinh tế đầu tư.Do nguồn vốn đầu tư phát

băng, bảo đảm đối ứng trong các dự án, đấu thầu và sử dụng tư vấn, kiện toàn và
tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý dự án, cải thiện thủ tục hành
chính và haì hoà hoá các thủ tuch đối với các nhà tài trợ.Các giải pháp thu hút
vốn FDI được chú trọng đẩy mạnh là khâu quy hoạch, nhất là gắn quy hoạch
ngành, sản phẩm với quy hoạch vùng, nâng cao chất lượng và tính khả thi của
danh mục ưu tiên gọi vốn FDI.Liên quan đến giải pháp về cơ chế chính sách vĩ
mô, Chính phủ yêu cầu các ngành chức năng khi soạn thảo, bổ sung, sữa đổi
chính sách, luật phấp phải tính đến tác động của chúng tới FDI, bảo đảm tính
nhất quán, thông thoáng hơn và áp sát hơn với cac quy định của tổ chức WTO.
Các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế, đất sẽ đặc biệt quan tâm đến các nhà đầu
tư đã có dự án đang hoạt động tại Việt Nam, đồng thời cũng có nhưng quy chế
riêng đói với các công ty xuyên quóc .
Tuy nhiên trong quản lý công tác đầu tư ở cấp vĩ mô cũng còn một số hạn
chê.Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn.
Tuy nhiên thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam thì chưa cao.
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “ Việt Nam, tồn tại một nghịch lý là
nước nghèo nhưng không biết tiêu tinền hợp lý,gây lãng phí”.Chúng ta chưa
quan tâm đầy đủ việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách,
nguồn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài và ODA. Đầu tư trong nướ là một
nguồn lực tốt ,thậm chí năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn FDI. Hầu hết
đầu tư trong nước là các DN tư nhân,các cá nhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc
đẩy hiệu quả càng cao càng tốt.Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn
còn hạn chế do tác động chung của cac nguôn lực khác: Cơ chế chính sách, vấn
đề cơ sở hạ tầng và cả những ưu đãi lớn dành cho DN nhà nước. Đáng ra, tư
Nhóm I
16
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
nhân có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn rất nhiều.Tất nhiên không phủ
nhận sự yếu kém của DN tư nhân trong nước, nhưng yếu tố quan trọng chính là
môi trường kinh doanh còn quá nhiều nhân tố bất ổn, do chính nhà nước tạo

khoảng rất hệp . Điều đó có thể ký giải được trên cơ sở việc nhiêu nhà thầu
thường căn cứ vào các định mức về giá đựơc quy định chính thức vì phần lớn là
các DNNN.
Nhiêu chủ đầu tư ở Việt Nam do chưa có các giải pháp, nhận dạng và
phòng ngừa rủi ro thích hợp, nên khi đứng trước những biến động của thị trường
lạm phát cao, giá nguyên vật liệu, lãi suất tăng cao ( kể từ cuối năm 2007) gần
như đứng trước nguy cơ phá sản, nhiều công trình thi công bị bỏ dở dang do chủ
đầu tư không huy động được nguồn vốn.Qua đó cồn thể hiện sự non kém trong
năng lực quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp. 2.Những mặt được
và hạn chế trong việc quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển ở Việt
Nam.
2.1,Những mặt được của công tác đầu tư phát triển.
Thư nhất là, huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển trong những
năm qua tăng khá .Hàng năm vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng khoảng
18%, nhờ đó, tỷ lệ vốn đầu tư so với GPD không ngừng gia tăng…Nguồn thu từ
ngân sách nhà nước đã có tác động thu hút các nguồn vốn khác.Trong điều kiện
nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp, chính phủ dẫn thực thi nhiều cơ chế để tăng
cường thu hút đầu tư từ khu vực khu vực kinh tế tư nhân trong nước và nước
ngoài, huy động nguồn vốn công trái , trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị, trái
phiếu công trình góp phần tăng nhanh tổng nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy kinh tế
phát triển.
Thứ hai là ,cơ cấu đầu tư đã có sự chuyển dịch, tập trung vào các mục
tiêu quan trọng về phát triển kinh tế -xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Do các nguồn lực được huy động tốt hơn và tập trung đầu tư vào các công trình
chủ yếu, quan trọng trong các ngành, lĩnh vực và địa phương, đầu tư chuyển đổi
mạnh cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả và phát huy được lợi thế của từng
vùnh, từng ngành, từng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế;
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh tế nông thôn; đầu tư
theo chiều sâu, bổ sung các thiết bị công tiên tiến trong các ngành công nghiệp,
xây dựng và chuẩn bị xây dựng một số cơ sở công nghiệp,kết cấu hạ tầng kỹ

trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với thị trường thế giới.
Chính phủ tiêp tục nỗ lực để tạo môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn
hơn, cởi mở minh bạch và thông thoáng hơn. Các bộ,ngành, địa phương đang
Nhóm I
19
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
thực hiện các biện pháp chỉ đạo hữu hiệu của thủ tướng Chính phủ về kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững
bằng nhiều biện pháp như bộ Kê hoạch và đầu tư đã triển khai công tác địa
phương thực hiện việc điều hành đầu tư xây dựng cơ bản và chi tiêu ngân sách
nhà nước nhằm phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát và các đoàn công tác thúc
đẩy việc giải ngân nguồn vốn FDI.
2.2,Những mặt chưa đựợc của công tác quản lý đầu tư phát triển của
Việt Nam.
Một là, chưa huy động hết tiềm năng các nguồn vốn cho đầu tư phát
triển của nền kinh tế. Nhiều bộ, ngành địa phương chưa chú trọng huy động
các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước mà chủ
yếu vẫn trông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn khác tham
gia vào đầu tư, đặc biệt là khu vực thư nhân còn hạn chế rất lớn về quy mô, nhất
là đầu tư những công trình cơ sở hạ tầng có khả năng thu hồi vốn.
Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn những hạn chế ,chưa
phục hồi được tốc độ huy động cao như những năm trước đây .Hầu hết các dự
án dược cấp giấy phép gần đây đều có quy mô nhỏ; môi trường đầu tư tuy đã
được cải thiện nhiều,nhưng mức độ cạnh tranh so với các nước trong khu vực
chưa cao và vẫn còn nhièu bất cập như: một số chính sách hay thay đổi và khó
dự báo trước,có tình trạnh cạnh tranh chưa hợp lý trong việc thu hút nguồn vốn
đầu tư nước ngoài giữa các địa phương.
Khối lượng giải ngân nguồn vốn ODA đật thấp so với kế hoạch, hàng năm
chỉ đạt khoảng 80-90% mức đề ra. Sau 10 năm kêu gọi nguồn vốn ODA, đến
nay mới giải ngân dược khoảng 13,5 tỷ USD trên tổng số 25 tỷ USD cam kết; tỷ

khăn chưa được đầu tư thoả đáng để phát huy hiệu quả chung; đầu tư phát triển
phưong tiện vận tải còn thấp. Đầu tư cho lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực còn
thấp ,chưa gắn chặt với chiến lược phát triển các ngành kinh tế, các vùng kih tế.
Cơ cấu vùng:mặc dù những năm qua đã có cố gắng điều chỉnh cơ cấu đầu
tư giữa các vùng, nhưng tỷ lệ đầu tư cho vùng núi phía Bắc, duyên hải miền
Trung, vùng tây nguyên vẫn còn khiêm tốn (chỉ ở mức 8-12% tổng mức đầu tư
toàn xã hội) vốn đầu tư vẫn tập trung cao ở các vùng đồng bằng sông Hồng
(khoảng 24%) các vùng Đông Nam bộ (27%). Đầu tư cho các liên vùng liên tỉnh
còn kém, bị chia cắt bởi giới hành chính địa phương.
Nhóm I
21
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
Các công trình, dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước giải
ngân chậm,thời gian thực hiện dự án kéo dài, nợ quá hạn chưa trả được có xu
hướng tăng, ảnh hưởng đến cân đối nguồn vốn; chất lượng công tác thẩm định
các dự án vay vốn tại hệ thống quỹ hỗ trợ phát triển còn nhiều bất cập so với yêu
cầu, đặc biệt là sự dự báo sự biên động của thị trường, ảnh hưởng đến việc xác
định hiệu quả của dự án.
Ba là, công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém,
chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Chất lượng các dự án quy họach phát
triển kinh tê -xã hội còn nhiêù hạn chế, các dự án quy hoạch chưa có tầm nhìn
dài hạn, chưa có đủ căn cứ vững chắc, nhất là các thông tin về dự báo, dự báo cá
tác động của các yếu tố bên ngoài như thị trường thế giới, tiến bộ khoa học công
nghệ, sự cạnh tranh của các quốc gia và doanh nghiệp
Quản lý nhà nước về quy hoạch còn nhiều yếu kém mà biểu hiện rõ nhất là
phân công, phân cấp không rõ ràng thiếu một khung pháp lý cho viêc lập, phê
duyệt, quản lý quy hoạch, thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất về cả vấn đề
liên quan đến công tác quy hoạch trong phạm vi cả nước, thiếu kiểm tra, giám
sát thực hiện quy hoạch.
Nhiều cơ quan nhà nước, nhiều cá nhân có trách nhiệm chưa quan tâm

có trường hợp quy hoạch có chất lượng vẫn được thông qua.
Bốn là, bố trí đầu tư còn dàn trải. Nhìn chung , bố trí đầu tư còn rất dàn
trải, phân tán thể hiện ở tất cả các nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn đầu tư thuộc
ngân sách nhà nước. Những năm gần đây đã có những tiến bộ bước đầu ( tập
trung choc ac dự án thuộc nhóm A); tuy nhiên nhiều bộ, ngành và nhiều địa
phương vẫn cồn tình trạng bố trí vốn chua tập trungchủ yếu là đối các công
trình, dự án nhóm B và C.
Số công trình dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước sau nhiều
năm trước. Năm 2001 khoảng 7000 dự án; năm 2002 tăng lên trên 8000 dự án
,năm 2003 tăng lên 10500 dự án (tăng khoảng 2500 dự án so với năm 2002).
Nguyên nhân của tình trạng trên là;
Về phía trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương: nhu cầu đầu tư còn
có khoảng cách rất lớn so với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước, khi bố
trí cụ thể bị căng kéo bởi quá nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, khi xem xét để quyết
định dự án đầu tư mới chưa chấp hành đúng các quy định trong việc xết duyệt
Nhóm I
23
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
một dự án đầu tư. Nhiều dự án chưa được xem xét kỹ hiệu quả, tính khả thi
thấp.Trên thực tế, số lượng dự án các Bộ, ngành và địa phương phê duyệt đã
không phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước. Ngoài ra việc bố
trí phân bổ đầu tư cho các dự án không loại trừ có trương hợp do nể nang , do
quan niệm vốn ngân sách phải chia đều giữa các huyện, xã dẫn đến tình trạng
đầu tư phân tán, dàn trải.
Về trách nhiệm của cơ quan quản lý; còn buông lỏng trong công tác quản
lý đầu tư và xây dựng. Việc phân cấp quản lý trong đầu tư và xây dựng cho các
bộ, ngành và địa phươngđã thực hiện tương đối mạnh. Tuy nhiên, cơ chế quản
đầu tư và xây dựng còn thiếu các chế tài,những quy định cụ thể (kể cả nhưng
biện pháp hành chính )nhằm kiểm soát và hạn chế được việc phê duyệt các dự
án đầu tư tràn lan, kém hiệu quả.

sát tới việc tiết kiệm vốn đầu tư; nhiều dự án thiết kế phô trương hình thức
không phù hợp với thực tế sử dụng. Nhiều dự án không tuân theo quy hoạch,
đièu tra khảo thị trường không kĩ, chưa quan tâm sâu sát tới đầu ra của sản
phẩm,dự án hoàn thành nhưng không phát huy được hiệu quả. Ngoaì ra trình độ
năng lực quản lý, điều hành của các chủ đầu tư, của ban quản lý dự án, các tổ
chức tư vấn cồn yếu kém cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát vốn đầu
tư.
Sáu là, tình hình nợ đọng trong đầu tư và xây dựng còn là vấn đề bức
xúc. Nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản đang là vấn đề bức xúc hiện nay,
vượt quá khả năng cân đối của ngân sách, chưa được xử lý dứt điểm.Do nhiều
nguyên nhân khác nhau, tình hình thực hiện vượt kế hoạch vốn đầu tư xây dựng
cơ bản của các Bộ, ngành và địa phương vẫn tiếp diễn và có hướng tăng (sau khi
rà soát lại, số nợ vẫn còn trên 5 nghìn tỷ đồng, trug ương khoảng 2 nghìn tỷ
đồng, địa phương khoảng 3 nghìn tỷ đồng)
Nguyên nhân của tình trạng nợ đọng:
Khả năng cân đối nguồn vốnn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn rất hạn
hẹp, chỉ đáp ứng được từ 40-50% nhu cầu; do sự cấp bách phải thực hiện một số
mục tiêu quan trọng của các địa phương, một số công trình, dự án thuộc các
ngành thuỷ lợi, giao thông phải khẩn trương thi công trước mùa mưa lũ, phải
vay mượn hoặc ứng trước vốn để thi công.Do đặc thù của các công trình, dự án
thuộc hạ tầng giao thông vận, thuỷ lợi bên A,cơ quan cấp phát vốn,cơ quan kiểm
Nhóm I
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status