142
Tuần 7
Tiết 19 20
Văn học
Tấm Cám
(Truyện cổ tích)
A. Kết quả cần đạt
1. Kiến thức t tởng: Từ việc củng cố và nâng cao những hiểu biết về
thể loại truyện cổ tích (đã học ở chơng trình Ngữ văn THCS), nhận thức
đợc tính chất, ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột diễn ra trong truyện
Tấm Cám, ý nghĩa của sự biến hoá của Tấm, từ đó khái quát đợc chủ đề
truyện, giá trị nghệ thuật của truyện; khắc sâu tình yêu đối với ngời lao
động, ngời phụ nữ Việt Nam; củng cố niềm tin vào chiến thắng của cái
thiện, của chính nghĩa trong cuộc sống, trong xã hội.
2. Tích hợp với các truyện cổ tích thần kì khác (Thạch Sanh, Cây khế, Sọ
Dừa ) với Làm văn ở bài Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự.
3. Rèn kĩ năng đọc, kể, phân tích nhân vật qua mâu thuẫn, xung đột trong
truyện cổ tích thần kì.
B. Chuẩn bị của thầy v trò
Truyện tranh Tấm Cám.
C. Thiết kế dạy học
Hoạt động 1
Tổ chức kiểm tra bài cũ
(Hình thức: vấn đáp)
Qua đoạn trích Ra-ma buộc tội, nhân dân ấn Độ xa quan niệm nh thế
nào về nhà vua anh hùng, về ngời phụ nữ lí tởng?
143
Phân tích, so sánh hành động bớc lên giàn thiêu của Xi-ta với hành động
nhảy xuống Hoàng Giang của Vũ Nơng, từ đó rút ra những điểm giống và
khác nhau giữa hai tác phẩm sử thi ấn Độ và truyện truyền kì Việt Nam.
+ Kết cấu phổ biến: nhân vật chính (là những con ngời bình thờng hoặc
bất hạnh (mồ côi, nghèo khổ) trải qua hoạn nạn, cuối cùng đợc hởng hạnh
phúc, thoả nguyện mơ ớc.
+ Mâu thuẫn, xung đột gia đình, xã hội thể hiện đấu tranh giữa thiện
ác, tốt xấu. Đề cao cái thiện, thiện chiến thắng ác để nêu gơng đạo đức,
giáo dục con ngời và thể hiện mơ ớc của nhân dân lao động về công bằng
xã hội, về hạnh phúc; tràn đầy tinh thần lạc quan, đối lập với hiện thực xã hội
đen tối đau khổ, tạo cho con ngời niềm tin, lòng ham sống.
+ Kiểu truyện Tấm Cám phổ biến ở khá nhiều dân tộc trên thế giới.
2. Đọc
kể
Yêu cầu đọc gợi không khí cổ tích, chú ý những câu đối thoại, những
câu văn vần, kết hợp đọc và kể.
GV đọc mẫu, kể mẫu 1 đoạn; 3 4 HS đọc, kể tiếp cho đến hết truyện.
GV nhận xét kết quả.
3. Giải thích từ khó: theo các chú thích chân trang.
4. Bố cục
Mở truyện: Ngày xa việc nặng Giới thiệu các nhân vật chính và
hoàn cảnh truyện.
Thân truyện: Một hôm về cung Diễn biến câu chuyện.
Kết truyện: Tấm trở lại thành ngời.
Riêng phần thân truyện có thể chia thành 2 đoạn:
+ Tấm ở với dì ghẻ và Cám đến khi trở thành hoàng hậu.
+ Tấm bị giết và hoá thân.
Hoạt động 4
Hớng dẫn đọc hiểu chi tiết
1. Nhân vật và mâu thuẫn
xung đột chủ yếu
Chặng nào căng thẳng, quyết liệt nhất.
HS phân tích, phát biểu.
Định hớng:
Mâu thuẫn xung đột giữa Tấm và mẹ con Cám có thể chia làm các
chặng nhỏ:
(a) Bắt cua chăn trâu xem hội thành hoàng hậu
(b) Bốn lần bị giết bốn lần hoá thân
(c) Trả thù
Chúng ta sẽ tìm hiểu sự phát triển, diễn tiến của mâu thuẫn xung đột
theo các chặng đó để khái quát phẩm chất, tính cách các nhân vật và chủ đề
của truyện.
146
Bảng hệ thống đối sánh
Chặng Tấm Cám, dì ghẻ
Yếu tố thần kì, hình
ảnh, chi tiét tiêu biểu
1
Trong gia
đình, tranh
đoạt Quyền lợi
vật chất,
Tinh thần
a) Đi bắt tép c) Đi xem hội
+ Bày kế hành hạ Tấm
+ Thử giày bẽ bàng, xấu
hổ.
+ Bụt hiện, bày cách
giúp Tấm
+ Cái yếm đỏ (vật
thởng)
+ Con bống + Bụt hiện, bày cách
giúp Tấm
+ Con gà biết nói
+ Bốn lọ xơng bống + Bụt hiện giúp Tấm
+ Chiếc giày đánh
rơi
Để hớng dẫn HS tìm hiểu mâu thuẫn trong chặng này, GV có thể nêu
với Cám, dẫn đến việc gặp vua, trở thành hoàng hậu, mở màn cho hàng loạt
tội ác của mẹ con Cám sau này, đẩy mâu thuẫn thành xung đột gay gắt.
Mâu thuẫn xung đột trong chặng thứ hai khi Tấm và Cám đều trở thành
hoàng hậu.
Bảng hệ thống đối sánh
Chặng 2: Khi
Tấm trở thnh
hong hậu
Tấm
Cám dì ghẻ
1 Về lo giỗ bố
Trèo cau
Ngã chết đuối
Hoá thành chim vàng anh
Hót mắng Cám
Dì ghẻ bày mu độc
Đẵn gốc cau giết Tấm
Đa Cám vào thế chị làm
hoàng hậu
(vua không nói gì!)
2 Chim vàng anh bị giết
Lông chim hoá thành 2 cây xoan đào
Cám theo lời mẹ giết chim,
nấu ăn, vứt lông ra vờn (vua
không nói gì )
148
Chặng 2: Khi
Tấm trở thnh
hong hậu
Tấm, cuối cùng vẫn trở thành ngời, lại xinh đẹp hơn xa, lại trở về ngôi
vị hoàng hậu, nói lên điều gì?
Vì sao trong chặng này, không thấy Bụt hiện lên lần nào, không thấy
Tấm khóc?
Vì sao nhà vua chồng Tấm, suốt bốn lần vợ bị hại, đều không nói gì,
đều không làm gì để bảo vệ vợ mình?
HS thảo luận, tự do phát biểu ý kiến.
Định hớng:
Mâu thuẫn Tấm Cám và dì ghẻ không những không giảm mà còn phát
triển ngày một căng thẳng, gay gắt, quyết liệt. Đây không còn là mâu thuẫn
gia đình mà đã phát triển thành xung đột mất còn mang tính quan hệ xã hội.
Mẹ con Cám tìm đủ cách và nhiều lần truy đuổi hòng tiêu diệt bằng đợc
Tấm để độc chiếm ngôi hoàng hậu, hòng trọn đời hởng vinh hoa phú quý.
149
Còn Tấm; cô cũng dần trởng thành hơn. Thực tế khốc liệt đã thay đổi
tính nết và cách nói năng, ứng xử của cô. Sau mỗi lần bị giết, bị chết, bị chặt,
bị đốt, Tấm đều không chết, đều tìm cách hoá thân sang kiếp khác, vật khác,
đều tìm cách mắng rủa, tố cáo tội ác cớp chồng giết chị của Cám.
Bốn lần bị giết, bốn lần hoá thân chứng minh sức sống mãnh liệt của
Tấm, thể hiện quan niệm luân hồi của đạo Phật trong tinh thần nhân dân, thể
hiện mơ ớc của nhân dân gửi vào nhân vật Tấm. Tấm phải sống để hởng
hạnh phúc, để trừng trị những kẻ thù độc ác, mẹ con Cám nhất định phải
đền tội.
Đó cũng là quan niệm thiện ác và tinh thần lạc quan, niềm tin vào chân lí,
và công bằng của tâm thức ngời Việt trong cổ tích.
3. Chi tiết Tấm trả thù
kết truyện
HS đọc lại đoạn kết, nêu cảm tởng của bản thân.
động đến kiên quyết đấu tranh giành lại cuộc sống và hạnh phúc cho mình.
2. Đọc tham khảo bài viết sau:
Bình giảng truyện tấm cám
Hoàng Tiến Tựu
Có ngời quá nhấn mạnh đến xung đột dì ghẻ con chồng và coi nhẹ,
thậm chí bỏ qua xung đột giữa hai chị em Tấm Cám. Do đó đã đơn giản hoá
chủ đề và nội dung tác phẩm. Đa Tấm Cám lên sân khấu, có dạo diễn đã làm
cho Cám trở thành nạn nhân bị mẹ sai khiến và ép buộc hoàn toàn Cần phải
tôn trọng cốt truyện mà nhân dân đã sáng tạo và lu truyền bao đời nay.
ở đây không có sự đồng tình của Cám với Tấm và sự đối lập giữa Cám
với mẹ dì ghẻ của Tấm dù rất nhỏ.
Cám đối lập hoàn toàn với Tấm, từ đầu tới cuối truyện. Xung đột lớn
nhất, trực tiếp và quyết liệt ở đây là xung đột Tấm Cám, giữa hai chị em
cùng cha khác mẹ, đúng nh tên truyện.
Truyện mở đầu bằng việc mụ dì ghẻ sai hai con đi bắt tép, ai đầy giỏ thì
đợc thởng yếm đỏ. Rõ ràng, lúc này, với câu nói ấy, mụ dì ghẻ cha có sự
thiên vị bất công hay âm mu độc ác nào cả.
Sau đó, kẻ lừa dối và cớp công Tấm là Cám. Cám hoàn toàn chủ động,
không hề có sự dặn dò hay sai khiến nào của mẹ. Cám làm thế chỉ vì lòng
tham muốn chiếm cái yếm đỏ của Tấm sẽ đợc hởng mà thôi!
Ai rình mò, theo dõi Tấm nuôi bống và báo cho dì ghẻ biết? Ai lấy quần
áo Tấm, cớp chồng Tấm và giết Tấm năm lần bảy lợt? Chính là Cám. Cám
trực tiếp nhúng tay vào tội ác, liên tục tấn công, truy đuổi, hãm hại và cớp
đoạt quyền lợi của Tấm, càng về sau càng quyết liệt, dã man. Mụ dì ghẻ chỉ
tham gia vào một số việc, mà chủ yếu là bày mu tính kế theo yêu cầu của
Cám. Cũng vì thế mà sự phản công của Tấm đều chủ yếu nhằm vào Cám. Từ
tiếng chim vàng anh, đến tiếng khung cửi. Không phải ngẫu nhiên tác giả dân
gian đã để Tấm trả thù Cám nặng nề, khốc liệt đến thế?!
151
Mâu thuẫn xung đột giữa Tấm và mẹ kế diễn ra gián tiếp và không liên
nặng hơn vẫn phù hợp và thích đáng. Nhng với Tấm thì cách trả thù nh vậy
không phù hợp với bản chất và tính cách của Tấm bản chất hiền hậu. Có
ngời so cách trả thù của Tấm với cách ứng xử của Thạch Sanh với mẹ con Lí
Thông và cho rằng cách xử lí của Thạch Sanh hay hơn, đẹp hơn, phù hợp với
truyền thống khoan hồng, độ lợng của nhân dân ta hơn cách làm của Tấm.
152
Nói chung thởng phạt trong truyện cổ tích đều bắt nguồn từ triết lí ở
hiền gặp lành, ở ác gặp ác, nhng hình thức cụ thể thì rất khác nhau. Không
phải ngời thiện nào cũng lấy công chúa và trở thành vua hoặc lấy vua làm
hoàng hậu. Cũng không phải nhân vật ác nào cũng bị trừng trị giống nhau.
Thạch Sanh và Tấm đều là những nhân vật rất đẹp của văn học dân gian,
nhng là những vẻ đẹp khác nhau. ở Thạch Sanh cái hùng gắn với cái hiền,
sự độ lợng bao dung của ngời chiến thắng. ở Tấm, dịu hiền gắn với cái đáo
để và nhu cầu trả thù của ngời bị áp bức, bóc lột.
Thạch Sanh có nhiều kẻ thù nhng không hề có nhu cầu trả thù sau chiến
thắng. Chàng không chỉ tha cho mẹ con Lí Thông mà còn độ lợng khoan
dung với cả quân ch hầu 18 nớc xâm lợc, mặc dù chàng có đầy đủ sức
mạnh và vũ khí tiêu diệt chúng.
Cô Tấm lại có nhu cầu trả thù, trừng trị kẻ đã áp bức bóc lột, hãm hại
mình rất rõ. Khi đợc trở lại kiếp ngời và về cung vua, Tấm mới có điều
kiện để trừng trị Cám. Nhng nhu cầu trả thù ấy đã có từ rất sớm, khi tấm bị
giết hoá thành chim vàng anh. Chim đã lanh lảnh mắng Cám những lời đe doạ
trả thù: tao cào mặt ra, rồi, tao khoét mắt ra Trớc khi bị giết, Tấm hiền
dịu, ngây thơ bao nhiêu thì sau khi bị giết, cô đáo để và quyết liệt bấy nhiêu.
Trớc khi bị giết, mỗi khi gặp khó khăn, cô chỉ yếu đuối, mà chỉ biết khóc và
chờ Bụt đến giải cứu. Nhng Bụt giúp Tấm bao nhiêu thì kẻ thù lại cớp đi
của Tấm bấy nhiêu và cuối cùng chúng đã cớp cả sinh mạng của Tấm mà
Bụt cũng đành bó tay, bất lực. Vì thế, ở giai đoạn hậu thân, Tấm phải tự mình
đảm nhiệm phần việc mà Bụt đã không giúp hay không thể giúp.
Lôgích phát triển tính cách của nhân vật Tấm là nh vậy.
miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự
GV yêu cầu HS tìm hiểu mục I trong SGK và trả lời các câu hỏi:
1. Thế nào là miêu tả? Thế nào là biểu cảm?
2. Miêu tả trong văn bản tự sự có hoàn toàn giống với miêu tả trong văn
bản miêu tả hay không? Giữa biểu cảm trong văn bản tự sự với biểu cảm
trong văn bản biểu cảm có những điểm giống nhau và khác nhau cụ thể nào?
3. Căn cứ vào đâu để đánh giá hiệu quả của miêu tả và biểu cảm trong
văn bản tự sự?
4. Giải thích vì sao đoạn trích văn bản tự sự dẫn trong SGK đã sử dụng có
hiệu quả các yếu tố miêu tả và biểu cảm?
GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
154
1.
Miêu tả Biểu cảm
Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp ngời đọc,
ngời nghe hình dung những đặc điểm, tính
chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con
ngời, phong cảnh làm cho những cái đó nh
hiện lên trớc mắt ngời đọc, ngời nghe.
Trong văn miêu tả, năng lực quan sát của
ngời viết, ngời nói thờng bộc lộ rõ nhất.
Văn biểu cảm là văn viết ra nhằm biểu đạt tình
cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con ngời đối với
thế giới xung quanh và khơi gợi lòng đồng cảm
nơi ngời đọc.
Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình; bao gồm
các thể loại văn học nh thơ trữ tình, ca dao trữ
tình, tùy bút
Tình cảm trong văn biểu cảm thờng là những
tình cảm đẹp, thấm nhuần t tởng nhân văn
tỏ thái độ tình cảm trớc con
ngời và cuộc sống
Các hình thức văn bản
thờng gặp: bản tin báo chí,
bản tờng thuật, tờng trình,
tác phẩm lịch sử, tác phẩm
văn học nghệ thuật (truyện, kí
sự, tiểu thuyết )
Phơng thức: tái hiện các
tính chất, thuộc tính của sự
vật, hiện tợng làm cho chúng
hiển hiện
Mục đích: giúp ngời đọc,
ngời nghe cảm nhận và hiểu
đợc chúng
Các hình thức văn bản
thờng gặp: văn tả cảnh, tả
ngời, tả sự vật; đoạn văn
miêu tả trong tác phẩm tự sự
Phơng thức: bày tỏ trực
tiếp hoặc gián tiếp thái độ tình
cảm của ngời nói, ngời viết
đối với con ngời, thiên nhiên,
xã hội, sự vật
Mục đích: bày tỏ tình cảm
và khơi gợi sự đồng cảm.
Các hình thức văn bản
thờng gặp: điện mừng, lời
thăm hỏi, điện chia buồn, văn
tế, điếu văn; th từ trao đổi
Ví dụ, đoạn văn tự sự:
Xe chạy chầm chậm Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi, vài giây sau, tôi đuổi kịp.
Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, và khi trèo lên xe, tôi ríu cả chân lại. Mẹ
tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi, thì tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở. Mẹ
tôi cũng sụt sùi theo:
Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà.
Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nớc mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến
bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá nh cô tôi nhắc
lại lời ngời họ nội của tôi. Gơng mặt mẹ tôi vẫn tơi sáng với đôi mắt trong
và nớc da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sớng
156
bỗng đợc trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại
tơi đẹp nh thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu
ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác đã bao lâu mất đi bỗng lại
mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng
xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thờng.
Phải bé lại và lăn vào lòng một ngời mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của
ngời mẹ, để bàn tay ngời mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống
lng cho, mới thấy ngời mẹ có một êm dịu vô cùng. Từ ngã t đầu trờng
học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi
những câu gì".
(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)
Phân tích:
Tự sự Miêu tả Biểu cảm
+ Sự việc lớn: kể lại cuộc gặp
gỡ cảm động giữa nhân vật
"tôi" với ngời mẹ xã cách lâu
bàn tay ngời mẹ vuốt ve từ
trán xuống cằm và gãi rôm ở
sống lng cho, mới thấy ngời
mẹ có một êm dịu vô cùng.
Nhận xét:
Cái cốt tự sự và các yếu tố miêu tả, biểu cảm không "biệt lập" hoặc "loại
trừ" nhau, mà luôn đan xen vào nhau một cách hài hòa để tạo nên một mạch
văn nhất quán, sinh động.
157
Ví dụ:
Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi,
tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da
thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở từ khuôn miệng xinh xắn nhai trầu
phả ra lúc đó thơm tho một cách lạ thờng.
Kể: tôi ngồi trên xe, cạnh mẹ Tả: đùi áp vào đùi mẹ tôi, đầu
ngả vào cánh tay mẹ tôi,
khuôn miệng xinh xắn nhai
trầu
Biểu cảm: những cảm giác
ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng
lại mơn man khắp da thịt,
thơm tho một cách lạ thờng
* Nếu tớc bỏ các yếu tố miêu tả, biểu cảm; ta sẽ có đoạn văn:
Mẹ tôi vẫy tôi. Tôi chạy theo chiếc xe chở mẹ. Mẹ kéo tôi lên xe. Tôi òa
khóc. Mẹ tôi khóc theo. Tôi ngồi bên mẹ, quan sát gơng mặt mẹ.
Có một linh hồn lên thiên đàng, cô chủ ạ.
Nói rồi tôi làm dấu thánh.
Nàng cũng làm theo và cứ ngồi ngửa cổ nh thế một lát, vẻ rất trầm
ngâm [ ]
Nàng vẫn ngớc mắt lên cao, tay đỡ lấy đầu, vai khoác tấm da cừu, nom
nàng nh chú mục đồng của nhà trời.
Nhiều sao quá! Đẹp quá kìa! Cha bao giờ tôi thấy nhiều sao nh thế
này. Mục đồng có biết tên các ngôi sao không?
Dạ có, tha cô chủ [ ]
Và trong khi tôi cố giảng cho nàng thế nào là đám cới sao thì tôi cảm
thấy nh có một cái gì mát rợi và mịn màng tựa nhè nhẹ xuống vai tôi. Thì
ra đầu nàng nặng trĩu vì buồn ngủ đã ngả vào tôi với tiếng sột soạt êm ái của
những dải đăng-ten và làn tóc mây gợn sóng. Nàng cứ ngồi yên nh thế,
không nhúc nhích cho đến khi ngàn sao trên trời mờ dần, nhòa đi trong buổi
ban mai đang rạng. Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ, đáy lòng hơi xao xuyến nhng
vẫn giữ đợc mình vì đêm sao sáng kia bao giờ cũng đem lại cho tôi những ý
nghĩ cao đẹp. Quanh hai chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình
trầm lặng ngoan ngoãn nh một đàn cừu lớn; và đôi lúc, tôi tởng đâu một
trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, ngời sáng nhất lạc mất
đờng đi đã đậu xuống vai tôi mà thiêm thiếp ngủ
(A. Đô-đê, Những vì sao)
a) Phần văn bản trên là một trích đoạn tự sự vì nó có nhân vật và sự việc,
cụ thể:
Nhân vật: cô gái (cô chủ, tiểu th) và chàng trai chăn cừu (mục đồng).
Sự việc: một đêm thức trắng.
b)
Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ
run lên và nép sát vào
ngời tôi
từ phía mặt đầm lấp lánh
dới kia nổi lên một tiếng kêu
dài, não nuột, ngân vang rền
rền
một vì sao rực rỡ đổi ngôi,
lớt trên đầu dờng nh
tiếng than vãn
đầu nàng đã nặng trĩu vì
buồn ngủ và đã ngả vào tôi
ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc
hành trình trầm lặng ngoan
ngoãn nh một đàn cừu lớn
Không quen thì dễ sợ
Đẹp quá kìa!
cảm thấy nh có một cái gì
mát rợi và mịn màng tựa nhè
nhẹ xuống vai tôi
với tiếng sột soạt êm ái của
những dải đăng-ten và làn tóc
mây gợn sóng
đáy lòng hơi xao xuyến
nhng vẫn giữ đợc mình vì
đêm sao sáng kia bao giờ
cũng đem lại cho tôi những ý
nghĩ cao đẹp
tôi tởng đâu một trong
những ngôi sao kia đã đậu
Tởng tợng ra một cái bánh ngọt to bằng toà nhà mời tầng.
Thao tác 2
GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời các câu hỏi:
+ Phải quan sát mới có thể viết đợc câu văn: Trong đêm, tiếng suối reo
nghe rõ hơn, đầm ao nhen lên những đốm lửa nhỏ, những tiếng sột soạt văng
vẳng trong không gian.
+ Phải tởng tợng mới viết đợc câu văn: Cô gái nom nh một chú mục
đồng của nhà trời, nơi có những đám cới sao.
+ Phải liên tởng mới viết đợc câu văn: Cuộc hành trình trầm lặng,
ngoan ngoãn của ngàn sao gợi nghĩ đến đàn cừu lớn.
Thao tác 3
GV yêu cầu HS suy nghĩ để trả lời các câu hỏi:
1. Biểu cảm là gì?
2. Muốn biểu cảm thì phải làm gì?
3. Hãy xác định các yếu tố đó trong bốn yếu tố a, b, c, d (SGK, tr.75)?
HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
1. Biểu cảm là trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ thái độ, tình cảm và sự đánh
giá thông qua việc miêu tả đối tợng.
2. Muốn biểu cảm thì phải quan sát để tả đối tợng và vận dụng vốn tri
thức, vốn sống để hình thành những cảm xúc, rung động với đối tợng.
3. Các yếu tố có vai trò quan trọng để biểu cảm là a, b và c.
161
* Yếu tố d là câu trả lời không chính xác vì:
+ Muốn biểu cảm thì nhất thiết phải có đối tợng để miêu tả và thông qua
miêu tả mới biểu cảm đợc.
+ Nếu chỉ từ bên trong trái tim ngời nói, ngời viết thì cũng có thể có
tâm trạng, có cảm xúc; nhng đó là những tâm trạng, những cảm xúc mơ hồ,
vu vơ; do đó nó khó có thể gợi ra sự đồng cảm ở ngời nghe, ngời đọc đợc.
GV chỉ định 3 HS lần lợt đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK.
quán nớc bên đờng sạch
sẽ
có phần trẻ đẹp hơn xa
Vua mừng quá
162
b) Đoạn văn tự sự trích từ văn bản Lẵng quả thông:
Một hôm, Gri-gơ bắt gặp trong rừng một em bé có đôi bím tóc nhỏ xíu,
con ông gác rừng. Em bé đang nhặt những quả thông bỏ vào trong lẵng.
Trời đang thu. Nếu nh ta có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đem
đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo thì những chiếc lá đó có làm
thành một phần rất nhỏ bộ quần áo mà mùa thu đang trải trên những ngọn
núi kia mà thôi. Vả lại, những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch nếu so với
lá thật, nhất là những lá liễu hoàn diệp. Mọi ngời đều biết rằng chỉ cần một
tiếng chim hót thôi cũng đã đủ làm chúng run rẩy.
Tự sự Miêu tả Biểu cảm
Một hôm, Gri-gơ bắt gặp trong
rừng một em bé.
Em bé đang nhặt những quả
thông bỏ vào trong lẵng.
đôi bím tóc nhỏ xíu
Trời đang thu.
những chiếc lá nhân tạo nọ
sẽ rất thô kệch
Nếu nh mà thôi.
chỉ cần một tiếng chim hót
thôi cũng đã đủ làm chúng run
rẩy
Tác dụng của các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong các đoạn văn tự sự trên:
thế giới trong trẻo tinh khiết, chân thành và đằm thắm đến nao lòng.
Tôi không bao giờ quên đợc những bữa cơm gia đình ở quê tôi. Chỉ vài
con cua con ốc bắt đợc ở ngoài đồng hoặc xúc đợc ở dới ao và một nắm
rau dền cơm, rau sam, rau mồng tơi hái ở vờn nhà là đã có một bữa ăn
ngon miệng vô cùng. Cái không khí ấm cúng mỗi khi cả nhà quây quần bên
mâm cơm "tự cung tự cấp" đạm bạc thì khó mà gặp đợc ở những bữa tiệc
đầy ắp cao lơng mĩ vị ở thành phố!
Khi màn đêm buông xuống, tôi mới cảm nhận đợc sự mênh mông yên
tĩnh của một vùng quê rất xa thành phố. Thỉnh thoảng có vài tiếng chó sủa
khi gần khi xa, vài tiếng ếch nhái văng vẳng hoặc một tiếng vạc bay đêm
thảng thốt vụt qua Có đêm, tôi ngồi một mình bên ngọn đèn dầu leo lét để
đọc sách và tự nhiên cảm thấy sách "vào" mình sao mà dễ dàng và thấm thía?
Tôi chợt chạnh lòng thơng lũ trẻ con quê tôi. So với đám trẻ con thành phố
thì chúng thiệt thòi nhiều quá! Tôi khe khẽ thở dài
Nhng đấy là tất cả những gì về một vùng quê còn lại trong kí ức của tôi
mà thôi! Ngày ấy, dới con mắt trẻ thơ của tôi, con sông đồng Phan quê tôi
thì mênh mông nh sông Hồng, cái ao làng thì bát ngát nh cái Hồ Tây, con
đờng làng thì thênh thang nh quốc lộ 1A
Còn bây giờ? Xã đã lên phờng. Ngời ta đã lấp hết ao để làm nhà mặt
đờng và để bán đất. Không còn bóng dáng một cây tre nào. Đờng liên xã,
liên xóm đều đã đợc bê tông hóa. Nhà tầng, nhà ống, nhà chóp, nhà kính
lô nhô, bát nháo. Đèn điện, ti vi, nớc máy, xe máy nh thành thị.
Dân quê tôi, sáng dậy uống cà phê, đọc báo. Ngày phóng xe máy lợn
loanh quanh. Tối xem ti vi, xem đĩa DVD ngoài luồng Tôi cứ ngẩn ngơ tự
hỏi: "Đây có còn là quê tôi không nhỉ?!". Và chợt thấy lòng mình hụt hẫng,
bâng khuâng nh vừa bị tuột mất một cái gì vô giá
164
Tôi bần thần dừng lại cái nơi mà ngày xa từng có cái ao làng và cái
giếng làng. Bây giờ là nhà tầng ngất nghểu. Cây bàng già nua xù xì cũng
không còn nữa! Bà cụ T Nghĩa "chuyên doanh" nớc vối thì đã thành ngời
cứ hiện lên từng con đờng, từng bờ tre, góc xóm, từng gơng mặt thân
thơng. "Lá rụng về cội", khi về già, cố hơng là chỗ dựa vững chắc, là ớc
nguyện cuối cùng của đời ngời. Lúc đó con ngời ta nhớ lại từng dấu chân,
165
con đờng thời thơ trẻ, ngời ta lo sợ đánh mất những kỉ niệm dấu yêu khi
sắp sang thế giới miền cực lạc.
Có những con đờng, đồi dốc mà ta sắp tiến tới và vợt qua may mắn
đợc ngời đi trớc tạo điểm tựa nh cái bệ phóng. Ngời nào có bản lĩnh
trớc cuộc đời đầy xô bồ, gai góc, biết dấn thân, biết tự lập thì đó là niềm tin
khởi đầu của vạn niềm tin tất thắng. Còn ngời nào thiếu bản lĩnh sống, trông
chờ, dựa dẫm vào ngời khác thờng chuốc lấy thất bại ê chề. Có bao nhiêu
ngời nhận ra chân lí: "Có vấp ngã mắt mới nhìn sáng suốt Có đau thơng
lòng mới cứng rắn hơn?"
Một lần nhìn thằng cháu nội tôi chập chững tập đi, nó vấp ngã không biết
bao nhiêu lần. Mỗi lần vấp ngã là mỗi lần nó đứng dậy đi thẳng tới mặc cho
các vết trầy rớm máu, tôi bỗng nghĩ đến cuộc đời, nghĩ đến những hoàn cảnh
tật nguyền nghiệt ngã. Có những trẻ em, thanh niên không có những đôi chân
suôn sẻ, nhng họ vẫn đứng vững trớc cuộc đời, trong khi có những ngời
lành lặn lại sống bấu víu vào gia đình, xã hội. Thật buồn lắm thay!
(Trần Quốc Cờng, Tạp văn)
3. Cây gạo đầu làng
Chẳng hiểu sao đi bất cứ một làng quê nào ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đều
bắt gặp bóng dáng thân thuộc và mộc mạc của cây gạo nơi ngã ba đầu làng.
Cây gạo của làng An Điện soi bóng từ bao giờ xuống mặt gơng của con
sông Đào chẳng ai rõ. Thủa còn nhỏ, đã thấy quán hàng đơn sơ lợp bằng lá
mía của bà Tân dựng ngay dới gốc. Sau này ngời ta không gọi quán bà Tân
nữa, mà gọi là quán bà Cây Gạo. Lũ trẻ của làng mỗi lần đi học đều ngớc
cặp mắt tròn trong veo nhìn. Gốc cây gạo to thừa hai ngời dang tay ôm, mà
đã có ai dang tay ôm đâu nhỉ, biết bao những vú gạo to đen mốc thếch nhọn
hoắt tủa ra.