NHẬP MÔN KHOA HỌC THƯ VIỆN VÀ THÔNG TIN
136
hoạt động chính trò, văn hoá, nhà khoa học, văn nghệ só
Tuy nhiên cũng có những cuốn tiểu sử giới thiệu những người
lãnh đạo, người quyền quý và những người có trách nhiệm
khác trong các hãng, các công ty hay cơ quan và các tổ chức
nhà nước, tổ chức tư nhân. Nguồn tiểu sử thường giới thiệu họ
và tên nhân vật, biệt hiệu, bút danh, năm sinh và năm mất,
nơi sinh, quê quán, đòa chỉ, số điện thoại, quá trình hoạt
động, các công trình nghiên cứu, sáng tác, phát minh. Một số
tiểu sử chi tiết còn giới thiệu kó cả về cha mẹ, vợ con nhân
vật, về lòch sử tóm tắt, thậm chí còn trích giới thiệu một phần
những công trình quan trọng của nhân vật. Nguồn tiểu sử có
ích lợi cho hầu hết mọi người từ nhà nghiên cứu tới người
không thuộc chuyên ngành. Do vậy hầu hết danh mục của
nhà xuất bản đều có các tài liệu tiểu sử, từ các tiểu sử cá
nhân của các bộ tuyển tập cho tới các danh sách đặc biệt của
các cá nhân trong các lónh vực chuyên môn.
Sự phát triển nhanh của dân số và các ngành nghề cùng
với sự nâng cao trình độ giáo dục là nguyên nhân của sự tăng
nhanh các nguồn tài liệu tiểu sử. Các đề mục có khuynh
hướng ngày càng tóm lược, nói chung chỉ giới thiệu họ tên,
ngày sinh, nơi sinh, trình độ học vấn, chức danh và đòa chỉ.
PGS. TS. PHAN VĂN
THS. NGUYỄN HUY CHƯƠNG
137
III.1.1.5 Nguồn tra cứu đòa lí. (Geographical Sources)
Nguồn tra cứu đòa lí có thể được sử dụng một cách đơn
điệu như để trả lời câu hỏi: “Nó ở đâu” hoặc cũng có thể theo
cách tế nhò và phức tạp hơn để giúp giải quyết mối quan hệ
giữa các nước liên quan trở nên rõ ràng hơn như vấn đề lãnh
138
Một nhóm khác của bản đồ là các bản đồ chủ đề, loại
này thường quan tâm đến các khả năng đặc biệt của bản đồ.
Có thể tra tìm ở đây những vấn đề về lòch sử, kinh tế, chính
trò được thể hiện dưới hình thức đồ hoạ trên bản đồ.
● Từ điển bản đồ là những từ điển đòa lí, thông thường là
các đòa danh. Từ đây sẽ tra ngược lại để tìm ra thành phố,
núi, sông hay các đặc điểm tự nhiên khác nằm ở đâu. Từ điển
bản đồ chi tiết sẽ đưa thêm vào các thông tin về dân số và
những yếu tố kinh tế chủ đạo của vùng.
● Sách hướng dẫn du lòch rất cần thiết cho việc xác đònh
hoặc hướng dẫn. Nó bao gồm mọi thông tin từ giá cả của một
phòng khách sạn ở Paris hay NewDeli tới những thắng cảnh
ở Pnompenh hay Boston.
III.1.1.6 Tài liệu chính phủ (Government Document)
Tài liệu chính phủ không phải là toàn bộ luật pháp, công
nghệ hay một loại ấn đònh nào. Tài liệu chính phủ bao gồm
nhiều loại hình khác nhau từ báo cáo về quân sự tới quá trình
sinh trưởng của cây cảnh. Song tất cả đều có một điểm chung
là số lượng rất lớn.
Tài liệu chính phủ là bất kì một xuất bản phẩm nào do
chính phủ cấp chi phí in ấn hoặc do các cơ quan của chính
phủ xuất bản. Những tài liệu được quan tâm thường là của
các cơ quan như: Quốc hội, toà án, cơ quan hành pháp.
Dưới góc độ sử dụng, tài liệu được phân chia thành:
● Hồ sơ của cơ quan hành chính nhà nước
● Tài liệu nghiên cứu của các chuyên viên bao gồm số
lượng lớn các bản thống kê và dữ liệu có giá trò khoa học và
kinh doanh cao.
● Nguồn thông tin đại chúng: Có thể là sách, bản thảo, vi
loại hình xuất bản phẩm khác mục đích là nhằm chú dẫn các
tài liệu trong chủ đề hẹp. Ví dụ như Chú dẫn ứng dụng khoa
học và công nghệ (Applied Science & Technology Index); (3)
Chú dẫn một loại tạp chí: Trước đây khá phổ biến, ngày nay
ít được xuất bản. Một trong những chú dẫn khá nổi tiếng loại
này là National Geographic Index từ 1888 - 1988 (Mỹ).
+ Chú dẫn báo được xuất bản khá nhiều ở Mỹ, Anh, Pháp
trong đó nổi bật là The New York Times Index.
+ Chú dẫn xuất bản phẩm liên tục: Bao gồm cả chú dẫn
NHẬP MÔN KHOA HỌC THƯ VIỆN VÀ THÔNG TIN
140
những tài liệu xuất bản và những tài liệu không xuất bản như
kỉ yếu hội nghò khoa học và các tài liệu đại hội, các tài liệu
chính phủ
+ Chú dẫn bộ sưu tập: Chú dẫn các sưu tập thơ kòch, tiểu
thuyết, bài hát
+ Chú dẫn khác: là chú dẫn cho tất cả các loại tài liệu từ
sách, sáng chế phát minh, tiêu chuẩn tới âm nhạc
III.1.2 Thư mục (Bibliography)
III.1.2.1 Khái niệm
Bắt nguồn từ một danh từ cổ Hy lạp được ghép gồm hai
thành phần Biblio (Sách) và Grapho ( Ghi chép), thuật ngữ
(Bibliographo) có nghóa là cuốn ghi chép về sách vở. Theo
gốc Hán Việt, thư mục cũng có nghóa là bản kê các sách vở
được sắp xếp thứ tự. ở Phương Đông đồng nghóa với thư mục
còn có Kinh tòch chí.
Trong cuốn The American Heritage Dictionary of the
English Languages thư mục được giải thích là: (1) Danh mục
các tác phẩm của một tác giả hoặc một nhà xuất bản; (2)
Danh mục các bài viết liên quan đến một chủ đề; (3) Danh
hoặc kết hợp nhiều bản thư mục, cán bộ thư viện có thể truy
nhập tới các biểu ghi hoàn chỉnh của mọi lónh vực quan tâm.
Cả những biểu ghi hiện tại và quá khứ. Thư mục chỉ ra không
những các tài liệu đang xuất bản mà còn giúp đònh hướng
những tài liệu sẽ xuất bản.
● Tính chi tiết: Nói chung thư mục giới thiệu các tác
phẩm nguyên vẹn như một cuốn sách, một bản tạp chí, một
báo cáo nhưng thư mục cũng có thể giới thiệu những phần
riêng trong một tài liệu như các thư mục bài trích sách, trích
báo, tạp chí
● Tính đa dạng: Thông thường sách là thành phần chính
của hầu hết các bản thư mục, nhưng thư mục cũng bao gồm
các loại hình xuất bản khác từ các báo cáo, tài liệu tới các
loại hình đa dạng của dữ liệu đọc máy.
● Tính phân biệt: Thư mục thường nêu những thông tin
chuẩn tương tự những thông tin được nêu trong mục lục như
tác giả, nhan đề, lần xuất bản, nơi xuất bản, đặc điểm số
lượng Một số thư mục còn đưa cả các yếu tố như số tiêu
NHẬP MÔN KHOA HỌC THƯ VIỆN VÀ THÔNG TIN
142
chuẩn quốc tế của sách (International Standard Book
Number - ISBN) do nhà xuất bản đặt ở trang bên trái của
trang tên sách để phân biệt tên sách này với tên sách khác.
Cũng với ý nghóa như vậy số loại chuẩn quốc tế (Interna-
tional Standard Serial Number - ISSN) được đưa vào để phân
biệt các xuất bản phẩm đònh kỳ.
● Tính chỉ chỗ: Tài liệu nằm ở vò trí nào trong thư viện
hoặc ở đâu có thể tìm đọc tài liệu.
● Tính chọn lọc: Thư mục giúp cán bộ thư viện và bạn
đọc dễ dàng chọn tìm tài liệu từ những kho sách phong phú
mỗi năm)
2.Thư mục quốc gia quá khứ (giới thiệu tài liệu xuất bản
từ những năm trước, trong một thời gian dài) như “thư mục
xuất bản phẩm trong thời kì chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ ở miền Bắc Việt nam”.
Việc biên soạn thư mục quốc gia được giao cho cơ quan
theo dõi và nhận xuất bản phẩm lưu chiểu. Thư mục quốc gia
Việt nam do thư viện quốc gia biên soạn và phát hành.
III.1.2.2.2 Thư mục thông báo
Là thư mục mang tính chất chuyên khoa có nhiệm vụ
thông báo các tài liệu quan trọng về các ngành tri thức phục
vụ nghiên cứu khoa học và sản xuất. Tiêu chuẩn tài liệu được
chọn chủ yếu dựa vào giá trò khoa học, giá trò nghiên cứu,
không phụ thuộc thời gian xuất bản, ngôn ngữ hay loại hình
tài liệu. Tuy nhiên loại tài liệu được quan tâm là các bài trích
sách báo và tạp chí chuyên môn.
Có hai loại thư mục thông báo:
1. Thư mục thông báo khoa học tập hợp tài liệu nghiên
cứu sâu nhằm phục vụ những đối tượng độc giả nhất đònh của
một ngành hoặc một số ngành khoa học.
2. Thư mục thông báo rộng rãi giới thiệu những tài liệu
mới xuất bản cho mọi đối tượng độc giả các ngành nghề khác
nhau. Thường gặp loại thư mục này trên các trang báo và tạp
chí hoặc xuất bản thành các tập riêng biệt để giới thiệu,
quảng cáo một số sách mới xuất bản và sách sắp xuất bản của
NHẬP MÔN KHOA HỌC THƯ VIỆN VÀ THÔNG TIN
144
một nhà xuất bản nào đó. Trong các thư viện và cơ quan
thông tin, có loại danh mục giới thiệu sách mới nhập treo tại
phòng đọc, phòng mượn hoặc gửi tới các cá nhân, bộ phận
145
học nghệ thuật, khoa học Tuy cùng nhằm mục đích tuyên
truyền, giáo dục song thư mục phê bình khác thư mục giới
thiệu ở chỗ đối tượng phục vụ rộng rãi hơn và thư mục phê
bình thường áp dụng cho những tài liệu thuộc lónh vực khoa
học xã hội, chủ yếu là tác phẩm văn học. Thư mục phê bình
có quan hệ rất gần gũi với công tác phê bình văn học song
thư mục phê bình chỉ giới hạn trong phạm vi giáo dục, tuyên
truyền các ấn phẩm giúp độc giả tự tìm đọc và tiếp thu đúng
đắn giá trò tác phẩm đồng thời giúp tác giả nhận thấy ưu điểm
và thiếu sót của họ trong quá trình sáng tác.
III.1.2.2.5 Nhóm thư mục đặc biệt
Ngoài 4 loại thư mục kể trên, dựa vào nội dung tài liệu
và tính chất của tài liệu, có thể bổ sung thêm nhóm thư mục
đặc biệt bao gồm thư mục nhân vật, thư mục đòa chí, thư mục
các tài liệu thư mục (Thư mục bậc 2).
●
Thư mục nhân vật: Để phục vụ công tác nghiên cứu,
tìm hiểu sâu về các danh nhân, thư mục nhân vật tập hợp các
tài liệu về tiểu sử, sự nghiệp và những tác phẩm của các vò
lãnh tụ, các anh hùng dân tộc, các nhà hoạt động nổi tiếng
trong các lónh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học, công nghệ.
Thư mục nhân vật có thể giới thiệu một nhân vật hoặc một
nhóm nhân vật có cùng ngành nghề hay cùng sinh sống ở một
đòa phương
●
Thư mục đòa chí: Các thư viện khoa học tổng hợp tỉnh,
thành phố rất chú ý công tác biên soạn thư mục đòa chí. Với
nhiệm vụ tập hợp tài liệu xuất bản tại đòa phương, tài liệu
nghiên cứu về đòa phương và tài liệu của các tác giả người
quan trọng trong các thư viện và cơ quan thông tin. Với
chức năng phản ánh toàn bộ kho tư liệu theo các đặc điểm
khác nhau: Vần chữ cái của tiêu đề miêu tả, nội dung hay
chủ đề của tài liệu.
Hệ thống mục lục hoàn chỉnh thường có 3 loại:
- Mục lục chữ cái
- Mục lục phân loại
- Mục lục chủ đề
Mỗi loại có một vò trí riêng và thích ứng với các phương
pháp tra tìm tài liệu khác nhau. Mục lục chữ cái giúp xác
đònh nhanh chóng những tác phẩm của một tác giả. Mục lục
PGS. TS. PHAN VĂN
THS. NGUYỄN HUY CHƯƠNG
147
phân loại phản ánh thành phần nội dung kho tư liệu. Mục
lục chủ đề tập hợp tư liệu theo lô gích riêng của từng vấn
đề. Ngoài ra còn có mục lục liên hợp được xây dựng trên
kết quả phối hợp hoạt động của một số thư viện cùng khu
vực hoặc cùng ngành. Riêng cho cán bộ thư viện có thêm
mục lục công vụ.
III.1.3.1 Mục lục chữ cái
Các phiếu miêu tả được sắp xếp trong mục lục chữ cái
theo thứ tự vần chữ cái của tiêu đề miêu tả (Họ tên tác giả
hoặc tên tài liệu ). Đây là loại mục lục dễ tổ chức, dễ sử dụng
và phù hợp với tâm lí, thói quen của đại bộ phận bạn đọc. Do
vậy tại những thư viện nhỏ có trình độ xử lí kó thuật thấp, mục
lục chữ cái đóng vai trò là bộ máy tra cứu duy nhất.
Mục lục chữ cái có cấu tạo khá đơn giản, phần chủ yếu là
các phiếu miêu tả được sắp xếp theo vần chữ cái họ tên tác
giả hay tên tài liệu. Để phân chia hộp phiếu mục lục thành
Sao Đỏ xem Nguyễn Lương Bằng
Nguyễn Khắc Hiếu xem Tản Đà.
Đối với họ tên tác giả nước ngoài được phiên âm khác
nhau do các lần xuất bản khác nhau cần hướng dẫn cho bạn
đọc tới phiên âm đúng nhất.
Ví dụ:
Mã Khắc Tư xem Mác
Đi phô Đa ni en xem Đê phô Đa ni en.
2.Hướng dẫn tài liệu áp dụng cho những tài liệu có tên
bắt đầu bằng điều lệ, nghò quyết, báo cáo của các cơ quan,
tổ chức được miêu tả theo tên tác giả tập thể. Để giúp bạn
đọc nhanh chóng tìm được tài liệu, cần có phiếu chỉ chỗ.
Ví dụ:
Điều lệ xem Tên cơ quan;
Nghò quyết xem Tên cơ quan.
Nguyên tắc sắp xếp phiếu trong mục lục chữ cái khá linh
hoạt. Đối với những thư viện nhỏ ít tài liệu, có thể xếp chung
hộp phiếu cho các ngôn ngữ có cùng nguồn gốc như Mục lục
chữ cái La tinh (Anh, Pháp, Đức), Mục lục chữ cái Xlavơ (Nga,
Bun ga ry, Xéc bi), Mục lục chữ cái tượng hình (Trung quốc,
PGS. TS. PHAN VĂN
THS. NGUYỄN HUY CHƯƠNG
149
Triều tiên). Những thư viện lớn có kho sách ngoại văn phong phú
sẽ tổ chức các hộp mục lục riêng cho từng ngôn ngữ.
Hiện nay, ở Việt nam có hai trường phái sắp xếp mục lục
họ tên tác giả cá nhân khác nhau. Một trường phái áp dụng
nguyên tắc miêu tả thuận, tức là theo đúng trật tự Họ- Đệm-
Tên. Khi tổ chức mục lục, lấy dấu hiệu Họ làm cơ sở để sắp
xếp. Tiếp đó xét đến Đệm và Tên, đúng như trật tự bình
Các tác giả trùng họ, căn cứ vào chữ cái đầu của đệm,
tên để xếp. Tên tác giả tập thể trùng với tên tác giả cá nhân
thì xếp tác giả tập thể trước.
Ví dụ:
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Đoàn Giỏi
Một số ngôn ngữ nước ngoài có quán từ, mạo từ như a,
an, the (Anh), le, la, les (Pháp), die, das (Đức) đứng ở đầu
câu thì bỏ qua và lấy chữ cái đầu của từ tiếp theo làm căn cứ
để sắp xếp.
Ví dụ:
Banking system form
A hierarchy of clerical level jobs
Water world
The world we manager
hay
Les bibliothèques universitaires
Conservation des documents
La tâche et problèmes
III.1.3.2 Mục lục phân loại
Cùng với mục lục chữ cái, mục lục phân loại là một trong
hai loại mục lục quan trọng nhất của mọi loại hình thư viện
và cơ quan thông tin. Nếu như mục lục chữ cái giới thiệu kho
PGS. TS. PHAN VĂN
THS. NGUYỄN HUY CHƯƠNG
151
tư liệu theo đặc điểm hình thức - thứ tự vần chữ cái của các
ngôn ngữ - thì mục lục phân loại lại giới thiệu thành phần nội
dung của kho tư liệu.
Mục lục phân loại được xây dựng trên cơ sở bảng phân
NHẬP MÔN KHOA HỌC THƯ VIỆN VÀ THÔNG TIN
152
loại theo chủ đề. Ô tra chủ đề là “chìa khoá” rất quan trọng
hỗ trợ đắc lực bạn đọc tìm nhanh vò trí các đề mục qua hệ
thống chủ đề quen thuộc. Các đề mục chủ đề thường được
miêu tả trên phiếu kèm theo kí hiệu và được xếp theo thứ tự
vần chữ cái tên các chủ đề. Các chủ đề phụ có thể được xếp
theo vần chữ cái hoặc lô gích của vấn đề. Để làm nổi bật chủ
đề, tên gọi của chủ đề thường đảo danh từ lên trước tính từ.
Ví dụ:
-Lúa
- Trồng
- Thu hoạch
- Chế biến
III.1.3.3 Mục lục chủ đề
Với nhiệm vụ giới thiệu thành phần kho sách theo chủ đề
của tài liệu, mục lục chủ đề - được sắp theo thứ tự vần chữ
cái các chủ đề - có ý nghóa quan trọng đối với các thư viện
khoa học, đặc biệt là các thư viện khoa học chuyên ngành.
Khác với mục lục phân loại, thứ tự các đề mục và tiểu đề
mục trong mục lục chủ đề tuân theo một lô gích rất chặt chẽ.
Về mặt nội dung khoa học, mục lục chủ đề được tổ chức
trên cơ sở trật tự hình thức. Các đề mục cạnh nhau không liên
quan với nhau về nội dung tri thức.
Có thể coi mục lục chủ đề là một loại mục lục bổ sung,
hỗ trợ cho mục lục phân loại. Mục lục chủ đề nói chung
không phản ánh toàn bộ kho sách như mục lục chữ cái hay
mục lục phân loại.
Mặc dù cùng được xây dựng trên cơ sở nhóm các đề mục
thành chủ đề nhưng ô tra chủ đề và mục lục chủ đề đảm nhận chức