81
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 63, 2010 NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA GIỐNG DẦU MÈ
(JATROPHA CURCAS L.) TỰ NHIÊN Ở THỪA THIÊN HUẾ
Võ Thị Mai Hương, Trần Thanh Phong
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Cây dầu mè (Jatropha curcas L.) là đối tượng đang được quan tâm ở nhiều nước trên
thế giới và ở Việt Nam do khả năng ứng dụng của nó trong việc phát triển nhiên liệu sinh học và
nhiều mục đích khác. Kết quả nghiên cứu trên giống dầu mè tự nhiên của Thừa Thiên Huế cho
thấy khả năng nảy mầm của hạt dầu mè phụ thuộc rất lớn vào thời gian bảo quản. Hạt tươi có
tỷ lệ nảy mầm 100%. Thời gian bảo quản càng lâu, khả năng nảy mầm của hạt càng thấp. Hạt
được bảo của sau 1-3 tháng có tỷ lệ nảy mầm 96 – 85%, hạt bảo quản sau 6 tháng tỷ lệ nảy
mầm chỉ còn 20%. Khả năng tái sinh tự nhiên của cành giâm cây dầu mè tự nhiên tỷ lệ sống của
các cành giâm là 100%. Các cành ở phần ngọn có số lượng chồi nhiều hơn phần gốc. Dầu mè ở
Thừa Thiên Huế ra lá vào khoảng tháng II, thời gian ra hoa đợt 1 vào cuối tháng III, thời gian
ra quả vào khoảng giữa tháng IV và thời gian quả chín vào khoảng tháng V. Năng suất (đợt 1):
số quả trung bình trên cây đạt từ 34 đến 84 quả, trọng lượng trung bình 100 hạt đạt từ 66,6 đến
78,2 g, tỉ lệ hạt trong quả đạt từ 62,0 đến 74,6%.
1. Mở đầu
Cây dầu mè (Jatropha curcas) hay còn gọi là dầu lai, cọc rào… có nguồn gốc từ
châu Mỹ và là loại cây đa mục đích. Đây là đối tượng đang được quan tâm ở nhiều nước
trên thế giới và ở Việt Nam do khả năng ứng dụng của nó trong việc phát triển nhiên
liệu sinh học [2, 6]. Dầu ép từ hạt dầu mè là nguyên liệu để sản xuất diesel sinh học
(biodiesel) thân thiện với môi trường, có hiệu quả sinh thái cao. Ngoài ra, dầu mè còn
được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như trong chăn nuôi, mỹ phẩm, dược phẩm,
trong nông nghiệp… Trồng dầu mè tăng độ che phủ, cải tạo đất, cải tạo môi trường trên
* Phương pháp nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến tỉ lệ nảy mầm của hạt
Hạt chín được thu từ cây dầu mè tự mọc ở một số vùng tại thành phố Huế, phơi
khô tự nhiên.
83
+ Chọn các hạt chắc, đều, ngâm vào nước ấm 60
0
C trong 12 giờ.
+ Gieo hạt ở nhiệt độ phòng trên các khay có chứa bông tẩm nước để giữ ẩm
đảm bảo cho hạt nảy mầm.
+ Xác định tỉ lệ hạt nảy mầm và thời gian nảy mầm (thí nghiệm lặp lại 3 lần,
mỗi lần 30 hạt).
Để nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến sự nảy mầm, tiến hành bảo
quản hạt khô trong chai nhựa, đậy kín rồi gieo hạt với phương pháp như trên sau các
khoảng thời gian bảo quản 1 tháng, 3, tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng.
- Tỉ lệ sống và khả năng mọc chồi của cành giâm
+ Cắt 20 cành giâm từ các cành bánh tẻ, gồm các cành ở phần ngọn và phần gốc
(dài khoảng 30 cm).
+ Các cành giâm sau khi thu về tiến hành trồng ngay trên đất.
+ Quan sát thời gian ra chồi, đếm tỉ lệ sống, số chồi trên các cành giâm, số lá và
đo chiều cao.
- Sinh trưởng của cây dầu mè
- Chọn ngẫu nhiên 15 cây dầu mè tự nhiên ở 3 địa điểm tại thành phố Huế (ký
hiệu là A, B và C) để theo dõi thời gian sinh trưởng của cây (2 tuần/lần). Xác định thời
gian ra lá, ra hoa, ra quả, thời gian chín của quả, số quả/cây (đợt 1).
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng Duncan’test theo phần mềm SPSS 11.5 (SPSS Inc.
Headquarter, United State, 2004).
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Tiến hành giâm phần ngọn và phần gốc cành dầu mè tự nhiên, kết quả thu được
ở bảng 1.
Bảng 1. Tỉ lệ sống và khả năng hình thành chồi của cành giâm ở phần gốc và ngọn
Phần ngọn
Tỉ lệ sống (%) 100
Thời gian ra chồi (ngày) 20 ± 2
Số chồi trung bình / 1 cành
(sau 30 ngày)
7,0 ± 1,8
Phần gốc
Tỉ lệ sống (%) 100
Thời gian ra chồi (ngày) 20 ± 4
Số chồi trung bình / 1 cành (sau
30 ngày)
5,0 ± 0,8
Thời gian hình thành chồi của các cành giâm ở phần ngọn và gốc khoảng 20
ngày. Tỉ lệ sống của các cành giâm ở cả phần ngọn và phần gốc là 100%, tất cả các cành
giâm đều sinh trưởng tốt. Số chồi trung bình/cành của phần ngọn cao hơn phần gốc.
Như vậy, dầu mè rất dễ tái sinh bằng giâm hom. Đây là một thuận lợi để có thể nhân
giống dầu mè, đáp ứng cho nhu cầu cây giống với các đặc tính nguyên bản của cây bố
mẹ khi cần thiết.
85
3.2.2. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cành giâm ở các phần khác nhau
Theo dõi số chồi, số lá và chiều cao của cành giâm ở phần ngọn và phần gốc
cành cho thấy chiều cao của các cành giâm ở phần ngọn và phần gốc rất ít thay đổi và
không có sự chênh lệch đáng kể. Sau 2 tháng, chiều cao của các cành giâm chỉ tăng
khoảng 3 cm (Bảng 2 và Bảng 3).
Bảng 2. Sinh trưởng của cành giâm ở phần ngọn của cây dầu mè tự nhiên
a
13,0
b
Sau 60 ngày 48,9
a
7,2
a
20,0
a
Các chữ cái khác nhau trên cùng một cột khác nhau có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
(-): Chưa hình thành chồi và lá.
Khả năng hình thành chồi ở cành giâm phần ngọn tốt hơn so với phần gốc. Sau
30 ngày, số chồi trung bình của phần ngọn là 7 chồi và của phần gốc là 5 chồi. Trong
thời gian tiếp theo, số lượng chồi ở cả 2 loại cành giâm đều không tăng và cây tập trung
dinh dưỡng cho sự sinh trưởng chồi và lá. Nhìn chung các chồi đều phát triển bình
thường.
Bảng 3. Sinh trưởng của cành giâm ở phần gốc của cây dầu mè tự nhiên
Chỉ tiêu
Thời gian
(ngày /tháng)
Chiều cao trung
bình (cm)
Số chồi trung
bình
Số lá trung
bình/chồi
Ban đầu 39,1
(-): Chưa hình thành chồi và lá.
86
Khả năng ra lá ở phần ngọn và phần gốc có sự chênh lệch khá rõ. Cùng thời gian
và điều kiện sinh trưởng như nhau, 1 tháng đầu phần ngọn có số lá (8-9 lá) nhiều hơn
phần gốc (3-8 lá). Nhưng sau đó phần gốc sinh trưởng mạnh, số lá tăng nhanh hơn so
với phần ngọn: số lá trung bình của phần gốc khoảng 14-24 lá, nhiều hơn phần ngọn
(12-20 lá). Các lá phát triển xanh tốt ở cả 2 loại cành giâm.
Như vậy dầu mè là đối tượng dễ nhân giống, có thể trồng bằng hạt hoặc giâm
hom. Trong thực tế có thể quan sát thấy các hạt dầu mè nảy mầm ngay dưới gốc cây khi
hạt khô và rụng xuống (Hình 4a), thậm chí hạt có thể nảy mầm khi quả khô vẫn còn ở
trên cành nếu có độ ẩm thích hợp (Hình 4b). Hình 4. Hạt Dầu mè rụng và nảy mầm ở gốc cây (a) và nảy mầm ngay trên cành (b)
Tuy nhiên khả năng nảy mầm của hạt và sự tái sinh của cành giâm phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện giâm cành và thời gian bảo quản.
3.3. Sinh trưởng của cây dầu mè trong tự nhiên
* Thời gian ra lá, ra hoa, ra quả và thời gian quả chín
Kết quả theo dõi sự sinh trưởng của các cây dầu mè trong tự nhiên ở 3 địa điểm
được trình bày ở bảng 4.
Bảng 4. Sinh trưởng của cây dầu mè trong tự nhiên
Chỉ tiêu
trung, không kéo dài nhưng số lượng hoa không nhiều. Còn các cây ở địa điểm C thời
gian ra hoa không tập trung mà có sự ra hoa kéo dài. Điều này có thể là do ảnh hưởng
điều kiện dinh dưỡng ở cả 3 địa điểm khác nhau. Qua quan sát thực tế ở địa điểm C, cây
được phát triển trên điều kiện dinh dưỡng tốt, độ ẩm cao. Còn cây ở địa điểm A và địa
điểm B phát triển trên đất đồi cằn cỗi, dinh dưỡng kém, khô hạn nên khả năng sinh
trưởng và phát triển của cây không tốt bằng địa điểm C.
Mặc dù giới hạn thời gian của nghiên cứu này chỉ đến tháng V, nhưng theo dõi
tiếp, chúng tôi ghi nhận hiện tượng ra hoa nhiều đợt của dầu mè ở cả 3 địa điểm (sẽ
được trình bày trong nghiên cứu khác). Đây là hiện tượng cần được lưu ý khi nghiên
cứu đối tượng này với mục đích chọn cây giống. Nếu giống có nhiều đợt ra hoa và thời
gian ra hoa không tập trung thì sẽ rất bất lợi cho việc chăm sóc, mất thời gian thu hoạch,
năng suất không ổn định và giá thành cao.
* Một số chỉ tiêu năng suất
Khả năng cho năng suất của cây dầu mè trong đợt đầu theo dõi ở 3 địa điểm trên
có sự chênh lệch (Bảng 5). Các cây ở địa điểm C cho số quả trung bình trên cây là nhiều
nhất (84 quả/cây), các cây ở địa điểm B cho số quả trung bình trên cây ít nhất (34
quả/cây).
Bảng 5. Một số chỉ tiêu về năng suất của cây dầu mè tự nhiên
Chỉ tiêu
Địa điểm
Số quả trung bình
/cây (đợt I)
Trọng lượng
trung bình 100
hạt (g)
Tỉ lệ hạt trong
quả (%)
A 48
b
73,3% [3], như vậy chỉ tiêu này ở địa điểm A và B tương đối thấp.
Trọng lượng trung bình 100 hạt của dầu mè ở thành phố Huế là 66,6 – 78,2 g,
xấp xỉ chỉ tiêu này ở các giống khác (dầu mè giống 03 - Bình Thuận là 68,1 g/100 hạt,
giống 06 - Buôn Mê Thuột là 72,2 g/100 hạt, và giống 01 - M’đrăk là 70,1 g/100 hạt [6].
Sơ bộ đánh giá thì năng suất hạt dầu mè thu được ở địa điểm C là lớn nhất, và ở
địa điểm A là nhỏ nhất.
Qua quan sát thực tế còn cho thấy giống dầu mè tự nhiên ở Huế có thời gian ra
hoa không tập trung, hoa ra nhiều đợt trong năm. Tại một điểm có thể quan sát được cả
quả chín khô, quả xanh và hoa mới nở trên một cành (hình 5). Đây là vấn đề cần được
lưu ý khi chọn giống dầu mè, vì giống ra hoa nhiều đợt sẽ có tỷ lệ đậu quả không ổn
định, việc thu hoạch kéo dài, tốn nhiều công sức, thời gian dẫn đến hiệu quả kinh tế
không cao.
4. Kết luận
4.1. Khả năng nảy mầm của hạt dầu mè phụ thuộc rất lớn vào thời gian bảo quản.
Hạt tươi có tỷ lệ nảy mầm 100%. Thời gian bảo quản càng lâu, khả năng nảy mầm của
hạt càng thấp. Hạt được bảo của sau 1-3 tháng có tỷ lệ nảy mầm 96 – 85%. Không nên
sử dụng hạt bảo quản sau 6 tháng để làm giống vì tỷ lệ nảy mầm rất thấp (20%).
4.2. Khả năng tái sinh tự nhiên của cành giâm cây dầu mè tự nhiên ở địa phương
cao; Tỷ lệ sống của các cành giâm là 100%. Các cành ở phần ngọn có số lượng chồi
nhiều hơn phần gốc.
4.3. Dầu mè ở Thừa Thiên Huế ra lá vào khoảng tháng II, thời gian ra hoa đợt 1
vào cuối tháng III, thời gian ra quả vào khoảng giữa tháng IV và thời gian quả chín vào
khoảng tháng V.
89
4.4. Năng suất của cây dầu mè tự nhiên (đợt 1): số quả trung bình trên cây đạt từ
34 đến 84 quả, trọng lượng trung bình 100 hạt đạt từ 66,6 đến 78,2 g, tỉ lệ hạt trong quả
đạt từ 62,0 đến 74,6%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
lower the rate of germination. After 1 - 3 months in storage, the percentage germination of seed
amounted to 85 - 96 %, and after 6 months, it was 20%.
Studies on propagation by cuttings of Jatropha carcus were constructed in natural
condition. The overall survival rate of cuttings was 100%. The number of bud appeared on the
young cutting part was higher than that on the old part. Jatropha carcus flowered in March for
the first time, make fruit in the middle of April and make mature seed in May. For the first time
in the year, the average number of fruits on tree, average weight of 100 of seeds and percentage
of seed per fruit attainted were 34 - 84, 66,6 - 78,2 g and 62,0 - 74,6% respectively.