Vấn đề mới - cũ trong thơ Việt Nam trước 1945 nhìn từ phong trào Thơ mới - Pdf 19

Vấn đề mới - cũ trong thơ
Việt Nam trước 1945 nhìn từ
phong trào Thơ mới
4. Vậy thì thơ cũ là loại thơ nào? Diện mạo nó ra sao? Ta hãy thử đi tìm
nó, để hiểu Thơ mới phải ra đời, và đã ra đời trong bối cảnh nào, như một tất
yếu lịch sử.
Theo sự công kích của các nhà Thơ mới, ta hiểu trước hết đó là thứ thơ
phải tuân thủ nghiêm nhặt, các luật thơ đến từ thời Đường mà bất cứ một kẻ sĩ
nào thời Trung đại cũng phải học, phải ôn luyện để có thể vượt qua các cửa ải
thi cử, trên con đường khoa hoạn. Theo Phan Khôi: "Phép thi ngày xưa bắt học
trò vào trường làm một bài thơ theo thể thất ngôn luật. Thể thất ngôn luật vốn
mượn của thi nhân đời Đường, nhưng khi người ta đưa nó vào khoa cử, nó còn
bó buộc gấp mấy luật Đường "
(7)
. Đó mới chỉ là thơ (thi). Còn phú, còn kinh
nghĩa, văn sách và còn bao thể khác. Và bao trùm là kinh điển Nho gia mà một
người muốn tập tễnh vào thế giới khoa hoạn phải học lấy làm lòng. Hãy hình
dung có bao nhiêu kẻ sĩ đi vào con đường lều chõng, từ khi có chế độ khoa cử,
trong thời đại phong kiến bắt đầu từ năm 1075 là có bấy nhiêu người phải làm
thơ - để thi; và phải làm sao cho đúng luật, bởi thất luật thì tài đến như Tú
Xương vẫn "tám khoa không khỏi phạm trường quy". Làm thơ cho đúng luật, ở
một người chỉ mong thi để làm quan thì sao mà được gọi là nhà thơ. Vậy là có
cả một biển người phải học cách làm thơ, và đã để lại thơ không chỉ qua các
kỳ thi, mà suốt cả đời người, bất kể có lọt được vào thế giới khoa hoạn, hay
vẫn chỉ là nho sĩ ở làng quê. Cái biển người ấy đã sản sinh ra biết bao là biển
thơ; có cái đúng luật có cái sai luật; nhưng cả sai lẫn đúng vừa sinh ra đã chết
ngay, vì nào có ai đọc được! Đó chính là thơ cũ. Cái cũ này đúng là xuyên suốt
nhiều thế kỷ thời Trung đại.
Loại thơ ấy không chỉ tồn tại trong lịch sử vì chế độ khoa cử, vì con
đường độc đạo của sự tiến thân cho kẻ sĩ, mà vẫn tồn tại như một quán tính,
theo chân Nguyễn Khuyến, Tú Xương mà vào thời hiện đại - cho đến năm

lão". Bởi ông đã từng bị một vị tiến sĩ nói thẳng vào mặt: "Khoa học xin nhường
các người, còn thơ văn để cho chúng tôi". Còn Lưu Trọng Lư thì có lần đã bị
ông Nghè ấy doạ chém
(11)
.
Thơ cũ được hiểu như thế trở thành một thực thể già nua, khô xác,
không có sự sống, vừa in ra đã chết, vì không có người đọc. Cuộc chiến đấu
giữa Thơ mới và thơ cũ do thế diễn ra, không có nhiều dằng co lắm và kết
thúc cũng nhanh, - sau một loạt các cuộc luận chiến giữa một bên là Nguyễn
Văn Hanh, một bên là Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư và một số người khác -
trong hai năm 1935 và 1936. Trên văn đàn, Thơ mới dần dần chiếm lĩnh, rồi
ngự trị. Còn thơ cũ thì báo nào đăng nhiều là báo ấy chết. Bởi đến ngay Phan
Khôi - người khởi xướngThơ mới mà cuốn Chương Dân thi thoại (1936) của
ông do chỉ bàn về thơ cũ nên cũng bị ế lây.
Đây là sự hết thời không phải của một trào lưu thơ mà là cả một thời đại
thơ. Một thời đại thơ với những quy định nghiệt ngã nhằm tạo các thợ thơ chứ
không phải các thi nhân. Tất nhiên những tài năng thơ - những thi nhân, thi
hào thì vẫn xuất hiện, và thời nào cũng có. Đó là những người có dũng cảm
vượt thoát, và phá vỡ các quy cách trói buộc ngàn đời, để thổi được hồn của
họ, cùng hồn thời đại vào thơ, mà tạo nên Truyện Kiều, Chinh ngâm phụ, Hồ
Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Yên Đổ, Tú Xương bất hủ.
5. Cuối cùng là vấn đề định danh mới xuất hiện từ lúc nào để làm
nên Thơ mới? Rồi lúc nào thì nó biến mất, để chỉ còn Thơ. Và từ trong khoảng
thời gian đó mà xuất hiện và hiện diện lung linh một thực thể thơ - Thơ mới?
Người ta thường nói đến bài Tình già của Phan Khôi đăng trên Phụ nữ
tân văn số 122, 10-3-1932 như là sự mở đầu của Thơ mới. Điều này quả là
đúng. Bởi ở đây nó nói đến một kiểu tình yêu ngoài tình vợ chồng, mà là “nhân
ngãi” (tức người tình) - đó là điều cấm kỵ đối với lễ giáo phong kiến. Mối tình
chỉ là nhân ngãi đó kéo dài từ “hai mươi bốn năm xưa” đến “hai mươi bốn năm
sau”; bốn mươi tám năm qua rồi, mà đôi bạn tình gặp nhau vẫn còn nhận được

của thất ngôn tứ tuyệt hoặc bát cú:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài trông tháng ngày dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm
với Tiếng sáo thiên thai, trong những câu lục bát vắt dòng:
Trời cao, xanh ngắt - ô kìa
Đôi con hạc trắng bay về bồng lai
hoặc với Giây phút chạnh lòng, trong hiệu quả của sự liền mạch và dãn
rộng đến vô cùng, thể thất ngôn tứ tuyệt:
Anh đi đường anh, tôi đường tôi.
Tình nghĩa đôi ta - có thế thôi

Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề
Vẫn để hồn theo người lận đận
Vẫn hằng trông ngóng buổi anh đi
Cái chữ tuy đặt cuối câu đầu của một khổ tứ tuyệt thật ra khi đã vào Thơ
mới nó không còn khổ nữa mà trở nên liền mạch, kết dính vào nhau, quả là
một phá cách, đến cả văn xuôi cũng không chấp nhận nổi, huống là thơ.
Thế Lữ, được Hoài Thanh định danh là "một hồn thơ rộng mở", chính là
người đã mở toang cánh cửa cho Thơ mới tràn vào làng thơ, mở đường cho
sự vươn lên đỉnh cao mới nhất là Xuân Diệu.
Không đến 10 năm, mới chỉ dăm bảy năm, cho đến Mùa cổ điển của
Quách Tấn thì con sông thơ đã bằng yên trở lại, trong phong vị trầm mặc của
thơ Đường, và trong hơi ấm quen thuộc của lục bát ca dao Nguyễn Bính:
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
(Chân quê)


không cắt rời với truyền thống thơ dân tộc - từ đỉnh cao Nguyễn Du "bất diệt,
nhà thi sĩ cho muôn đời" (Lưu Trọng Lư), đến Tản Đà - người "đã dạo những
bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa" (Hoài Thanh).
Có ồn ào, có cãi cọ trong lời lẽ vào buổi khởi đầu, và qua hơn mười cuộc diễn
thuyết trong Nam ngoài Bắc; nhưng căn bản Thơ mới đã thắng thế nhờ vào lao
động nghệ thuật say mê của một thế hệ thơ do sự đào luyện của trường học
Pháp - Việt và do sự tiếp nhận trực tiếp các ảnh hưởng của phương Tây mà
dứt bỏ được một cách triệt để mọi trói buộc của truyền thống. Và là một sự
thắng thế không phải bằng lý luận, mà chính là bằng vào sự xuất hiện của
chính các bài thơ hay được công bố trên báo, và in thành tập trong hơn 10
năm, đem đến sự rút lui dần trong lặng lẽ của cả một biển thơ cũ. Một cuộc
cách mạng thật mau lẹ, bởi nó nằm trong một chuyển động lớn, một cuộc
chuyển giao lịch sử lớn chỉ diễn ra có một lần trong lịch sử thơ ca Việt Nam từ
xã hội trung đại sang xã hội hiện đại, trong đó thơ ca nói riêng và văn chương
học thuật nói chung vừa là hệ qủa của một cuộc sinh thành, vừa là một tác
nhân thúc đẩy./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status