Thiết kế bài giảng ngữ văn 10 tập 1 part 6 doc - Pdf 19

236
3. Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
a) Hoàn cảnh lịch sử xã hội
GV trình bày nhanh theo SGK:
Nội chiến phong kiến tiếp tục gay gắt, kéo dài; phong trào nông dân khởi
nghĩa sôi sục, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn, diệt Trịnh Nguyễn, diệt
Xiêm, Thanh, thống nhất đất nớc.
Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn khôi phục vơng triều phong kiến chuyên
chế. Đất nớc trớc hiểm hoạ xâm lợc của thực dân Pháp.
Văn học phát triển vợt bậc, rực rỡ văn học cổ điển.
b) Nội dung
GV hỏi:
Nêu tên một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn này, từ đó khái
quát chủ đề và cảm hứng chủ đạo của văn học là gì.
Những nội dung cụ thể của chủ đề ấy? Đỉnh cao nhất của văn học cổ điển
trung đại Việt Nam gia đoạn này là gì?

HS lựa chọn, phát biểu.
Định hớng:
Chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng nhân đạo nhân văn:
Tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, đấu tranh đòi giải phóng con
ngời cá nhân:
Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm
Hoàng Lê nhất thống chí
Truyện Kiều
Thơ Cao Bá Quát
Nguyễn Công Trứ.
c) Nghệ thuật:
Phát triển mạnh và khá toàn diện cả chữ Hán, chữ Nôm, cả văn vần, văn
xuôi. Đặc biệt văn học chữ Nôm càng đợc khẳng định và đạt tới đỉnh cao:
thơ Nôm, ngâm khúc, truyện thơ có danh và khuyết danh

hớng hiện đại hoá.
(Hết tiết 34, chuyển tiết 35)

III. Những đặc điểm lớn về nội dung
GV nêu vấn đề:
Văn học trung đại Việt Nam phát triển dới sự tác động của những yếu
tố nào?
Những nội dung cảm hứng xuyên suốt và chủ đạo của văn học trung đại
là gì và đợc cụ thể hoá nh thế nào?
Định hớng: Truyền thống dân tộc; Tinh thần thời đại; ảnh hởng từ
Trung Quốc.
238
1. Chủ nghĩa yêu nớc
GV hỏi:
Cảm hứng yêu nớc trong văn học trung đại gắn liền với t tởng gì?
Trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, t tởng ấy có sự khác nhau
nh thế nào?
Tìm và phân tích một vài tác phẩm minh hoạ.

HS làm việc theo nhóm, phát biểu ý kiến đại diện.
Định hớng:
Đó là cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt cả quá trình tồn tại và phát triển của
văn học trung đại Việt Nam, nhng trong mỗi giai đoạn khác nhau cũng có
những biểu hiện khác nhau.
Gắn liền với t tởng trung quân nh một tất yếu lịch sử trong xã hội
phong kiến: Yêu nớc là trung với vua và ngợc lại trung với vua là yêu nớc.
Nớc là vua vua là nớc.
Cảm hứng phong phú, đa dạng: hào hùng khi chiến đấu và chiến thắng
(Hịch tớng sĩ, Đại cáo bình Ngô); bi tráng khi nhà tan nớc mất (cuối thế kỉ
XIX) thể hiện ở ý thức độc lập tự chủ, tự cờng tự hào dân tộc, tinh thần căm

Phải có danh gì với núi sông!
(Nguyễn Công Trứ)
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
(Hồ Xuân Hơng)
Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết
Trớc sân vẫn nở một nhành mai.

(Mãn Giác Thiền s)
3. Cảm hứng thế sự
Nội dung: phản ánh hiện thực xã hội, cuộc sống đau khổ của nhân dân
Cảm hứng lớn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những bài thơ viết
về thói đời:
Thế gian biến cải vũng nên đồi
Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm, hết rợu, hết ông tôi.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
+ Thơng kinh kí sự, Vũ trung tuỳ bút, nhà thơ làng cảnh nông thôn
Nguyễn Khuyến:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
240

IV. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật
1. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm
a) Tính quy phạm là gì?
Là đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam.
Là sự quy định chặt chẽ, đến mức thành khuôn mẫu.
b) Nội dung của tính quy phạm:

Đìa thanh, phạt cỏ, ơng sen.
(Nguyễn Trãi)
Chém cha cái số lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng.
(Hồ Xuân Hơng)
Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
(Nguyễn Khuyến)
Tôi hỏi thăm ông tới tận nhà
Trớc nhà có quán, có cây đa.
(Tú Xơng)
3. Tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nớc ngoài
Đó là quy luật phát triển của ăn học trung đại Việt Nam.
Tiếp thu văn học Trung Quốc ở: ngôn ngữ (chữ Hán), thể loại; trong cả
văn xuôi và văn vần; thi liệu: điển cố văn học lịch sử Trung Quốc (sân lai,
gốc tử, chày sơng cầu lam, Kỉ Tín Cao đế, Do Vu Chiêu Vơng )
Quá trình dân tộc hoá hình thức văn học:
+ Sáng tạo và sử dụng chữ Nôm
+ Việt hoá thơ Đờng luật
+ Sáng tạo các thể thơ dân tộc
+ Thi liệu Việt Nam
Kết luận:
+ Văn học trung đại gắn bó với lịch sử, với vận mệnh đất nớc và nhân
dân Việt Nam.
+ Góp phần làm nên diện mạo hoàn chỉnh, đa dạng của văn học Việt
Nam.
+ Tạo tiền đề và cơ sở vững chắc cho sự phát triển của văn học Việt Nam
trong những thời kì tiếp theo.
242
Hoạt động 4

GV dẫn vào bài: Các em đã học hai bài:
Bài 1: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Bài 9: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Hôm nay, các em học tiếp:
Bài 12: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Cần phải thấy rằng ba bài này có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, vì:
Thứ nhất, con ngời phải thờng xuyên giao tiếp bằng ngôn ngữ để trao
đổi thông tin, trao đổi t tởng tình cảm và tạo lập quan hệ với nhau.
Thứ hai, trong xã hội loài ngời luôn có hai hình thức giao tiếp bằng
ngôn ngữ là "nói" và "viết", trong đó "nói" là hình thức phổ cập nhất mà bất
kì ai cũng có thể thực hiện đợc.
Thứ ba, giao tiếp bằng hình thức "nói" chính là "phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt" (còn gọi là "khẩu ngữ", "ngôn ngữ nói", "ngôn ngữ hội thoại").
Thao tác 2
GV yêu cầu HS đọc to, rõ, chậm, có ngữ điệu phù hợp đoạn ghi chép ở
mục I.1 trong SGK và trả lời các câu hỏi:
1. Cuộc hội thoại diễn ra trong không gian, thời gian nào?
2. Các nhân vật giao tiếp là những ai và quan hệ giữa họ nh thế nào?
3. Nội dung, hình thức và mục đích của cuộc thoại là gì?
4. Ngôn ngữ trong cuộc thoại có đặc điểm gì?
GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
1.
Không gian: tại khu tập thể X.
Thời gian: buổi tra.
2.
Các nhân vật chính, có quan hệ bạn bè (bình đẳng về "vai giao tiếp"):
Lan, Hùng, Hơng.
Các nhân vật phụ, có quan hệ ruột thịt hoặc quan hệ xã hội ("vai" bề
trên, lớn tuổi hơn ba bạn Lan, Hùng, Hơng): một ngời đàn ông, mẹ Hơng.
3.

Hoạt động 2
Hớng dẫn luyện tập
a) Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
"Chẳng mất tiền mua": tài sản chung của cộng đồng dân tộc, ai cũng có
quyền sử dụng.
"Lựa lời": nhấn mạnh đến khía cạnh lựa chọn, tức là dùng lời nói một
cách có suy nghĩ, có ý thức và phải chịu trách nhiệm về lời nói của mình.
245
"Vừa lòng nhau": tôn trọng ngời nghe để tìm ra tiếng nói chung,
không xúc phạm ngời khác nhng cũng không a dua với những điều sai trái.
* Tóm lại, câu này lu ý chúng ta phải nói năng thận trọng và có văn hoá.

Vàng thì thử lửa thử than,
Chuông kêu thử tiếng, ngời ngoan thử lời.
+ "Vàng" là vật chất, có thể dễ dàng kiểm tra bằng các phơng tiện vật
chất và sẽ cho một kết luận tờng minh.
+ "Chuông" là vật chất, cũng có thể dễ dàng kiểm tra chất lợng bằng
một thao tác đơn giản và cũng sẽ cho một kết luận tờng minh.
+ "Ngời ngoan" là nhấn mạnh đến khía cạnh "phẩm chất và năng lực"
vốn khá trừu tợng của con ngời, muốn "đo" những thứ đó thì cần phải có
thời gian và phải bằng nhiều cách, mà một trong những cách có thể "đo" đợc
là "thử lời", tức là thông qua hoạt động giao tiếp bằng lời nói, chúng ta có thể
biết trình độ, nhân cách, quan hệ, của "ngời" là "ngoan" hay "không
ngoan".
b) Nhận xét về dạng ngôn ngữ sinh hoạt và cách dùng từ trong đoạn trích
sau:
"Ông Năm Hên đáp:

Sáng mai sớm, đi cũng không muộn. Tôi cần một ngời dẫn đờng đến

1. Kiến thức t tởng: Cảm nhận đợc vẻ đẹp của con ngời và thời đại
thời Trần, thế kỉ XIII qua hình tợng trang nam nhi với lí tởng và nhân cách
lớn lao, sức mạnh và khí thế hào hùng: sự nghiệp công danh của cá nhân
thống nhất với sự nghiệp chung, sự nghiệp cứu nớc, cứu dân, quyết chiến
quyết thắng. Đó chính là tinh thần, khí phách của Hào khí Đông A. Nghệ
thuật thơ tỏ chí hàm súc, đầy sức gợi, xây dựng hình tợng nhân vật trữ tình
lớn lao, hoành tráng mang tầm vóc sử thi.
2. Tích hợp với lịch sử, xã hội đầu đời Trần, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
Đờng luật, bài thơ thất ngôn bát cú chữ Nôm Bảo kính cảnh giới

số 43.
3. Rèn kĩ năng đọc hiểu thơ tứ tuyệt Đờng luật theo cách phân tích hai
nửa tiền giải, hậu giải của Kim Thánh Thán.
B. Chuẩn bị của thầy v trò
Phóng to bài thơ chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ lên màn hình.
C. Thiết kế dạy học
Hoạt động 1
Tổ chức kiểm tra bài cũ
(Hình thức: vấn đáp)
ở lớp 7 THCS, về thời Trần, em đã học bài thơ tứ tuyệt nào, của ai?
Đọc thuộc lòng bài thơ đó (bản dịch, nếu có thể đọc cả phiên âm chữ Hán).
248
Bài thơ thuộc loại thơ nào về nội dung, về hình thức thể loại?
Em hiểu thế nào là Hào khí Đông A?
Hoạt động 2
Dẫn vào bài mới
Thơ văn đầu thời Trần của các vua quan tớng sĩ đều toát lên hào khí
Đông A: Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hng Đạo, Trần Quang
Khải Thuật hoài của tớng quân Phạm Ngũ Lão con rể Trần Hng Đạo là
một trong những bài thơ nh thế.

1. Hình tợng con ngời thời Trần (2 câu đầu)
HS đọc lại hai câu đầu.
GV hỏi: So sánh với nguyên tác, qua bản phiên âm và bản dịch nghĩa,
nhận xét: cụm từ múa giáo và hoành sóc; Khí thôn ngu và nuốt trôi trâu, át
sao ngu.

HS làm việc cá nhân, phát biểu.
Định hớng:
Cách dịch cha thật hoàn toàn chuẩn xác: hoành sóc không phải là múa
giáo mà là cầm ngang ngọn giáo, có bản dịch là cắp giáo. Có lẽ ngời dịch
múa giáo cho hợp với luật thơ thất ngôn chăng?
Câu thứ hai có hai cách hiểu. Vì ngu có thể hiểu là trâu (con) hoặc là
sao ngu (tên một vì sao theo truyền thuyết phơng Đông). Đọc chệch là
ngâu. Hiểu theo cách nào cũng đều có lí:
+ Khí thế hào hùng của ba quân xông lên đến tận trời, làm át, làm mờ cả
sao ngu.
+ Khí thế hùng mạnh của ba quân nh hổ báo có thể nuốt trôi cả con trâu.
GV hỏi:
Vẻ đẹp của viên tớng anh hùng thời Trần (có thể chính là chân dung tự
hoạ của Phạm Ngũ Lão) đợc thể hiện nh thế nào ở câu thơ đầu?
Định hớng:
+ ở t thế, tầm vóc lớn lao, kì vĩ, mang tầm vũ trụ.
+ Hình ảnh dũng tớng oai phong lẫm liệt, cầm ngang ngọn giáo bảo vệ
non sông đất nớc. Độ dài ngọn giáo đo bằng kích thớc núi sông. Con ngời
xuất hiện với t thế hiên ngang, hào hùng, mang tầm vóc vũ trụ kì vĩ nh át
cả không gian bát ngát. Không gian mở ra cả hai chiều: rộng: non sông đất
nớc; cao: lên đến tận sao ngu trên trời. Thời gian không phải là một tháng,
một năm mà đã mấy mùa thu, đã mấy năm rồi
GV hỏi: Giải thích từ ba quân. Mối quan hệ giữa câu 1 và câu 2 nh
thế nào?

(Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng).
Công danh và sự nghiệp đợc coi là món nợ đời phải trả của ngời đàn
ông; nghĩa là phải lập công, giơng danh, để lại sự nghiệp tiếng thơm cho đời,
cho dân cho nớc. Chí làm trai có tác dụng cổ vũ con ngời từ bỏ lối sống
tầm thờng, ích kỉ, cá nhân, sẵn sàng hi sinh, chiến đấu cho sự nghiệp cứu
nớc, trung quân để cùng trời đất muôn đời bất hủ.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, chí làm trai trở thành lí tởng tích cực có tác
dụng to lớn đối với con ngời và xã hội.
251

GV nêu tiếp vấn đề:
+ Nhng tại sao tác giả lại thẹn (tu) khi nghe dân gian kể chuyện
Vũ Hầu?
+ Sự hổ thẹn ấy có ý nghĩa gì?

HS suy luận, liên hệ, trình bày ý kiến.
Định hớng:
Kể vắn tắt chuyện Vũ Hầu Khổng Minh Gia Cát Lợng, bậc kì tài, hiền
thần, vạn đại quân s nổi tiếng tài đức thời Tam quốc (Trung Quốc), từ một
trai cày đất Nam Dơng, giúp Lu Bị lập nên sự nghiệp lớn.
Tự thấy hổ thẹn trớc tấm gơng tài đức lớn lao ấy vì cha trả đợc nợ
công danh cho nớc, cho đời.
Đó là cái tâm chân thành và trong sáng của ngời anh hùng. Đó là nỗi hổ
thẹn đầy khiêm tốn và cao cả, giống nh nỗi thẹn của Nguyễn Khuyến sau
này trong Thu vịnh.
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Hoạt động 5
Hớng dẫn tổng kết và luyện tập
1. Nhận xét ý kiến: Thuật hoài là chân dung tinh thần của tác giả đồng

(Hình thức: vấn đáp)
Đọc thuộc lòng bản phiên âm và bản dịch thơ bài Thuật hoài. Phân tích
Hào khí Đông A trong bài thơ đó.
Phân tích, so sánh nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Khuyến
trong Thuật hoài và Thu vịnh. Từ đó, có thể rút ra bài học gì về lẽ sống của
con ngời?
253
Hoạt động 2
Dẫn vào bài mới
Nguyễn Trãi không chỉ là tác giả của thiên cổ hùng văn Đại cáo bình
Ngô, của Côn Sơn ca, Phú núi Chí Linh viết bằng chữ Hán mà còn là một
trong những ngời Việt Nam đầu tiên làm thơ bằng chữ Nôm. Chứng tích còn
lại cho đến nay là Quốc âm thi tập.
HS đọc mục tiểu dẫn giới thiệu Quốc âm thi tập.
GV nhấn mạnh:
Tuy nằm trong phần thơ Bảo kính cảnh giới (Gơng báu răn mình) nhng
nhiều bài thơ lại không hề răn dạy ai mà chỉ là những khúc tâm tình, những
tâm sự của nhà thơ về con ngời, cuộc sống và bản thân. Bài Bảo kính cảnh
giới số 43/61 này là nh thế (nhan đề Cảnh ngày hè do ngời soạn SGK đặt).
Cho đến nay, cha biết rõ tác giả sáng tác bài thơ ở đâu và vào thời gian nào.
Hoạt động 3
Hớng dẫn đọc hiểu khái quát
1. Đọc
Yêu cầu ngắt nhịp đúng những câu lục ngôn xen kẽ (3 3), giọng hồ
hởi, thanh thản, vui tơi.
HS cùng GV đọc 3 4 lần bài thơ.
2. Thể loại và bố cục
Thất ngôn bát cú Đờng luật.
Nguyễn Trãi có dụng ý khi xen kẽ một hai câu 6 tiếng vào bài thơ một
cách Việt hoá thơ thất ngôn bát cú Đờng luật của riêng ông.

con ngời và cảnh vật, bức tranh chiều hè ở một làng đánh cá hiện lên thật
chân thực và sinh động qua cảm nhận thanh thản của một ông già đang rỗi
thời gian (ở ẩn).
Tuylà buổi chiều nhng cuộc sống vẫn cha ngừng lại. Có một cái gì thôi
thúc từ bên trong, ứa căng, tràn đầy, không kìm lại đợc, phải trơng lên
(giơng), đùn ra phun ra, hết lớp này đến lớp khác.
Nếu trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: Đầu tờng lửa lựu lập loè đâm
bông là thiên về màu sắc, thì câu thơ tả sen hồng, hoè xanh của Nguyễn Trãi
lại thiên về sức sống của cảnh vật thiên nhiên.
Cách ngắt nhịp 3 4 khá mới mẻ (nhịp bình thờng, phổ biến của thơ
thất ngôn luật Đờng là 4 3) đã gây ấn tợng và sự chú ý cho ngời đọc làm
nổi bật cảnh vật chiều hè.
Những câu thơ cũng tả cảnh ngày hè:
Nớc nồng sực sực đầu rô trỗi
Ngày nắng chang chang lỡi chó lè.
255
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Ai xui con Quốc gọi vào hè
Cái nắng nung ngời nóng nóng ghê!
(Từ Diễn Đồng)
Đặc sắc của bức tranh thiên nhiên chiều hè còn thể hiện sự đồng cảm,
giao cảm giữa con ngời và cảnh vật. Qua đây, còn thể hiện vẻ đẹp của tâm
hồn Nguyễn Trãi.
2. Vẻ đẹp tâm hồn ức Trai
GV hỏi: Vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ đợc thể hiện nh thế nào trong bài thơ?
HS phân tích, nêu ý kiến giải thích.
Định hớng:
Đó là thời gian rỗi rãi (khá nhiều) khi nhà thơ về ở ẩn. Nhng đó không
phải là tự nguyện, là toàn tâm toàn ý. Trong lòng Nguyễn Trãi, vẫn luôn luôn
canh cánh: Bui một tấm lòng u ái cũ. Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen;

áng cúc, lan chen vãi đậu, kê
Khách đến chim rừng hoa xảy rụng
Chè tiên, nớc ghín (gánh), nguyệt đeo về.
Bá Di ngời rặng (bảo rằng) thanh là thú
Nhan tử ta xem ngặt ấy lề.
Hai tiếng dữ lành, tai quản dắp
Cầu ai khen liễn (lẫn) lệ (sợ) ai chê.

Ngôn chí 13
Quê cũ nhà ta thiếu của nào?
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch
Kề nớc cầm đa tiếng Cửu cao.
Khách đến vờn còn hoa lác
Tơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dờng ấy chăng về nghỉ
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?

257
Bình chú Bảo kính cảnh giới
Là tấm gơng báu răn mình nhng qua đó lại thấy đậm nét hơn cả là cuộc
sống, tâm sự của tác giả, thấy ngời sáng hơn cả là tâm hồn và lí tởng của nhà
thơ ức Trai.
Trớc hết, bài thơ cho thấy sự giao cảm với thiên nhiên, tạo vật của hồn
thơ Nguyễn Trãi.
Non nớc cùng ta đã có duyên.
Nguyễn Trãi là nhà thơ của thiên nhiên. Ông đến với thiên nhiên trong
mọi hoàn cảnh: thời chiến, thời bình, lúc buồn, lúc vui, khi bận rộn, khi th
giãn. Trong hoàn cảnh nào nhà thơ cũng mở rộng tâm hồn đón hạn thiên
nhiên: túi thơ chứa hết mọi giang san.

hoạ, trong âm nhạc làm cho bức tranh phong cảnh vừa có tình vừa có hồn vừa
gợi tả vừa sâu lắng. sự kết hợp giữa phun và thức thì không phải chỉ là sự kết
hợp của màu sắc mà là màu vẻ, dáng vẻ, nghiêng về diễn tả trạng thái tinh
thần của cảnh vật.
Thiên nhiên qua cảm xúc thi sĩ trở nên sinh động, đáng yêu, đầy sức
sống, cội nguồn của lòng thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả. Cảnh
vật thanh bình, yên vui bởi sự thanh thản đang xâm chiếm tâm hồn. Âm thanh
lao xao dội tới từ chợ cá làng chài hay tác giả đang rộn rã niềm vui trớc
cảnh dân giàu đủ? Và tiếng cầm ve dắng dỏi phải chăng là khúc nhạc lòng
đang tấu lên?
Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, nhng trên hết vẫn là tấm lòng của ông
thiết tha với con ngời, với dân, với nớc. Ông lại có cả một ngày trờng
thởng thức thiên nhiên với tâm trạng lâng lâng sảng khoái. Nhìn cảnh sống
của dân, đặc biệt của ngời lao động những dân làng chài lam lũ đợc
yên vui, no đủ, Nguyễn Trãi ớc có chiếc đàn vua Thuấn để gảy khúc Nam
phong, ca ngợi cảnh dân giàu đủ, khắp đòi phơng.
Câu kết 6 tiếng thơ nén cảm xúc của cả bài. Điểm kết tụ của hồn thơ
không phải là thiên nhiên, tạo vật mà là ở con ngời, ở ngời dân. Nguyễn
Trãi mong cho dân khắp nơi nơi đợc hởng cảnh giàu có, sung túc.
Thông thờng, khi nói đến ngời dân, thơ Nguyễn Trãi thờng thể hiện
nỗi âu lo, trăn trở, dằn vặt. Bởi lẽ ức Trai buồn, bởi dân là món nợ mà suốt
đời ông cha trả. Chỉ có 2 trờng hợp ông nói đến dân với niềm hân hoan,
mãn nguyện: khi chiến thắng ngoại xâm, nhân dân đợc giải phóng và khi
chiến thắng đói nghèo, nhân dân đợc yên hởng thái bình, hạnh phúc, ấm
no. Với Nguyễn Trãi, vui hay buồn, lo âu hay thanh thản đều xuất phát từ
cuộc sống của nhân dân:
Sách một hai phiên làm bầu bạn
R
ợu năm ba chén đổi công danh.
Ngoài những phân ấy cầu đâu nữa

nghĩa và âm thanh đều dữ dội nh nhau. Với ngày nay thì đùn đùn là hiện đại,
ngang, thô nhng chính xác, đầy chất sống.
Thức đỏ là của hoa lựu, thạch lựu là trồng ở hiên. Nhng để cái hiên nó
phun thì có mất gì? Hiên vẫn là hiên trồng thạch lựu. Hiên và lựu nhập vào
nhau thành một chất thì hiên vôi trắng mà phun ra thức đỏ, gạch đá mà nở
hoa. Cảnh đó vẫn hợp với thực tế và thơ bao nhiêu! Hiên phun nh thế thì trì
tịn (tiễn) cũng chẳng khác. Cũng mạch thơ không tránh cái đời thờng, cái
thô, trái với khuôn phép thơ.
Hai câu dới, ngòi bút càng chẳng tránh mùi chợ cá; mùi cá và mùi ngời
đánh cá, bán cá; cũng chẳng kể cái điếc tai, ra rả của tiếng ve sầu. Trái lại,
thấy vui thích cái lao xao ở chợ, lao xao chen chúc, trả giá, chịu giá, lao xao
trong tanh tởi. Dân chài lới trở thành lớp ngời bậc trên: ng phủ một
260
danh từ thơ, đầy trân trọng. Cũng vui thích với cái dắng dỏi của tiếng ve kim
rít lên từng hồi không dứt. Không phải về nơi góc bụi, bờ giậu mà nơi lầu cao
nhạt nắng.
Không phải quý tộc hoá cổ điển. Đó là cái trân trọng, cái đợc, thoang
thoảng một chất vui nhân hậu, xuất phát từ cái tâm lớn của nhà thơ quý mến
cái dân dã, quê mùa.
Không phải chỉ có nhân hậu. Ta không quên ng phủ ở đây mà chỗ khác
ông gọi là thằng chài cũng nh những nô bộc từng có mặt trong hàng ngũ
manh lệ bốn phơng tụ họp làm nên những Bồ Đằng, Trà Lân, Ninh Kiều, Tốt
Động mà mọi kẻ ăn lộc ngày nay phải đền ơn. Tiếng ve kia có gì mà đáng
trân trọng? Chứng tỏ lỗ tai âm nhạc của Nguyễn Trãi có phần tinh vi và
độc đáo:
Thiên thanh cung chuỷ tấu Ngu cầm
(Tiếng ve tấu phím cung chuỷ trên đàn vua Thuấn đời Ngu)
Rỗi không phải chỗ đắc ý, nhng nhà thơ vẫn hoà mình với cây cỏ, ngời,
vật mùa hè ở nông thôn và tìm thấy cái vui. Nhng có cái vui mà ông tha thiết
gây bao lần, cái vui làm cho sự sống thầm kín ở màu sắc, âm thanh rộn rã của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status