Văn học Pháp ngữ
Việt Nam
ự hiện diện về chínhtrị của nướcPhápở Việt Namđi kèm theo sự du
nhập, cả bằng con đườngtự do và thiết chế, củatiếng Pháp, một trunggiới
khôngthể thiếuđối vớicác nhà vănPháp ngữ. Trongbài viết “Tìnhhình của
Pháp ở ba nướcĐôngDương”PierreBandon đã tổngkết sự phổ biến tiếng
Pháp ở Đông Dương thông quacác thiết chế tôngiáo và giáo dục, trong đó chỉ
ra quá trìnhlịch sử lâu dài của những sự chuyển đổi quyền lựcchính trị ở vùng
này và những sự phân nhánh ngôn ngữ của chúng. Bandondẫn lời Bùi Xuân
Bào về vấn đề này như sau:“Nhờ tiếp xúc vớitiếng Pháp, cấu trúc câu trở nên
lôgich hơn, những sự cấu âm phatrộn vừa uyển chuyểnvừa hợp lý hơn”.
Trongtiến trình tiếng Việt, những sự phát triểnquan trọng nhất diễn ra
vào cuối thế kỷ mười chín. Các viên quan thạoba thứ tiếng đượcgiao nhiệmvụ
dịch các tài liệu chínhthức. Theo Bandoncho hay, các viên quanđó đã cố rèn
giũacác “công cụ” ngônngữ mới trong tiếng Việtđể dịch cho có hiệuquả, các
công cụ phái sinhtừ tiếng Hán hoặc vay mượntừ tiếng Pháp. Vìvậy“ trong
khuôn khổ ngônngữ và tư tưởng hệ đượctạo nên bởi tiếng Pháp vàtiếng Hán
tiếngViệt hiện đạiđã phát triển. Sự tiến triển củavăn họcPháp ngữ như vậy là
đi kèmvới sự tiến triển của tiếngViệtthay vì đối lập lại: tìnhhìnhmớiđã được
chú ý nhiều”. Năm 1912,các khoathi đã có thêm phần tiếng Pháp và tiếngViệt,
ngoài phần tiếng Hán vốnđã cótừ xưa nay.
Việc truyền bá tiếngPháp mộtcách có quy củ cóthể thấyngaykhimới
bắt đầu áp đặtchính quyền thuộc địaở Nam Kỳ,nơicác cơ quan hànhchính
thuộcđịa và doanhnghiệp Pháp đang rất cần cócác viên thông ngôn,thư ký,
trợ lý.Nhân tố này gắn với việc một hệ thống trường Pháp-Việt dần dầnđược
thành lập để đàotạo nguồn nhân công cần thiết và quảngbá việc dùng tiếng
Pháp trên khắp vùng thuộc địa.Hệ thốngđó không loạitrừ ngôn ngữ và văn
hoá bản xứ; ở cấp sơ họctiếngViệtđược dùng như mộttrung gian giảng dạy.
Sangcác cấp tiếp theotiếng Pháp đượcdùng ngàycàng nhiều hơn.
Tiếng Pháp và tiếng Việt đượcsử dụngngang bằng nhautrong lớp học,ít
nhất là về mặt lý thuyết. Hệ thốngnàyđã hỗ trợ choviệc đàotạo maitres
văn hoácủa dân chúng, và đàotạo cácnhân viêndân sự - minhhoạ chosự thích
hợp này.Đối với người Việt, giaicấp trung lưucó thể gửicon cái mình vào
trường lycée để đổi lại lòngtrungthànhcủa họ, trong khicác giai cấp khácnhìn
thấycác trường Pháp-Việt như một công cụ để leo lên trên bậcthang xã hội.
Bandonkết luận:
Sự đoàn kết về mặt kinh tế và xã hội giữa chính quyền thuộc địa và giai
cấp tư sản bản xứ đã bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của việc phổ biến
tiếng Pháp ở Đông Dương. Điều hay là sự cố kết vững chắc đó đã giữ cho tình
hình này được nguyên trạng cho đến năm 1950, ngay cả ở Bắc Việt Nam, dù đã
có những biến động xảy ra bắt đầu từ 1945.
Việc người Việt nắm vững tiếngPhápđã lát đườngcho sự xuất hiện của
văn họcPháp ngữ Việt Nam.Trongtám tranggiới thiệu về phần ViệtNam trong
bài Văn học viếtbằngtiếng Pháp ở ngoàinước Pháp, Bùi Xuân Bào viết:
Các tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của người Việt Nam,xét về số lượng
và chất lượng,đã tạo nên một nền văn học có lý dotồn tại tronglòng cộng đồng
dân tộc và cómộtđịa vị xứng đáng tronglòng văn học thế giới. Làhiện thực
Việt Nam,trong đó có sự nhập cuộc của số phậnvà tự do, sự chuyển động
khôngthể đảo ngược của lịch sử và những nguyên cớ của hành động sángtạo,
văn họcViệt Namviết bằngtiếngPháp tiếntriển trong bối cảnhcủalịch sử Việt
Nam.
Theo đó,ông chialịch sử văn họcPháp ngữ rabốn giaiđoạn, mỗi giai
đoạn ứng với các sự kiệncủa lịch sử chínhtrị.
Đầu tiên là giaiđoạn chuẩn bị, bắt đầuvới việc đưa tiếng Phápvào Việt
Nam giữa thế kỷ XIX và kết thúcnăm 1913,khi sáng tácvăn họcbằng tiếng
Pháp của các tác giả người Việt Nam viết lần đầutiên được côngbố. ÔngBào
ghi nhận rằngviệc quan tâm học tiếng Pháp là nguyên nhân sâu xacủa văn học
Pháp ngữ Việt Nam;trướcthời thuộc địa triều đìnhHuế và một số họcgiả đã
quan tâm đặc biệt đến tiếng Pháp như một thứ tiếng ngoại giao và văn học.
Năm 1862,chính quyềnthuộc địa tuyên bố lấy tiếng Pháp làm trunggian ngôn
ngữ cho hệ thốnggiáo dục mới, thúc đẩysự chú ý đến cả tiếng Pháp và
các vở kịch của mình, xuất bản tập Eternels regrets(Nỗiluyến tiếc khôn nguôi)
năm 1938,tác phẩm đã manglại cho ôngBằng ĐạiDanh Dự hạng nhất với lời
khentặng từ Bangiám khảo Cuộc thi mùa đông1936-37của Viện Hàn lâm Jeux
Florauxde Nice.Những khác biệtvề thế hệ và học vấn và những nỗ lực sáng tạo
được bộc lộ trongcác ấn phẩm tập thể của nhóm“Trách nhiệm” ở Huế và báo
trướcnhững sự xungđộtcông khaicủa giaiđoạn này đối với giai đoạn sau.
Giai đoạn thứ ba từ 1940đến 1945được đánhdấubởi biếnđộng chính
trị vàxungđột vũ trang. Trong Thế chiến II, Việt Nambị áchthống trị của đế
quốcNhật Bản thông quacáccấu trúc chínhquyền của thực dânPháp, tạo nên
tình thế “một cổ hai tròng”. Sau chiến tranh, nhữngngười Cộng Sản lãnhđạo
cuộc đấutranh giành độc lập dân tộc mà giaiđoạn đầukết thúc với sự đại bại
của Pháp ở ĐiệnBiên Phủ năm 1954và với sự chia cắt đất nước. Thậm chí dù
cho Việt Namlàquốc giabị bao vây trong thời giannày, phần lớn các tácphẩm
văn họcviết ra cũng không phảnánh chủ đề nhạy cảm nhất đó.
Trongthời kỳ Pháp-Nhật chiếm đóng,hai chiến dịch tuyên truyền đã
được phát động. Phápmuốn biến Việt Nam thành mộtbộ phận trong khối Liên
Hiệp Pháp trongkhi Nhật muốn tập hợp tất cả các nướcvùngViễn Đông dưới
quyền lựccủa nó để đối lại vớiphươngTây. Các hoàn cảnhđó đã thúc đẩy chủ
nghĩa quốc gia mới nẩy lênở Việt Nam tìmcáchquay về nguồn, không chỉ
nhằmvào ngườiViệt ở trongnước, màđếncả những ngườiViệt sống ở Pháp.
Theo nguồn mạch này,các sáchtiểu luận và biên khảo về văn hoávà lịch sử
Việt Namnhư LaCivilisationannamite(Văn minhAnnam) và Le Culte des
immortelles en Annam (Tục thờ cúng tổ tiên ở Annam) của NguyễnVăn Huyên,
cả haicuốn đềura năm1944, có tầm quantrọng hàng đầu. Do đó không cógì là
ngạc nhiên khi các tập truyệncổ Việt Namxuấthiện:TrịnhThục Oanhcộngtác
với Marguerite viết LaTortued’or (Rùa vàng);Trần Văn Tùng, LeCoeur
dediamant (Trái tim kim cương); và Phạm Duy Khiêm, Légendes des terres
sereines (Truyền thuyết xứ sở thanh bình) và La Jeune Femme de Nam Xương
(Thiếu phụ Nam Xương). Cuốn Légendes des terres sereines (1942) đã mang lại
Giải thưởng Đông Dương cho tác giả của nó. Ông Khiêm cũng đã ghi lại quãng
demeure(Mất chốn nươngthân,1961) - cho thấy sự phổ quát hoácủa ông đối
với cuộcxungđột Đông/Tây mà ôngđã nêu ra lần đầu trongcuốnFrères
de sang.
Mặcdùphần lớnvăn họcđược viếttrongcác cuộc chiến tranh trước
khôngtrực tiếp phản ánhhiện thực chínhtrị, tình trạngxungđột ở Việt Namđã
để lại dấu ấn sâusắc trên các tácphẩm giaiđoạn này và được thể hiện theo
những cách khác nhau. Tiểuthuyết LesReflets denos jours (Nghĩ về thời chúng
ta, 1955) của Nguyễn Hữu Châu thươngxót tình yêu và lý tưởng đã bị mất. Lý
Thu Hồ ghi lại những thayđổi trong xã hộiViệt Namdo chiến tranh gây nên
trong các cuốn Printempsinachevé (Mùa xuân dangdở, 1962)và Aumilieu
du carrefour (Giữa ngã ba đường, 1969). Trong tập tiểu luận Volonté d’existence
(ý chí sinh tồn, 1954) Cung Giũ Nguyên xem xét quá khứ và tương laicủa quan
hệ Pháp-Việt. Trongcác tiểu thuyết của ông,cuốn Le Domaine maudit(Khuđất
bị nguyền rủa, 1961) thể hiện hậu quả củasự xungđột các hệ tư tưởng chính
trị đối với cá nhân, trong khicuốnLe Fils dela baleine(Đứacon của cá voi,
1956) mô tả đờisống truyền thống ở mộtlàng chàinhỏ và nhu cầucần có sự
thayđổixã hội.Vi Huyền Đắc phântích các nguyên nhânxungđột trong vở kịch
Genghis-Khan (1972).Võ Long Tê đi sâu vào sự huyền bí của tình yêu trongcác
tập thơ:Lumièredans la nuit(ánh sáng trong đêm, 1966), Festinde noces
(Tiệc cưới, 1966) và Symphonieorientale (Bản giao hưởng phương Đông,
1971). Các bài tiểu luận và phêbình giaiđoạn này hướngvề chiều sâu văn hoá
Việt Nam.Bùi Xuân Bào kết luậnrằngsự phát triển củavăn học Việt Namviết
bằngtiếng Pháp và tiếngViệt phụ thuộclẫn nhaubởi phầnlớn cácnhà văn sử
dụngcả hai ngữ;bởi tiếngPháp vẫn đượcdùng như một phương tiện diễnđạt;
và bởi việc dùng tiếngPháp không còn là một sự lựa chọn riêngbiệt mà chỉ là
một phương tiện để tìm kiếmvà mở rộngđộc giả.
Việc lựa chọn viết bằng tiếng Pháp đã mang lại hiệu quả gì? Serge
Gavronskyđã xemxét những sự ngầm ẩnngôn ngữ của các tác giả không phải
người Pháp viết bằng tiếng Pháp. Dùng thí dụ châuPhi,ông nhậnthấy tiếng
Pháp trở thànhcái máy lọc đối với các tác giả Phichâu trong khi đồngthời nó
chínhtrị-xã hội,bởi vì người Pháp quyết định chương trìnhgiảng dạy nhằm tạo
ra sự lệ thuộcvề kinh tế,văn hoá, xã hội vàchính trị. So với chươngtrình của
các trường dànhcho người Pháp, chương trình ở các trường Pháp-Việt giảm
nhẹ hơn,thu hẹp hơn, đơngiản hơn. Sự đánh giá về văn hoá bản xứ qua các
quan điểm củagiáo viên và trongnội dungchương trìnhlà một sự thách thức
nền giáo dục cổ truyềnViệt Nambên trongđơn vị gia đình và đưa ra một thông
điệp hết sứcrõ ràng rằngnền vănhoá Việt khôngthích ứng được với hiện đại,
công nghệ, tiến bộ. Nhữngsự khác biệt về khu vựcvà giai cấp quy định phạm vi
phản ứng của các sinhviên đối với cácquan điểm đó. Phần lớnngườiViệt
khôngchạy theo “sự tấn côngvào truyền thốngcủa họ vì chonó làthô thiển,
mục nát và thiếu sự thích ứng”.Tuy nhiên, tầng lớp tư sản thànhthị, nơi xuất
thân của các nhà lãnhđạo tương lai, thì đồngtình vớiviệc đó. Còn con em tầng
lớp trunglưuthành thị được đào tạođể vứt bỏ truyền thống và chấp nhận việc
tách khỏi khung cảnh văn hoá Việt Nam, không chỉ ở các thứ tiếng chúng học mà
còn ở các quan điểm về văn hoá và hệ quy chiếu đối với tri thức và quyền lực. Hệ
quy chiếu trong chương trình là Pháp với ngôn ngữ và văn hoá của nó. Chương
trình đào tạo lớp người cho tương lai chỉ dựa vào mô hình Pháp và công khai
cho biết rằng không có mô hình nào khác Hiện đại hoá, tri thức, văn hoá, khoa
học - tất cả đều là từ ngoài đến, không phải của Việt Nam.