Sơ lược lịch sử phát triển chuyên ngành
Gây mê Hồi sức
I. Nguồn gốc và sự phát triển chuyên ngành Gây mê Hồi sức
Thực hành gây mê được ghi nhận từ thời xa xưa và cho tới giữa thế kỷ XIX bắt
đầu phát triển thành một chuyên khoa nhưng chỉ được công nhận là một chuyên
khoa của ngành y chỉ cách đây gần 70 năm.
Vào thời kỳ văn minh cổ đại người ta đã biết dùng cây thuốc phiện, lá cây coca, rễ
cây mandrake (cây độc có quả vàng), rượu và ngay cả việc trích máu (mục đích
tạo nên mất tri giác) để cho phép các nhà ngoại khoa thực hiện phẫu thuật điều trị
bệnh nhân. Người Ai cập cổ cũng đã biết kết hợp cây thuốc phiện và cây
hyoscyamus (là hai cây thuốc sau này điều chế thành morphine và scopolamine
được sử dụng trong tiền mê) để gây mê.
Ngoài ra phương thức giảm đau gần giống như gây tê vùng cũng đã được sử dụng
từ thời xưa như: Gây chèn ép thân thần kinh (gây thiếu máu nuôi dây thần kinh),
làm lạnh để gây tê vùng mổ (cryoanalgesia) hoặc các phẫu thuật viên đã thực hiện
phương thức như gây tê tại chỗ bằng cách nhai các lá cây coca rồi đắp lên vết
thương.
Lúc đó các thủ thuật, phẫu thuật bị giới hạn và chỉ thực hiện được với các trường
hợp gãy xương, các vết thương do chấn thương, cắt cụt chi hoặc lấy sỏi bàng
quang. Vì vậy sự phát triển của lĩnh vực ngoại khoa bị cản trở không những do
thiếu hiểu biết về quá trình bệnh lý, giải phẫu, vô trùng trong phẫu thuật mà còn
thiếu hụt sự tin cậy và an toàn của kỹ thuật gây mê.
Kỹ thuật gây mê được phát triển trước hết bắt nguồn từ việc sử dụng thuốc mê bốc
hơi và khí mê, tiếp theo là các thuốc tê để áp dụng trong gây tê vùng và tê tại chỗ,
sau cùng là các thuốc mê tĩnh mạch, thuốc giảm đau trung ương và thuốc giãn cơ.
Sự khám phá về gây mê trong lĩnh vực ngoại khoa được đánh giá là một đột phá
quan trọng về lịch sử phát triển của con người.
1. Thuốc mê bốc hơi và khí mê
- Thuốc mê hơi tìm ra đầu tiên đó là ether, quả thật ether (thực sự là diethyl ether)
đã được biết đầu tiên vào năm 1540 do Valerius Cordus tìm ra, lúc ông mới 25
cho phép sử dụng 1956), methoxyflurane (tìm ra 1958 và cho phép sử dụng 1960)
enflurane (tìm ra 1963 và cho phép sử dụng 1973), isoflurane (tìm ra 1965 và cho
phép sử dụng 1981).
Sau đó những thuốc mê bốc hơi mới tiếp tục phát triễn: như desflurane (1972), có
nhiều tính chất dược lý giống isoflurane, cũng như có tính chất hấp thu nhanh và
đào thải nhanh giống N
2
O đã đưa vào sử dụng. Sevofluran một thuốc mê có tỉ lệ
hoà tan trong máu thấp được cho phép sử dụng 1995.
- Với sự phát triễn các phương tiện và máy gây mê, máy theo dõi trong gây mê
hiện đại tạo điều kiện tốt phát triển những kỹ thuật gây mê hiện đại như gây mê hệ
thống kín, gây mê dòng thấp đã thúc đẩy Ngành gây mê hồi sức phát triễn nhanh
chóng đáp ứng được nhu cầu phát triễn như vũ bão của lĩnh vực Ngoại khoa.
2. Thuốc tê
- Tiếp theo sau khám phá thuốc mê hơi là sự khám phá và phát triển các loại thuốc
tê. Các kỹ thuật gây tê hiện nay được phát triển bắt nguồn từ ứng dụng của Carl
Koller, một nhà Nhãn khoa, người đầu tiên chứng minh và sử dụng cocain để gây
tê bề mặt trong phẫu thuật nhãn khoa vào năm 1884, một năm sau (1885) cocaine
được phân lập từ cây coca.
- Nhà ngoại khoa William Halsted là người đầu tiên chứng minh và sử dụng
cocain trong gây tê từng lớp và ức chế (block) dây thần kinh trong phẫu thuật
ngoại khoa.
- Năm 1898 August Bier người đầu tiên ứng dụng kỹ thuật gây tê tuỷ sống, ông ta
sử dụng 3ml cocaine 0,5% tiêm vào dịch não tuỷ, ông cũng là người đầu tiên mô
tả kỹ thuật gây tê vùng đường tĩnh mạch (Bier block) vào năm 1908.
- Thuốc tê procaine được khám phá và điều chế vào năm 1904 bởi Alfred Einhorn,
trong vòng một năm sau Heinrich Braun đã sử dụng trên lâm sàng và cũng chính
ông ta là người đầu tiên đã thêm Adrenaline (epinephrine) trong thuốc tê để kéo
dài tác dụng tê. Ferdinand Cathelin và Jean Sicard đã giới thiệu gây tê đuôi ngựa
(tê qua khe xương cùng) vào năm 1901. Kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng được
đánh giá phát triển kỹ thuật gây mê ngoại trú (bệnh nhân nhập viện can thiệp phẫu
thuật và ra viện trong cùng một ngày) do tính chất tác dụng và đào thải của thuốc
trong thời gian ngắn.
4. Thuốc giảm đau trung ương
Ngoài các thuốc mê hô hấp, thuốc mê tĩnh mạch. Thuốc giảm đau cũng là một
trong các điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kỹ thuật của ngành Gây mê hồi
sức.
- Morphine được chiết xuất từ cây thuốc phiện từ năm 1805 bởi Sertuner và về sau
cũng được thử nghiệm như một thuốc mê tĩnh mạch. Do tỷ lệ đe doạ tử vong và tử
vong cao khi sử dụng liều cao của morphine trong gây mê đã dẫn đến các nhà gây
mê tránh sử dụng, mãi cho đến năm 1939, meperidine (pethidine, dolargan) được
tổng hợp mới được sử dụng lại trong gây mê.
- Khái niệm "gây mê cân bằng" (balanced anesthesia), bằng cách dùng thiopental
để khởi mê, khí N
2
O để duy trì mê và làm quên đi mọi sự việc xảy ra trước và
trong gây mê, meperidine hoặc các dẫn chất khác của opium để giảm đau và thuốc
giãn cơ được ra đời từ đây do Lundy giới thiệu cũng là một bước phát triển mới
của lĩnh vực gây mê.
- Năm 1969 Lowenstein quan tâm và nhen lại ngọn lửa sử dụng liều cao thuốc
phiện trong gây mê và đã giới thiệu lại khái niệm dùng liều cao của morphine như
là một kỹ thuật gây mê toàn thân, về sau các dẫn chất tổng hợp khác như fentanyl,
sufentanil và alfentanil lần lượt được dùng với một liều cao ngay từ đầu trong gây
mê.
- Hiện nay có loại morphine tổng hợp mới remifentanil có thời gian tác dụng ngắn,
đặc biệt bị phá huỷ nhanh tại huyết tương do enzyme không đặc thù của tổ chức
(pseudocholinesterase) đã tạo điều kiện thoát mê nhanh cũng như thuận lợi cho
gây mê ở bệnh nhân có chức năng thận kém là một tiến bộ mới về dược chất sử
dụng trong ngành Gây mê hồi sức.
- Vào thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một kỹ thuật gây mê mới được ứng dụng
và khởi phát tác dụng bằng succinylcholine. Tuy nhiên nhà sản xuất đã tự ý loại bỏ
khỏi thị trường vì có một vài báo cáo ghi nhận gây biến chứng co thắt phế quản,
ngay cả một vài trường hợp tử vong mà không giải thích được lý do.
- Ngành gây mê có bước tiến xa hơn đó là kỹ thuật đặt nội khí quản chọn lọc trong
gây mê (ngày nay áp dụng trong phẫu thuật cắt phổi), kỹ thuật được thực hiện đầu
tiên vào cuối thế kỷ XIX bởi các phẫu thuật viên như: Sir William MacEwen ở
Scotland, Joseph O'Dwyer ở Mỹ và Franz Kuhn ở Đức. Thập niên 1920, Sir Ivan
Magill và Stanley Rowbotham là người phổ biến rộng rãi kỹ thuật gây mê toàn
thân kết hợp đặt nội khí quản ở Anh.
- Với sự khám phá và tổng hợp được nhiều thuốc mê mới cũng như các phương
tiện gây mê, hệ thống mê, máy mê, máy theo dõi trong gây mê được chế tạo tinh
vi, hiện đại ngành gây mê hồi sức phát triển không ngừng. Ngày nay thực hành
gây mê không chỉ giới hạn trong phạm vi ở phòng mổ mà còn thực hiện các kỹ
thuật vô cảm cho các thủ thuật khác ở bên ngoài phòng mổ như: tán sỏi, các can
thiệp ở khoa chẩn đoán hình ảnh, nội soi can thiệp, thăm dò chức năng, đặc biệt là
công tác chăm sóc và hồi sức những bệnh nhân nặng ở các phòng, trung tâm hồi
sức.
Ngoài ra ngành gây mê hồi sức đã đi vào thực hành chuyên sâu (gây mê-hồi sức
tim mạch, thần kinh, nhi khoa, sản khoa ) và đã đáp ứng tốt cho sự phát triển của
lĩnh vực ngoại khoa, không những các loại phẫu thuật thường qui mà ngay cả các
loại phẫu thuật cao (phẫu thuật tim mạch, thần kinh, ghép cơ quan ) cũng như
cấp cứu bệnh nhân nặng ở ngoài bệnh viện.
II. Sự hình thành tổ chức ngành Gây mê Hồi sức
1. Nguồn gốc từ Anh quốc
- Những hoạt động, thực hành gây mê-hồi sức và nguồn gốc để trở thành một
chuyên ngành của y học là xuất xứ từ nước Anh. Quả thật, sau chứng minh trước
công chúng lần đầu tiên về sử dụng ether để gây mê ở Mỹ, sử dụng ether trong gây
mê đã lan rộng nhanh sang nước Anh.
John Snow được đánh giá là cha đẻ của ngành Gây mê hồi sức, ông là người Bác
sĩ đầu tiên đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu thuốc mê hơi này. Ông cũng là người
và sử dụng những y tá như là người gây mê.
Sau đó một tổ chức đầu tiên của những người làm gây mê được thành lập vào năm
1911 đó là "The Long Island Society of Anesthetists", tổ chức này về sau được đổi
tên "New York Society of Anesthetists" và trở thành tầm cở quốc gia với tên gọi:
"American Society of Anesthetists" vào năm 1936. Về sau, vào năm 1945 nó được
đổi tên lại "American Society of Anesthesiologist" (ASA).
- Ở Mỹ có ba bác sĩ gây mê nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX trong lĩnh vực gây mê đó
là: Arthur E. Guedel, Ralph M. Waters và John S. Lundy.
- Guedel là người đầu tiên viết một cách tỉ mỉ về các dấu hiệu theo dõi trong gây
mê toàn thân sau mô tả đầu tiên của John Snow. Chính ông là người đề xướng sử
dụng túi hơi chèn (cuff) của ống nội khí quản và là người giới thiệu phương thức
thông khí nhân tạo (artificial ventilation) trong gây mê, sau này Ralph Waters gọi
là hô hấp kiểm soát (controlled respiration).
- Ralph Waters là người luôn quan tâm và có công hình thành tổ chức để huấn
luyện, đào tạo chuyên khoa gây mê hồi sức của Hoa Kỳ.
3. Sự phát triển để được công nhận một chuyên khoa chính thức
Mặc dù ngành gây mê hồi sức có một sự phát triển không ngừng, có một vài tổ
chức của ngành được hình thành ở Anh, Mỹ, nhưng phải đến năm 1937 "American
Board of Anesthesiology" (nghiệp đoàn của những người gây mê của Mỹ), là tổ
chức gây mê đầu tiên mới được công nhận chính thức, dù rằng trước đó vào năm
1933 Ralph Waters là người đầu tiên đã được phong giáo sư gây mê của Hoa Kỳ ở
Đại học Wisconsin.
- Ở Anh quốc cuộc thi lấy bằng gây mê đầu tiên vào năm 1935 và Sir Robert
Macintosh được phong chức giáo sư đại học về gây mê đầu tiên ở Đại học Oxford
vào năm 1937 nhưng ngành gây mê hồi sức chỉ được công nhận chính thức vào
năm 1947 khi Khoa gây mê của Đại học Hoàng Gia các phẫu thuật viên Anh quốc
được thành lập.
Ngày nay tổ chức gây mê không còn chỉ giới hạn trong một quốc gia mà đã hình
thành một tổ chức có tầm cở thế giới đó là hội Gây mê hồi sức thế giới. Thực hành
gây mê ngày nay đã thay đổi vượt bậc so với thời kỳ John Snow. Các Nhà gây mê