Báo cáo nghiên cứu khoa học: "KHẢO SÁT HÀNH VI LỜI NÓI MỜI TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT" - Pdf 19

KHẢO SÁT HÀNH VI LỜI NÓI MỜI TRỰC TIẾP
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
AN INVESTIGATION INTO SPOKEN DIRECT INVITATIONS
IN ENGLISH AND VIETNAMESE LƯU QUÝ KHƯƠNG
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Mời là một hành vi lời nói rất phổ biến trong giao tiếp hàng ngày. Bài này khảo sát những đặc
trưng ngữ nghĩa, cú pháp, của hành vi lời nói mời trực tiếp (LMTT) trong tiếng Anh và tiếng
Việt, đưa ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa LMTT trong hai ngôn ngữ nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả việc dạy, học và dịch các phát ngôn mời trực tiếp trong tiếng Anh và
tiếng Việt.
ABSTRACT
Inviting is a very popular speech act used in daily communication. From a contrastive analysis
view, this paper examines the syntactic and semantic features of spoken direct invitations in
English and Vietnamese. Also, the paper same indicates the similarities and differeces
between English and Vietnamese in terms of direct invitations to enhance the effectiveness of
teaching, learning and translating this kind of speech act. 1. Đặt vấn đề
Mời là một hành vi lời nói rất phổ biến trong giao tiếp hàng ngày. Lời mời thay đổi tuỳ
theo tình huống, các mối quan hệ, giới tính của những người có liên quan trong cuộc thoại.
Xét các ví dụ sau:
(1) Em đi có một mình à? Thọ ngập ngừng. Ta vào kia uống cà phê đi.
[28:61]
(2) Này anh, trời cũng đang mưa, nếu anh không tìm ông Cương kia, tôi mời anh đi uống

và tiếng Việt Trong tiếng Việt, Chu Thị Thanh Tâm [9] xác định các tiêu chí của đoạn thoại
mời.Nguyễn Văn Lập [5] khảo sát các yếu tố chi phối lời đáp trong tiếng Việt thông qua một
số nghi thức lời nói (etiquette). Rõ ràng, còn nhiều điều có thể bàn bạc liên quan đến lời mời
và cách đáp lại đặc biệt là những nghiên cứu từ cái nhìn so sánh, đối chiếu.
3. Khái niệm về hành vi lời nói mời
3.1. Định nghĩa về mời
Theo Từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary [6:685], “Mời là yêu cầu ai đến
dự một sự kiện có tính xã hội”, hay, “yêu cầu ai đi đâu hay làm gì một cách trân trọng ”, ví dụ:
(5) Would you like to see a tennis march with me on Sunday ?
(Cậu có muốn đi xem một trận đâú quần vợt với mình vào ngày chủ nhật này không ?)
Tương tự, ”, Từ điển Tiếng Việt [15:624] định nghĩa “Mời” là “tỏ ý mong muốn, yêu
cầu người khác làm việc gì một cách lịch sự, trân trọng”, ví dụ:
(6) Mời anh đến chơi.
3.2. Hành vi lời nói mời trực tiếp
Theo Nguyễn Thị Kim Quy [10:43] “LMTT thường dùng với các động từ ngữ vi như
“mời” trong tiếng Việt hoặc “invite” trong tiếng Anh, hoặc có dạng tương tự như lời yêu cầu
hoặc ra lệnh”, ví dụ:
(7) “I would like to invite you to the final ceremony of our language program next Friday
evening at 8:00.” [16:138]
(Mình muốn mời cậu đến dự buổi lễ bế giảng khoá học tiếng vào lúc 8 giờ tối thứ sáu
tuần đến.)
“Mời đồng chí xơi cơm dưa muối với anh em chúng tôi đã.” [23:25]
4. LMTT trong tiếng Anh
4.1. Đặc điểm ngữ nghĩa chung
LMTT trong tiếng Anh đề cập ngay vào nội dung thông điệp người mời muốn chuyển
đến người nghe. Do vậy, người nghe hiểu ngay mà không phải suy diễn. Tuy nhiên, ngoài
những phát ngôn mời có động từ ngữ vi, những phát ngôn mời trực tiếp khác như quan niệm
trong bài này có bản chất là các câu yêu cầu hay mệnh lệnh, trong chừng mực nào đó là các
hành động có khả năng đe doạ lãnh địa hay thể diện âm (negative face) của người nghe
[5:149].

trong tiếng Việt là các phát ngôn có chứa động từ ngữ vi như “mời” hoặc là phát ngôn có
dạng tương tự như lời yêu cầu hoặc ra lệnh”. Ví dụ:
(12) “Mời đồng chí xơi cơm dưa muối với anh em chúng tôi đã.” [23:25]
5.1. Đặc điểm ngữ nghĩa chung
LMTT trong tiếng Việt luôn luôn đi thẳng vào hành vi mời không quanh co hoặc người
nghe không phải hiểu nó thông qua một hành động ngôn ngữ khác. Xét các phát ngôn sau đây:
(13) “Mời bà sang ngay, chú con đợi mãi rồi” [29:495]
Khi đọc hay nghe các câu trên ai cũng hiểu đây là những lời mời mà không cần phải
qua một thao tác suy ý nào cả.
5.2.Cấu trúc LMTT trong tiếng Việt
337 phát ngôn mời trong khối liệu tiếng Việt cho thấy LMTT tiếng Việt có những dạng
dưới đây.
5.2.1. LMTT có cấu trúc câu ngôn hành
Nét khu biệt cơ bản của loại lời mời này so với các dạng lời mời khác là trong cấu trúc
của nó có chứa động từ ngữ vi “mời”.
(14 ) “Rồi bà ngồi xuống ghế, bảo Mai:
- Mời cô ngồi.” [20:91]
Câu ngôn hành biểu thị hành vi mời trực tiếp có thể có các dạng
sau:
a. Câu ngôn hành không có chủ ngữ (người mời)
(15) “-Oanh: Chào đồng chí y tá.
-Giao: Không dám, chào cô Oanh, mời cô vào chơi ” [23:106]
Thậm chí chỉ là một từ hay cụm từ ngắn:
(16) “- Uống chứ! Nào! Mời ” [21: 137]
(17) “- Long: Mời vào.” [27:41]
b. Câu ngôn hành có chủ ngữ (người mời)
(18) “ Cháu mời chú cùng đi về nhà cháu ăn cơm với cha mẹ cháu, anh em cháu ….”
[25:24]
(19) “ Nhà sẵn có chai rượu, tôi xin mời mỗi người một cốc.” [24:92]
Trong nhiều trường hợp, nhằm biểu lộ sự trọng thị của người mời đối với người được

có chủ ngữ, câu chỉ có mình động từ ngữ vi.
d. LMTT trong tiếng Việt ít đe doạ thể diện người nghe hơn LMTT tiếng Anh. Có thể
giải thích hiện tượng này như sau:
- Trong tiếng Việt bản thân động từ “mời” đã chứa tính lịch sự rất cao. Sắc thái lịch sự
còn tăng lên khi tuỳ vào hoàn cảnh, mối quan hệ liên nhân với người nghe mà người mời đưa
vào trước từ “mời” những từ như “kính”, “xin”, “trân trọng kính”, “xin trân trọng kính”, “có
nhã ý” Những biến thể trên cộng với các biến thể của câu ngôn hành vừa trình bày ở trên
làm cho LMTT trong tiếng Việt uyển chuyển, linh hoạt có khả năng tải nhiều tình huống giao
tiếp với các yêu cầu về lịch sự khác nhau của người dùng.
- Trong tiếng Anh động từ “invite” xuất hiện trong một số mẫu câu rất hạn chế để tạo
ra hành vi lời nói mời lịch sự. Đó là các mẫu câu với “ would like to invite ”. Còn cấu trúc
mời trực tiếp là câu mệnh lệnh dễ đe doạ thể diện âm của người nghe.
7. Kết luận
“Mời” là một hiện thực ngôn ngữ trong mọi nền văn hoá. “Mời” thể hiện mối quan tâm
chia sẻ với người khác, giúp cũng cố mối quan hệ và làm cho cuộc sống thêm đa dạng và
phong phú. Tuy nhiên, cung cách mời bị chi phối bởi niềm tin, phong tục của nền văn hoá,
trạng thái tâm lý của người đưa ra lời mời và mối quan hệ giữa những người tham gia cuộc
thoại. Trên cơ sở lý thuyết lịch sự của Brown và Levinson [2] và thuyết hành vi ngôn ngữ của
Austin [1], bài này khảo sát LMTT trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ cái nhìn sosánh, đối
chiếu, bài viết nêu ra một số điểm giống nhau và khác biệt giữa LMTT trong hai ngôn ngữ,
trong đó sự khác biệt chiếm ưu thế. Do phạm vi của một bài viết, nhiều vấn đề khác của lời
mời như lời mời gián tiếp, cách đáp lại lời mời trong hai ngôn ngữ cũng như cách biểu hiện
của lời mời dưới tác động của các thông số như giới tính, tuổi tác, quyền lực xã hội xin dành
lại cho những bài viết sau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Austin, J.L. (1962), How to Do Things with Words, Oxford University Press.
[2] Brown, P. and Levinson, S. (1987), Politeness: Some Universals in Language Usage,
Cambridge University Press.

[4] Khái Hưng (1999), Nửa chừng xuân, Nxb Văn nghệ Tp.HCM.
[5] Nam Cao (2006), Sống Mòn, Nxb Hội Nhà văn.
[6] Nguyễn Công Hoan (2004), “Đống rác cũ”, Văn học Việt Nam thế kỉ XX- Quyển hai-
Tập XII, Nxb Văn Học.
[7] Nguyễn Khải (2004), “Chiến sĩ”, Nguyễn Khải tiếu thuyết 3, Nxb Hội Nhà Văn.
[8] Nhất Linh (2000), Đoạn tuyệt, Nxb Khoa học xã hội.
[9] Sơn Tùng (1999), Bông Sen Vàng, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.
[10] Thackeray, W. M. (1948), Vanity Fair, The Zodiac Press, London. (Trần Kim dịch:
Hội chợ phù hoa, Nxb Văn học, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội (1988)).
[11] Thu Trân (2003), “Thu của ngàn năm trước”, Văn nghệ Quân đội số 625 – 7.
[12] Trần Chiến (2000), ‘Nỗi sợ’, Truyện ngắn hay Việt Nam, (Tập 4), Nxb Hội Nhà văn.
[13] Vũ Trọng Phụng (2004), “Tết cụ Cố”, Vũ Trọng Phụng toàn tập, Tập 5, Nxb Văn Hóa.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status