TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT KẾT HỢP CÚ PHÁP
CỦA ĐỘNG TỪ TRONG NGA NGỮ HỌC
SOME QUESTIONS ON THE THEORY OF SYNTAX COMBINATION OF VERBS
IN RUSSIAN LANGUAGE STUDY
Lưu Bá Minh
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
TÓM TẮT
Kết hợp cú pháp (KHCP) trong Nga ngữ học là một trong những vấn đề được các nhà
khoa học quan tâm sâu sắc, bởi lẽ kết hợp cú pháp liên quan ở nhiều mức độ khác nhau đến
vấn đề mang tính cấp bách của lý thuyết ngôn ngữ như mối tương quan của hai cấp độ ngôn
ngữ và lời nói. Có nhiều yếu tố quy định kết hợp cú pháp của động từ, song từ vựng được coi
là yế
u tố cơ bản nhất quy định kết hợp cú pháp của động từ trong tiếng Nga và chu cảnh cú
pháp được xem là đặc trưng hành chức cơ bản của động từ nói chung và động từ tiếng Nga nói
riêng, trong đó các yếu tố ngữ pháp và các mức độ thay đổi kết hợp cú pháp được thể hiện rõ
ràng nhất.
ABSTRACT
Syntax combination in Russian language study is one of the issues of deep concern for
linguists because the syntax combination is related to many different levels to the urgent issues
of theoretical language in correlation with both levels of language and speech. There are many
factors determining the syntax combination of Russian verbs, but its vocabulary is considered
as one of the most basic factors determining the syntax combination of verbs in general and
Russian verbs in particular, in which the grammar factors and the levels of syntax combination
change are most clearly shown.
1. Đặt vấn đề
Trong Nga ngữ học,
những phần tử bên trái động từ (các vị trí chủ thể) không thuộc các thành phần mở rộng
của động từ, vì sự có mặt của chủ thể không phải là do đặc điểm ngữ trị quy định, mà do
các yêu cầu giao tiếp chi phối, quy định. Khi giải thích khái niệm KHCP, T.M.
Đorofeeva (Т.М. Дорофеева) trong cuốn “Động từ với sự kết hợp phụ thuộc bắt buộc
trong tiếng Nga hiện đại” (Глаголы с обязательной подчинительной связью в сов. р.
языке) [7,68] cho rằng kết hợp là khả năng của các từ "có các hình thái cú pháp phụ
thuộc (các thành tố mở rộng)", có nghĩa là khả năng của các thành tố bên phải. Trong
công trình nghiên cứu của A.F. Atrosenko (А.Ф. Атрощенко) cũng nêu lên ý kiến
tương tự. Vì vậy họ tiến hành nghiên cứu KHCP của động từ trong khuôn khổ cụm từ
[2]. Đối lập với những quan điểm cho rằng KHCP có mối liên hệ một phía, có những
người cho rằng hàm lượng KHCP rộng hơn. P.P. Xirota (Р.Р. Сирота) đã nêu một định
nghĩa điển hình cho loại ý kiến này; "KHCP của động từ là mối liên hệ từ hai phía (quan
hệ với chủ thể và với các từ hình phụ thuộc). Mối quan hệ này được được quy định bởi
ngữ trị của động từ, bởi các nhiệm vụ chung của lời nói và xây dựng câu" [10, 74]. Xem
xét các ý kiến nêu trên, chúng tôi thấy rằng, xuất phát từ bản chất của hiện tượng ngôn
ngữ, xuất phát từ thực tế giảng dạy t
ừ vựng động từ tiếng Nga cho sinh viên Việt Nam,
việc thừa nhận và đưa vào giảng dạy khái niệm kết hợp cú pháp của động từ - như quan
hệ một phía với các thành phần mở rộng bên phải là hợp lý. Cho nên chúng tôi muốn
nhấn mạnh ý kiến được nêu trong bài viết: "Khả năng
KHCP của động từ trong tiếng
Nga" rằng "Sự kết hợp cú pháp của động từ được qui định bởi các thuộc tính ngữ trị của
nó chứ không phải bởi nhiệm vụ tạo ra lời nói và câu nói chung, đó là mối quan hệ một
phía của động từ với các từ hình phụ thuộc nó" [17, 28] và xem đó là cơ sở bước vào
giải quyết các vấn đề có liên quan tới kết hợp cú pháp, vì nó gắn bó chặt chẽ với các yếu
tố qui định KHCP.
Vấn đề các yếu tố qui định KHCP của từ đã được đề cập và xem xét từ lâu.
Trong bộ "Ngữ pháp tiếng Nga" xuất bản năm 1775, М. В. Ломолосов đã nói đến sự
phụ thuộc của quan hệ cú pháp vào tính chất từ loại của nó, vào hình thức ngữ pháp
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
hay trong các thức khác nhau vẫn luôn kết hợp với danh từ cách 3 không giới từ (кому,
чему). Chúng ta có thể quan sát thành phần mở rộng bắt buộc đối với động từ này:
радуюсь чему (ngôi 1, số ít) (успехам)
радуешьcя чему (ngôi 2, số ít) (успехам)
чему (успехам)
радуемся чему (ngôi 1, số nhiều) (успехам)
радуйся чему (thức mệnh lệnh) (успехам)
радовался бы чему (thức giả định) (успехам) …
Như vậy, rõ ràng là các phạm trù như ngôi, số, thức không hề có ảnh hưởng tới
KHCP của động từ. Duy chỉ phạm trù thái (залог) là có ảnh hưởng tới kết hợp cú pháp
của động từ. Chúng ta biết rằng hậu tố -ся đã làm cho nhiều ngoại động từ mất đi tính
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
4
cập vật, làm cho chúng mất khả năng kết hợp với danh từ cách 4 không giới từ. Xét các
hiện tượng trên chúng ta dễ dàng đồng ý với ý kiến cho rằng ngữ pháp không phải là
yếu tố có ảnh hưởng toàn diện đối với KHCP và chúng ta dễ dàng có quan điểm tán
thành với ý kiến cho rằng tính chất KHCP do yếu tố từ vựng qui định. Nguyễn Thị Tuyết
Lê cũng đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố từ vựng đối với kết hợp cú pháp của động từ
"Khi xác định các yếu tố qui định kết hợp cú pháp cần phải nói rằng các yếu tố ngữ
pháp, cấu tạo từ và từ vựng trong một từ có tác động qua lại, có mối liên hệ mật thiết
đối với việc mở rộng từ vựng động từ bằng các từ cú pháp. Nhưng cần đặc biệt nhấn
mạnh vai trò của nhân tố từ vựng là yếu tố cơ bản, yếu tố này qui định trực tiếp qui định
kết hợp" [17]. Gần đây, trong Nga ngữ học còn đề cập đến một yếu tố thứ 3 có ảnh
hưởng (tác động) đến kết hợp cú pháp. Đó là yếu tố cấu tạo từ. М. Х. Шхапацева,
Билимович, С. В. Киреева, Н. А. Клепиская, О. Ф. Миросиченко cho rằng yếu tố
cấu tạo từ cũng tham gia vào việc qui định kết hợp cú pháp. Như vậy, xung quanh vấn
đề các yếu tố qui định KHCP của từ còn có nhiều ý kiến tranh luận. Có hai xu hướng cơ
bản, một cho rằng yếu tố ngữ pháp quyết định tính chất của KHCPKHCP và xu hướng
thứ hai cho rằng yếu tố từ vựng là yếu tố cơ bản qui định kết hợp cú pháp của từ. Sau
khi khảo sát các ngữ liệu đề cập đến vấn đề KHCP của động từ, và trên cơ sở phân tích
theo ý nghĩa từ vựng, chính điều đó ảnh hưởng tới kết hợp của chúng". Vấn đề kết hợp
trước tiên được tác giả này gắn liền với việc phân biệt hai nhóm động từ trong tiếng
Nga: nội động từ và ngoại động từ. Theo tác giả, trong nhóm ngoại động từ
(переходные глаголы - перех. г.) về cơ bản có các động từ chỉ hành động cụ thể, động
từ tác động, động từ quan hệ, nhận thức, biểu cảm, lời nói và tư duy. Những động từ
này "mặc dù không trong một mức độ như nhau nhưng lại liên kết với danh từ cách 4
không giới từ và cùng với chúng biểu thị đối tượng của hành động, quan hệ, nhận thức,
phơi bày nội dung lời nói và tư duy" [11,20]. Còn các nhóm từ vựng-ngữ nghĩa động từ
chỉ sự tồn tại, vị trí, trạng thái thông thường thuộc nhóm nội động từ (непереходные
глаголы - неперех. гл.), cho nên thường không có cách kết hợp cú pháp như nhóm thứ
nhất. Yếu tố từ vựng của động từ không chỉ qui định kết hợp cú pháp của động từ trung
tâm mà còn qui định cả tính chất của các thành tố mở rộng. Thông thường chỉ có những
từ thuộc nhóm ngữ nghĩa nào đó mới kết hợp được với động từ mà thôi, không phải
danh từ, đại từ, trạng từ… nào cũng tham gia vào kết hợp động từ, thí dụ: Завоевать
(что) (giành lấy). Động từ này đòi hỏi danh từ mở rộng ở cách 4 không giới từ, nhưng
chỉ có một số từ nhất định mới kết hợp với động từ này chứ không phải là tất cả.
Завоевать страну, город, крепость
доверие товарищей, симпатию коллектива
победу, счастье, свободу
Bằng những thí dụ nêu trên chúng tôi khẳng định lại ý kiến cho rằng: "không
phải tất cả mà chỉ có những từ thuộc nhóm từ vựng-ngữ nghĩa nhất định có thể xuất hiện
ở vị trí phụ thuộc. Vì vậy kết hợp của từ "cốt lõi" với các từ khác không phải là tự do,
không có giới hạn". Có nghĩa là tồn tại một mối liên quan hữu cơ giữa ngữ nghĩa và cú
pháp. Chính mối quan hệ đó là tiền đề cho việc phân chia kết hợp bắt buộc và không bắt
buộc (обязательная и необязательная (факультативная) сочетаемость).
Nhiều nhà ngôn ngữ học đã giải thích bản chất vấn đề này bằng mức độ đầy đủ
(уровень полности) hay không đầy đủ (уровень неполности) về mặt ngữ nghĩa của
động từ. Mức độ thiếu hay đủ ngữ nghĩa này qui định mức độ cần thiết trong việc dùng
các thành tố khác để làm cho động từ đủ nghĩa và cũng từ đó quy định mức độ cần thiết
của những mối quan hệ cú pháp với các từ khác. Г. А. Золотова đã chỉ ra 3 kiểu từ theo
bản năm 1984 thì tình huống (ситуация) là tập hợp các điều kiện, hoàn cảnh tạo nên
những mối quan hệ này hay mối quan hệ này hay quan hệ khác, hoàn cảnh này hay hoàn
cảnh khác [20]. Đặc điểm quan trọng của ngữ pháp chức năng - hệ thống là mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và và ngữ cảnh. Luận điểm cơ bản của các nhà nghiên cứu theo trường
phái này là chúng ta không thể hiểu được ý nghĩa của những điều được nói ra nếu không
biét gì về ngữ cảnh xung quanh chúng hoặc ngược lại nếu hiểu được những gì được nói
hoặc viết ra thì cũng có thể hình dung ra ngữ cảnh của chúng. Thuật ngữ "ngữ cảnh"
(context) được hiểu là "một loại môi trường nào đó, là những gì xảy ra xung quanh ngôn
ngữ mà nó liên quan đến và môi trường phi ngôn trong đó ngôn ngữ được sử dụng"
[15,20]. Ngoài ra Halliday và những nhà ngữ pháp chức năng - hệ thống còn phân biệt
hai loại ngữ cảnh là ngữ cảnh văn hoá và ngữ cảnh tình huống (context of situation).
Ngữ cảnh văn hoá là là ngữ cảnh của ngôn ngữ như một hệ thống, của "tiềm năng về
nghĩa" (meaning potential), còn ngữ cảnh tình huống là ngữ cảnh của một hiện tượng
ngôn ngữ, là văn bản, là những trường hợp cụ thể của ngôn ngữ. "Văn hoá làm ngữ cảnh
cho ngôn ngữ như là hệ thống, còn tình huống thì làm ngữ cảnh cho những hiện tượng
của ngôn ngữ như là văn bản"[15,23]. Vậy ngữ cảnh là gì? Theo Lê Hùng Tiến [19], khi
dùng ngôn ngữ để giao tiếp, người ta thường nói ra những câu, những phát ngôn, chứ
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
7
không phải là những từ rời rạc. Tại đó, các từ kết hợp với nhau theo những quy tắc và
chuẩn mực của ngôn ngữ. Cũng trong câu hoặc phát ngôn cụ thể, người ta mới biết
được rằng: Tại trường hợp, hoàn cảnh cụ thể này, từ có nghĩa gì (tức là nó bộc lộ nghĩa
nào trong số các nghĩa của nó). Ví dụ, khi ta nghe thấy chỉ một từ "chín" trong tiếng
Việt, thì không thể biết được người nói muốn nói gì tới nghĩa nào đó của từ này. Thế
nhưng, từng nghĩa một của từ "chín" sẽ xuất hiện rất rõ ràng, nếu ta nghe thấy nó trong
các phát ngôn, những chuỗi từ đại loại như sau: Vải đang chín rộ; Chung cư gì mà cao
tận chín tâng mây; Một điều nhịn, chín điều lành; Nói năng cho chín chắn, Thời cơ đã
chín muồi; Anh đi chín đợi mười chờ Và tác giả này đã có định nghĩa về ngữ cảnh
như sau: Ngữ cảnh của một từ là chuỗi từ kết hợp với nó hoặc bao xung quanh nó, đủ để
làm cho nó được cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa. Định nghĩa này cho thấy
[5] Головин Б. Н. Введение в языкознание. М. Высшая школа, 1977, ст. 33.
[6] Дмитриева Н. С. Лексико-синтаксическая сочетаемость глаголов движения.
Наука М., 1984, cт. 19-31
[7] Дорофеева Т.М. Синтаксическая сочетаемость русского глагола. Русский
язык. М, 1986.
[8] Золотова. Г.Д. Очерк функционального синтаксиса р.я. М. 1981, ст. 11.
[9] Нгуен Тхи Тует Ле. Синтаксическая сочетаемость глаголов с
приставкой вы- в сов. рус. языке. М. 1979.
[10] Сирота Р.Р. Лексико-синтаксическая соч-ть глаголов движения и глаголов
перемещения в пространстве в сов. р. лит. языке. М. 1978.
[11] Сухотин. В. П. О глагольных-именных сочетаниях в р.я. РЯНЯ, 1978, N2, (17-
21).
[12] Шмелёв Д. Н. Синтаксическая сочетаемость слов в сов. р. языка. РЯВШ
[13] Diệp Quang Ban. Văn bản và liên kết trong tiếng Việt. Nxb Giáo dục, HN, 1998.
[14] Đỗ Hữu Châu. Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb ĐHQGHN, HN, 4.1999.
[15] Halliday M.K.A. Khái niệm ngữ cảnh trong giáo dục ngôn ngữ (Nguyễn Thượng
Hùng dịch). T/C Ngôn ngữ, Số 4, 1991, 17-33.
[16] Hồ Lê. Một số vấn đề xung quanh vị trí bắt buộc và vị trí tuỳ ý trong danh ngữ
tiếng Việt hiện đại. Nghiên cứu giáo dục, Số 10, 1992.
[17] Nguyễn Thị Tuyết Lê. Khả năng kết hợp cú pháp của động từ trong tiếng Nga.
(Những khái niệm ngôn ngữ học liên ngành và ứng dụng của chúng về giáo học
pháp). Nội san ĐHSPNN.1.1978.
[18] Lưu Bá Minh. Chu cảnh cú pháp - đặc trưng hành chức cơ bản của nhóm từ vựng-
ngữ nghĩa.
Tạp chí Ngôn ngữ, HN, N12, 2002 (13-18).
[19] Lê Hùng Tiến. Một số đặc điểm của ngôn ngữ văn bản luật pháp tiếng Việt. LATS
Ngữ văn, HN, 1999.