Giáo trình địa cơ - Chương 3 - Pdf 19

CHƯ
Ơ
NG III
ĐẤT ĐÁ.I. Đá mắc ma.
1. Nguồn gốc hình thành
Thành phần của khối nóng chảy (còn gọi là macma) rất phức tạp: chủ yếu là silicat có
chứa các loại khí và hơi nước. Nhiệt độ của nó tới 1000
0
C đến 1300
0
C. Macma khi xâm
nhập lên phần trên của vỏ quả đất sẽ toả nhiệt và nguội dần đông cứng tạo thành đá mama.

Tuỳ theo thành phần macma và điều kiện nguội lạnh mà hình thành nhiều loại macma
khác nhau. Sự đông cứng của macma ở dưới mặt đất cho đá xâm nhập và ở trên mặt đất cho
đá phun trào.

Thành phần vật chất và điều kiện nguội lạnh của macma quyết định các đặc trưng của
đá macma. Khi đi qua các lớp khác nhau của vỏ quả đất và trào lên trên mặt đất, macma sẽ
gặp các nhiệt độ khác nhau. Ở dưới sâu, nó chịu áp lực lớn, nhiệt độ cao; đến gần mặt đất và
đặc biệt là lên trên mặt đất, áp lực của môi trường rất nhỏ, khí và hơi nước đượ
c thoát ra, nên
thành phần và tính chất của đá macma cũng bị biến đổi, khác với thành phần của macma .

2. Thế nằm của đá macma
Theo đặc tính của môi trường nguội lạnh ,như hình dạng và kích thước của khe nứ
t


+ Kiến trúc toàn tinh: tất cả các khoáng vật trong đá điều kết tinh, ranh giới phân cách
giữa chúng rõ rệt có thể nhìn thấy bằng mắt thường (hình a).

+ Kiến trúc pocfia: chỉ thấy bằng mắt thường một số tinh thể lớn rải rác trên
nền tinh thể rất nhỏ (vi tinh) hay không kết tinh (hình b).

+ Kiến trúc ẩn tinh: tinh thể rất nhỏ không thấy bằng mắt thường chỉ thấy bằng kính
hiển vi.

+ Kiến trúc thuỷ tinh: đá không kết tinh (như thuỷ tinh núi lửa).
4.2 Dựa vào kích thước hạt chia ra:
+ Kiến trúc hạt lớn: khi kích thước hạt lớn hơn 5 mm.
+ Kiến trúc hạt vừa: khi có kích thước hạt từ 5÷ 2 mm.
+ Kiến trúc hạt nhỏ: từ 2 ÷ 0,2 và kiến trúc hạt mịn khi hạt nhỏ hơn 0,2mm.
Mức độ kết tinh của khoáng vật phụ thuộc vào điều kiện đông nguội và thành phần của
dung nham.

4.3 Dựa theo sự định hướng các thành phần khoáng vật trong không gian có thể chia
ra:

+ Cấu tạo đồng nhất (hay cấu tạo khối )
+ Cấu tạo dải ( hay cấu tạo dòng ).
4.4 Dựa theo mức độ hổng của đá chia ra:
+ Cấu tạo đặc sít ( trong đá không có lỗ hổng).

+ Cấu tạo lỗ hổng ( trong đá có lỗ hổng ) thường bắt gặp ở đá macma tạo thành gần hay
trên mặt đấ, có sự thoát của khí và hơi nước từ dung nham.

+ Cấu tạo hạch nhân : các lỗ rỗíng được lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh, liên quan với
các dung dịch lưu thông trong đá.


5.2 Đá loại trung tính: phổ biêïn nhất là sienit, điorit (xâm nhập); pocfirit, pocfia ,
ôctcla, anđesit (phun trào).

5.3 Đá loại bazơ: là loại đá tương đối phổ biến, nhất là đá phun trào. Trong nhóm này
gabro là đá xâm nhập, còn điaba và bazan là đá phun trào. Giữa chúng không có sự khác nhau
nhiều về thành phần hoá học nhưng khác nhau nhiều về kiến trúc.

Ở nước ta có thể gặp gabro ở bảo Bảo Hà,Trái Hút (Yên Bái), Núi Chúa (Thái
N
guyên), Đắc lăk, Gia Lai, Điaba gặp ở Chi Lăng (Lạng Sơn), An Lạc (Cao Bằng), Cổ Định
( Thanh Hoá)

Đá loại siêu bazơ thể xâm nhập có periđotit và đunit. Ơí nước ta, periđotit gặp ở vàng
sông Mã, lưu vực Sông Đà, Ba Vì. Đunit gặp ở Cổ Định (Thanh Hoá), Tạ Khoa(Tây Bắc).

II. Đá trầm tích
1. Sự hình thành:
Tất cả các loại đá lộ ra trên bề mặt đất (kể cả đá macma rắn chắc ) đều chịu tác dung
của các nhân tố quyển khí, quyển nước, quyển sinh vật.kết quả là đá bị phá huỷ. Một bộ phận
hoà tan tạo thành dung dịch, bộ phận khác tạo thành mảnh vụn có kích thước khác nhau. Các
vật liệu bị gió hoặc nước cuốn đi rồi tích tụ lại thành đ
á trầm tích.
Quá trình tạo thành đá trầm tích có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: phá huỷ đá ban đầu và tạo nên các hạt vụn, dung dịch gọi là giai đoạn
tạo vật liệu trầm tích.+ Giai đoạn 2: dưới tác dụng củ gió và dòng nước vật liệu trầm tích được vận chuyển
và tuyển lựa đưởc trầm đọng lại tạo thành các lớp hạt vụn hoặc bùn sét kết tủa dung dịch

t
ừ t
r
ước. Chúng là thành phần chủ yếu của đá t
r
ầm tích vụn (cuôi, sỏi, cát). Trong
đó phổ
b
iến hơn là thạch anh sau đó đến fenpat
+ Khoáng vật thứ sinh: thành tạo từ khoáng vật nguyên sinh bị phân huỷ hoá học như các
khoáng vật sét.

+ Khoáng vật thuần tuý: của đá trầm tích, hình thành do sự lắng đọng của dung dịch thật,
sự ngưng keo có hay không có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của sinh vật, như thạch cao,
muối mỏ, glauconit, Chúng không có hoặc có rất ít trong đá mácma, nhưng lại là thành phần
chủ yếu của đá trầm tích hoá học và sinh vật, là ximăng gắn kết trong đá trầm tích vụn cơ học.
4. Kiến trúc và cấu tạo đ
á trầm tích
Kiến trúc của đá trầm tích rất nhiều vẻ. Trong đá trầm tích có các loai liên kết:
+ Liên kết kết tinh: ở đá trầm tích hoá học
+ Liên kết ximăng: ở đá trầm tích vụn gắn kết
+ Liên kết nước: ở dạng đá mềm rời.
Tính chất xây dựng của đá trầm tích vụn cơ học (gắn kết và chưa gắn kết) được quyết định
bởi các kích thước của hạt. Tên của loại kiến trúc đó được gọi theo tên của cỡ hạt đó.
Bảng III.1.Phân loại kiến trúc dựa vào kích thước hạt của đá trầm tích vụn cơ học.

D

g
ió Đá
Tên
g
ọi các hạt vụn Đườn
g
kính hạt (mm) Loại kiến trúc
Đá hộc, đá lăn
Dăm , cuội
Sạn , sỏi
Cát
Hạt bột
Hạt sét
>200
200÷20
20÷2
2÷0,05
0,05÷0,005
<0,005
Kiến trúc hòn lớn

Kiến trúc hạt dăm (cuội)
Kiến trúc hạt sạn (sỏi)
Kiến trúc hạt cát
Kiến trúc hạt bột
Kiến trúc hạt sét
t
r
ầm tích có dị tính hướng.
+ Cấu tạo lớp: là cấu tạo đặc trưng của đá trầm tích. Các lớp có thể khác nhau về thành


+ Biến chất động lực: xảy ra do các tác dụng của áp lực cao sinh ra trong quá trình kiến
tạo làm cho đất đá bị mất nước, giảm lỗ rỗng liên kết chặt hơn.

+Biến chất khu vực: là loại biến chất sảy ra ở dưới sâu dưới tác dụng của đồng thời của áp
lực lớn và nhiệt độ cao.

2. Thế nằm của đá biến chất.
Đá biến chất có thế nằm giống với đá ban đầu đã tạo ra nó: dạng lớp của đá trầm tích; dạng
nấm, dạng mạch(dạng của đá mác ma).

Đá biến chất tiếp xúc có thế nằm riêng, nó thường ở dạng vành đai có các mức độ biến chất
khác nhau bao quanh khối mác ma gây ra biến chất. Do vậy có thể gây ra sự không đồng nhấ
t

về tính chất vật lý và cơ học.

3. Thành phần khoáng vật của đá biến chất.
Thành phần khoáng vật của đá biến chất gần giống với thành phần khoáng vật của đá mác
ma, ngoài ra còn có thêm một số loại khoáng vật khác như granat, disten

Các khoáng vật của đá biến chất có cường độ cao, nhưng kém ổn đinh dưới tác dụng của
p
hong hoá; một số khoáng vật do có tinh thể dạng tấm, dạng vảy hoặc có tính trơn trượt đã
làm giảm nhiều cường độ của đá biến chất.

4. Kiến trúc và cấu tạo đá biến chất
Kiến trúc của đá biến chất có các loại sau: kiến trúc biến tinh, kiến trúc milônít và kiến trúc
vảy.


nhiều khoáng vật khác nhau. Chúng có thể sử dụng trực tiếp hoặc qua gia công cơ học.

Từ xa xưa đất đá được sử dụng phổ biến trong xây dựng, vì là vật liệu địa phương giá
thành tương đối thấp, dễ dàng khai thác và sử dụng, đá có khả năng chịu nén cao, khả năng
trang trí tốt, bền vững trong môi trường sử dụng

2.Tính chất xây dựng của một số loại đất đá.
2.1 Đá mác ma
Đá granít: thường có màu vàng tro nhạt, vàng nhạt hoặc màu hồng, các màu này xen
lấn những chấm đen. Đây là loại đá rất đặt, khối lượng thể tích 2600kG/m
3
, khối lượng riêng
2700kG/cm
3
, cường độ chịu nén cao 1200 ÷ 2500kG/cm
2
, độ cứng 6 ÷ 7, khả năng chống
p
hong hoá
r
ất cao, độ chịu lửa kém.
Đá granít được sử dụng rộng rãi trong xây dựng như: ốp lát, xây tường, trụ cho các
công trình

Đá grabô: khối lượng thể tích lớn 2000 ÷ 3500 kG/m
3
, là loại đá đặt chắc có khả năng
chịu nén cao2000 ÷ 2800kG/cm
2
. Đá grabô được sử dụng làm đá dăm, đá tấm để lát mặ

ạp chất, bị phong hoá
r
ất mau, tính
chống phong hoá và tính chống nước kém, cho nên không thích hợp làm nền cho các công
trình thuỷ công.

+ Đá phiến dễ bị phong hoá và trượt theo mặt phiến.



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status