Báo cáo nghiên cứu khoa học: "THĂM DÒ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY HOA CÚC TẠI THÀNH PHỐ HUẾ" - Pdf 19



51
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 57, 2010 THĂM DÒ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH
TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY HOA CÚC TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
Hoàng Thị Thái Hoà, Đỗ Đình Thục
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Thí nghiệm tiến hành trong vụ Xuân 2008 tại thành phố Huế, gồm có 6 công thức thí
nghiệm sử dụng các loại phân bón lá khác nhau. Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định ảnh
hưởng của các loại phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc và xác định loại
phân bón lá mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Kết quả nghiên cứu chỉ ra phân bón lá Diệp
Lục Tố tỏ ra có hiệu lực cao nhất về chiều cao cây, số nụ trên cây, thời gian sinh trưởng, chất
lượng hoa và hiệu quả kinh tế, tiếp theo đó Growmore. Nghiên cứu tiếp theo thực hiện tập trung
vào liều lượng phân bón lá Diệp Lục Tố và những loại phân bón lá đang sử dụng phổ biến tại
thành phố Huế.

1. Đặt vấn đề
Cúc (Chrysanthemum sp.) là một trong những loại hoa được trồng từ lâu đời và
quan trọng nhất trên thế giới. Hiện nay, hoa cúc được trồng phổ biến khắp nơi, cúc có
mặt ở các vườn hoa công viên, trong phòng khách, trong các lễ hội… Ngoài giá trị làm
cảnh, cây hoa cúc còn có nhiều giá trị sử dụng khác như làm thuốc, làm các loại thức
uống, làm thực phẩm… Con người đã và đang từng bước nghiên cứu nhằm khai thác tốt
nhất các giá trị của cây hoa cúc để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống [1, 2, 3].
Ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, mặc dù có những vùng sản xuất với
những giống cúc nhập nội từ các nước châu Âu như: Pháp, Hà Lan, Trung Quốc có
những giống đã trở thành giống địa phương như giống cúc đại đóa vàng, đại đóa cổ
đồng (màu vàng đậm). Bên cạnh đó, các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên

- Agriconik: Phân dạng dung dịch lỏng đóng gói 10 ml: Thành phần: N: 0,1%; P:
0,02%; K: 0,04, Cu: 5,0ppm; Fe: 524,1ppm; Zn: 43,0ppm; Mg: 140ppm; Mn: 2,3ppm;
Bo: 0,7ppm; Ca: 30,9ppm; Sodium-O-Nitrophenol: 0,4%; Sodium-P-Nitrophenol:
5,1%; Sodium-K- Dinitrophenol.
- Diệp lục tố: Phân dạng dung dịch lỏng đóng chai nhỏ 10ml. Thành phần: N:
5%; K: 5%; P: 5% ; Bo: 0,5%; Zn: 0,02%; Mg: 3%; Mn: 0,6%; Mo; Fe; Ni; Cu; GA
3
.
- Phân cá: Chế biến từ cá tươi và đường RS: Trộn cá với đường theo tỉ lệ 1:1 và
cho vào ủ trong thùng kín, sau 3 tháng chiết lấy dung dịch để dùng làm phân bón.
- Hỗn hợp phân ngâm: Chế biến từ cá tươi, đường và NPK (16-16-8), hòa thêm
NPK (tỉ lệ 1 lít phân: 250g NPK).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm bao gồm 6 công thức, mỗi công thức 3 lần nhắc lại:
- Công thức I: Đối chứng (nền): 20 tấn phân chuồng hoai mục + 100 kg N + 90
kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O + 400 kg vôi/ha + nước lã.
- Công thức II: Nền + Diệp lục tố.
- Công thức III: Nền + Growmore.
- Công thức IV: Nền + Agriconik.
- Công thức V: Nền + Phân chiết xuất từ cá (cá + đường).
- Công thức VI: Nền + Hỗn hợp ngâm ủ (cá + một số chất dinh dưỡng vô cơ
khác).
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD).

(cành)
CV
(%)
TB
(mm)
CV
(%)
TB
(cm)
CV
(%)
TB
(cm)
CV
(%)
I 28,03 12,99 5,70 7,84 9,63 6,17 7,69 6,59
II 27,50 12,66 5,72 8,99 9,75 5,62 7,62 8,51
III 26,40 14,05 5,75 8,15 9,81 5,99 7,72 7,11
IV 26,23 15,62 5,80 5,81 9,64 7,94 7,74 6,29
V 26,90 11,68 5,77 8,43 9,84 6,83 7,63 8,23
VI 26,13 13,73 5,78 8,70 9,81 7,70 7,83 6,67
LSD
0,05 1,77 0,24 0,33 0,28
0,01 2,34 0,32 0,44 0,38 54
Qua bảng số liệu nhận xét:
Trong các công thức thí nghiệm, sự khác nhau về số lượng cành cấp 1 trên cây là
không lớn. Công thức I có số lượng cành cấp 1 lớn nhất (28,03 cành/cây). Như vậy,

VI 114,07 7,01 78,03 5.56 68,41
LSD

0,05 5,2471 2,4445
0,01 6,9259 3,2266 55
Qua bảng 2 cho thấy:
Cây hoa cúc ở các công thức thí nghiệm có số lượng nụ tương đối lớn (trung
bình toàn thí nghiệm là 113,98 nụ/cây). Các công thức khác nhau có số nụ khác nhau
khá rõ. Kết quả xử lý thống kê 6 công thức phân thành 3 nhóm, công thức đối chứng có
số nụ thấp nhất là 100,47 nụ/cây, nhóm 2 bao gồm các công thức II, III và VI có số nụ
cao hơn đối chứng nhưng thấp hơn hai công thức còn lại. Nhóm có số nụ cao nhất bao
gồm công thức IV và V (119,63 và 121,37 nụ/cây). Như vậy, công thức V có số nụ trên
cây cao nhất trong thí nghiệm (hơn đối chứng 20,9 nụ), công thức IV có số nụ cao thứ
hai, công thức I có số nụ thấp nhất. Các công thức có bón phân bón lá đều có mức độ
biến động số nụ giữa các cây trong công thức cao hơn so với công thức đối chứng
(không bón phân bón lá). Phân bón lá làm tăng số nụ trên cây nhưng cũng làm tăng mức
biến động số nụ giữa các cây.
Số lượng hoa trên cây là yếu tố quyết định chất lượng cây hoa cúc. Số lượng hoa
càng nhiều thì càng có giá cao. Công thức II có số hoa cao nhất trong số các công thức
thí nghiệm (80,03 hoa/cây), ở độ tin cậy 95% thì cao hơn các công thức IV, V và I, ở độ
tin cậy 99% thì cao hơn công thức đối chứng và công thức V. Như vậy, ở công thức II
(bón Diệp lục tố), công thức III (bón Grow more) và công thức VI (bón phân hỗn hợp)
thì hiệu quả làm tăng tỷ lệ nụ nở thành hoa là thấy rõ. Bón phân cá (ở công thức V) và
phân Agriconik (ở công thức IV) thì không làm tăng tỷ lệ nụ nở thành hoa so với đối
chứng.
3.3. Ảnh hưởng của các loại phân bón đến chất lượng thương phẩm hoa ở
các công thức thí nghiệm

TB
(ngày)
CV (%)
TB
(ngày)
CV
(%)
I 4,95 8,86 vàng tươi 18 8,20 14 10,79
II 5,01 7,49 vàng tươi 21 8,31 17 9,73
III 4,89 8,68 vàng tươi 20 5,18 16 4,77
IV 5,01 7,21 vàng tươi 20 11,65 16 13,10
V 5,24 9,87 vàng tươi 20 9,92 17 13,10
VI 5,10 10,10 vàng tươi 21 6,12 16 4,60
LSD

0,05

0,26 0,89 0,74
0,01

0,29 1,18 0,98
Màu sắc hoa ở các công thức có màu vàng tươi đặc trưng của giống một cách
đồng đều. Trong giới hạn khả năng đánh giá cảm quan bằng mắt thường không nhận
thấy có sự sai khác nào đáng kể. Để đánh giá chính xác, chúng tôi tiến hành theo dõi về
độ bền màu hoa của các công thức. Độ bền màu hoa được tính bằng khoảng thời gian từ
khi hoa nở đến khi hoa phai màu (chuyển từ vàng tươi sang vàng nhạt).
Độ bền hoa là khoảng thời gian từ hoa bắt đầu nở đến khi hoa bắt đầu tàn. Độ
bền hoa của cây hoa cúc thí nghiệm được căn cứ vào độ bền của hoa nở đầu tiên (hoa
trên thân chính). Trong các công thức thí nghiệm có bón phân bón lá so với không bón
phân bón lá có sự khác nhau đáng kể về độ bền hoa. Các công thức có bón phân bón lá

1.900.000 - 2.100.000 đồng/ha.
Tổng thu và tiền lãi từ việc bán sản phẩm thu được theo các công thức thí
nghiệm có sự chênh lệch đáng kể, công thức II có tổng thu cao nhất (411.000.000
đồng/ha), cao hơn ở công thức đối chứng 94.000.000 đồng/ha. Các công thức khác có
tổng thu 381.000.000 - 398.000.000 đồng/ha, đều cao hơn so với công thức đối chứng
trên 80.000.000 đồng/ha. Ở các công thức thí nghiệm, công thức II có VCR cao nhất
(49,35), công thức III có VCR cao thứ 2 (41,00); công thức V có VCR thấp nhất
(31,71); VCR của công thức IV và VI lần lượt là 37,37 và 32,23.
Như vậy, việc đầu tư cho việc bón các loại phân bón lá cho cây hoa cúc đều cho
chỉ số lãi suất khá cao. Nếu chỉ xét hiệu quả kinh tế khi bón các loại phân bón lá trong
giới hạn thí nghiệm thì phân Diệp lục tố cho hiệu quả cao nhất vì có số hoa hữu hiệu
tương đối lớn và đồng đều (56,67% cây có trên 70 hoa/cây, 43,33% cây có 60-70
hoa/cây và không có cây nào có số lượng hoa trên cây dưới 60). Trừ đối chứng thì công
thức V có hiệu quả thấp nhất vì chất lượng hoa không đồng đều, hoa loại 3 chiếm tỷ lệ
khá lớn (36,67% cây có trên 70 hoa/cây, 43,33% cây có 60-70 hoa/cây, 20% cây có số
hoa trên cây thấp hơn 60).
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
- Số nụ và số hoa của cây hoa cúc: Phân cá có tác dụng tốt nhất cho sự ra nụ.
Phân Diệp lục tố có tác dụng tốt nhất trong việc nâng cao tỷ lệ nụ nở thành hoa nên cho
hiệu quả về số hoa cao nhất.
- Chất lượng hoa của cây hoa cúc: Phân diệp lục tố có tác dụng tốt nhất trong
việc giữ độ bền hoa và độ bền màu hoa. Phân cá có tác dụng tốt nhất trong việc tăng
đường kính hoa. Xét tổng thể về tác dụng tới chất lượng hoa cúc chi Đà Lạt thì phân
Diệp lục tố là tốt nhất.
- Hiệu quả kinh tế của việc trồng cây hoa cúc: Diệp lục tố là loại phân cho hiệu
quả kinh tế cao nhất, tiếp đó là phân Growmore.
Trong số các loại phân bón lá được sử dụng trong thí nghiệm thì phân Diệp lục
tố có ảnh hưởng tốt nhất đến sinh trưởng phát triển của cây hoa cúc trồng làm cảnh.


which foliar fertilizer could help obtain the highest economic efficiency. The results have
indicated that the application of foliar fertilizer namely Diep Luc To results in the best
performance in terms of plant height, number of buds per plant, duration, flower quality and
economic efficiency, followed by Growmore. Further studies will focus to the rate of foliar
fertilizer (Diep Luc To) and other popular foliar fertilizersused in Hue city.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status