TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
56
GIỮ GÌN TÔN TI TRẬT TỰ CÁC HÀNH ĐỘNG PHÁT NGÔN
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI VIỆT
THE PERFORMANCE OF THE SEQUENCE OF THE HIERACHICAL SPEECH
ACTS IN VIETNAMESE LANGUAGE COMMUNICATION
Lê Viết Dũng
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Trong giao tiếp ngôn ngữ, để thể hiện sự tôn trọng thứ bậc tôn ti trong xã hội, người
Việt sử dụng nhiều phương thức khác nhau, trong đó việc giữ gìn tôn ti trật tự các hành động
phát ngôn (HĐPN) là một phương thức đáng lưu ý. Với tư cách là một hành động xã hội, hành
động phát ngôn của người Việt có những vấn đề đáng lưu ý như: trật tự các HĐ
PN,hướng của
các HĐPN, tính đại diện của HĐPN và HĐPN zero mang nghĩa. Đây là những vấn đề thuộc về
chuẩn mực ứng xử xã hội giới hạn sự tự do của con người và khẳng định HĐPN vừa là một
quyền lợi đồng thời là một bổn phận trong giao tiếp ngôn ngữ.
ABSTRACT
In language communication, Vietnamese people may use different language strategies
to express their conformity to the hierarchy in society. Among these, the performance of
sequences of hierarchical speech acts is a significant requirement. As social acts, Vietnamese
speech acts can be identified with such distinctive features as: the order of speech acts, the
orientation of utterances, their representation and non-verbal responses or feedbacks. These
can be considered within the social norms and framework of human freedom, which enables the
interlocutor to assert that speech acts are a right and a duty in language communication.
1. Từ tôn ti trật tự trong xã hội đến việc giữ gìn tôn ti trật tự trong giao tiếp ngôn
ngữ
Quyết định này xuất phát từ một động cơ nói năng bị chi phối bởi hoàn cảnh và
HĐPN luôn luôn có một ngữ cảnh lời nói nhất định và có tác động vào ngữ cảnh
đó. Do vậy, có thể nói HĐPN cũng tuân theo một số quy luật nhất định có thể
quan sát và phân tích được.
Rõ ràng là trong một hoàn cảnh nhất định việc tham gia giao tiếp là không thể
tránh được (PEARSON, 2003) nên chủ thể giao tiếp phải chọn lựa một trong hai khả
năng:
(a) giao tiếp bằng lời Æ sẽ thực hiện một HĐPN
(b) không giao tiếp bằng lời Æ không có HĐPN
nếu (a) sẽ phải chọn lựa và quyết đị
nh:
a1, thực hiện HĐPN lúc nào? Trước, sau ai?
b2, thực hiện HĐPN hướng về ai?
Bất kỳ sự chọn lựa nào trên đây của chủ thể đều có ý nghĩa và có tác động đến
hoàn cảnh giao tiếp. Nói một cách khác, ngay cả bản thân HĐPT đã có một ý nghĩa mà
chưa cần tính đến ý nghĩa của diễn ngôn chứa đựng trong các tín hiệu ngôn ngữ.
Trong các chiến lược giao tiếp, việc giữ gìn tôn ti trật t
ự thứ bậc thực hiện các
HĐPN một cách có ý thức và có chọn lựa là một phương thức quan trọng. Chúng ta sẽ
xem xét việc thực hiện này theo cả 2 kiều: HĐPN mở đầu và HĐPN đáp.
Phân tích đoạn thoại dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ:
Ví dụ 1: “Không thể để Chuyên nói trước mình, Tính vội vàng:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
58
- Cô sang chơi
Cho cách chào của Tính là vô lễ, bà Ba hất hàm hỏi Chuyên:
- Kìa chị Ba, sao chị bảo chị khó ở””
(Khái Hưng, Thừa tự)
(Nguyễn Khắc Tường - Mảnh đất lắm người nhiều ma)
Trong tình huống này, có hai yếu tố đáng lưu ý. Sự chọn lựa từ xưng hô và sự
chủ động có HĐPN trước. Hai yếu tố này hoàn toàn tương hợp và xác lập vai trò giao
tiếp của người tham gia. Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng vị thế xã hội không đồng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
59
nhất với vai trò giao tiếp. Vị thế xã hội không đổi nhưng vai giao tiếp có thể thay đổi
tùy theo mục đích, tính chất của giao tiếp và do vậy cũng làm thay đổi trật tự các
HĐPN.
Ví dụ 3:
a). “ Cụ Giáp đã vào tới sân
Tính đứng dậy, đon đả chạy ra chào:
- A di đà phật? Bạch cụ! Bạch cụ, cụ quá bộ sang chơi”
b) “ Năm phút sau sư cụ tới…
Nhà tu hành chấp tay l
ễ phép chào
- Lạy cụ lớn ạ!
- A di đà phật! Lạy cụ !”
(Khái Hưng, Thừa tự)
Trong hai giai đoạn trên, nhà sư có hai vai giao tiếp khác nhau. Trong a) nhà sư
có vai trên, được nể trọng theo truyền thống của xã hội Việt Nam nên được chào trước.
Trong b) nhà sư đang đi quyên góp ở nhà một người vợ quan lớn nên tự hạ mình xuống
vai dưới và nên chào trước. Trật tự các phát ngôn đã cho thấy rõ tôn ti thứ bậc củ
a các
thành viên tham gia giao tiếp
3.2 Hướng của các HĐPN
Trong ví dụ 1, chúng ta đã thấy rõ ý nghĩa của hướng HĐPN. Vấn đề cần được
làm rõ thêm là trong trường hợp đối tượng giao tiếp là số đông (2 người trở lên), HĐPN
mở đầu sẽ phải ưu tiên hướng đến ai trước tiên. Chúng ta sẽ thấy rõ ý nghĩa này khi xét
(Ngô Tất Tố, Lều chõng)
Phát ngôn của ông trưởng nhắm đến cả hai người nhưng Lý trưởng phải là người
thực hiện HĐPT trước phó lý
Ví dụ 5: “- Ông dùng những gì?
Minh lại nhìn Liên, Liên liều hỏi:
- Có những món gì, bác?”
(Khái Hưng, Gánh hàng hoa)
Đoạn hội thoại này diễn ra ở một tiệm ăn. Câu hỏi nhắm vào người chồng nhưng
người này ủy quyền phát ngôn cho người vợ qua cái nhìn của mình.
3.5 Các HĐPN zero
HĐPN zero có thể là cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, và thậm chí có thể là ánh
mất nhìn và ngay cả sự im lặng. Gọi là zero bởi chủ thể không sử dụng các tín hiệu
ngôn ngữ nhưng đó cũng là HĐPN bởi vì đó cũng là cách chủ thể tham gia giao tiếp và
cũng có tác động đến quá trình giao tiếp. Chính tôn ti thứ bậc xã hội quy định các thành
viên tham gia giao tiếp được quyền hoặc buộc phải có HĐPN zero trong những hoàn
cảnh giao tiếp nhất định.
“Nhung vào buồng chào mẹ. Bà nghè không đáp cũng không quay mặt ra hỏi
chuyện nàng vồn vã như mọi lần.”
( Nhất Linh, Lạnh lùng)
“ Phó tổng thống Trần Văn Hương là người trọng lễ, ông không dám đối đáp
với thầy. Cô Sáu châm thêm nước nghe ông thoáng thở ra giữ vẻ lắng nghe”.
( Trần Kim Trắc, Con cừu của Panurge)
“Mỗi lần bà Chánh kể một người vợ lẽ thì Ông Lý lại thêm vào một câu khen
ngợi. Bà Lý yên lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng nhếch mép cười, Không biết nụ cười của
bà có vẻ mỉa mai hay đó là nụ cười tiếp khách”
(Trần Tiêu, Chồng con)
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
61
4. Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tiếng Pháp, Tiếng Anh
[1] DUBOIS J. et autres (1994), Dictionnaire de la linguistique at dé sciences du
langage, Laroussse.
[2] DUMONT L. (1999), Hom hierachicus, La systeme des cartes et ses implications,
Gallimard, Paris.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
62
[3] KERBRAT ORRECCHIONI C. (1999), Les interactions verbales T3, Armand
Colin Linguistique, Paris.
[4] MARC E., PICARD D.(1989), L’interaction sociale, PUF,Paris.
[5] MUCCHIELLI A. (1995), Psychologie de la communication, PUF, Paris.
[6] MYERS David G. (2005), Social psychologic, Mc Graw. Hill, Newyork.
[7] PEALSON Judy C. et al. (2003), Human Communication, Mc Graw. Hill,
New York.
* TiếngViệt
[8] Nguyễn Văn Chiến (1993), “Từ xưng hô trong tiếng Việt”, Việt Nam những vấn đề
văn hóa và ngôn ngữ, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội, tr 60-65.
[9] Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
[10] Lê Viết Dũng (1998), “Các phương thức biểu hiện quan hệ tôn ti trong giao tiếp
bằng lời nói của người Việt”, Tập san Khoa học Đại học Đà Nẵng, số 5/1998,
tr 231-235.
[11] Lê Viết Dũng (2002), “Về vấn đề giữ gìn thể diện tập thể của người Việt Nam
trong giao tiếp bằng lời nói”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng,
số 9/2002, tr 197-201.
[12] Nguyễn Đức Dân (1993), “Phạm trù thứ tự trong tâm thức người Việt”, Việt Nam
những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa”, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội,