Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
MỞ ĐẦU
Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý
thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật,
của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác- Lênin góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề trên. Ở đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu vấn đề bản chất của ý thức. Ý
thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là toàn bộ sản phẩm
những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm,
những trạng thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ý chí niềm tin, của con người trong
cuộc sống. Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã
hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của
con người.
1. Lý do chọn đề tài:
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình
thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con
người mới có. Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn.
Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực
thực tiễn. Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực
của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc
vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá
và tư tưỏng. Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh
tế - kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học - công nghệ trên thế giới
lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt được những thành
công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học - công nghệ đạt tiêu chuẩn
quốc tế trong một thời gian ngắn hay không?. Chúng ta phải làm gì để tránh
1
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới?. Câu hỏi
này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên
khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2
đường lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa
rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương
đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của
con người ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải
biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành
hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải
tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho
hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng
tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức
mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như
vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc
lập tương đôí, tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự
thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần
trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những
nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập
giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò
như nhau trong đời sống và hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-
Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất
và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ
nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức. Nhân tố ý thức có tác
động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của
mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay
đổi được những quy luật vận động của nó . Do đó, trong quá trình hoạt động
3
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra
những mục đích, chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép.
3. Đối tượng nghiên cứu: sinh viên
4. Mục đích nghiên cứu:
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC
1.1 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức.
1.1.1 Khái niệm về ý thức
Để đưa ra được định nghĩa về ý thức,con người đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu
dài, nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ, sai lệch cho tới những định nghĩa có tính
khoa học. Ngay từ thời cổ xưa,từ khi con người còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản
thân vì chưa lý giải được các sự vật hiện tượng xung quanh mình. Do chưa giải
thích được giấc mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cư trú trong cơ thể
và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển được suy nghĩ tình
cảm của con người mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con người. Nếu linh
hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ thể chết.
Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con người
nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế giới,
quan niệm về hồi tưởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn phổ biến
không chỉ ở trong con người mà cả trong các sự vật, hiện tượng, trong thế giới cõi
người và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới.
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm gíac và cho rằng cảm
giác của con người chi phối thế giới Như vậy, cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa duy tâm
đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là tính thứ nhất, sáng
tạo ra thế giới vật chất Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể
tách rời cơ thể và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo
thành. Khi khoa học tự nhiên phát triển, con người đã chứng minh được sự phụ
thuộc của các hiện tượng tinh thần, ý thức vào bộ óc con người thì một bộ phận
nhà duy vật theo chủ nghĩa duy vật máy móc cho rằng óc trực tiếp tiết ra ý thức
5
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
như gan tiết ra mật.Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao
gồm cả tâm lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản
ánh của thế giới khách quan. Định nghĩa này chưa chỉ rõ được vai trò của xã hội,
của ý thức. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản
càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng
động của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan
trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là
tình cảm, niềm tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự
tưởng tượng chủ quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí.
Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng
thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực.
Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý
chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức
và luôn hướng tới tri thức.
1.1. 2- Nguồn gốc của ý thức.
1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên
Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát triển từ
thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết
quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người
và bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và
trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động
tâm lý của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con
người. Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận
vô số các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt
7
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không
điều kiện và phản xạ có điều kiện.
Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác
động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ
thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất khác.
Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thương thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối
loạn. Phản ánh cũng là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi
ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ
động tác động vào sự vật hiện tượng buộc sự vật bộc lộ ra những đặc điểm của
chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu
cầu phát triển xã hội.
1.1.2.2 - Nguồn gốc xã hội.
Ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so với
động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với
quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động,
của giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa mãn
nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người. Chính nhờ lao động mà con
người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển.
Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài người là vượn, người nguyên thủy
sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lượm, săn bắt và ăn thức ăn
sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vượn người đã sáng tạo ra
các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến hóa thành con
người. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa để sinh hoạt và
9
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
nướng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán ccầu não phát triển
làm tăng khả năng nhận biết, phản ứng trước các tình huống khách quan. Mặt khác,
lao động là hoạt động có tính toán, có phương pháp mục đích do đó mang tính chủ
động. Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động của con người vào thế giới
khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ
các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho con người hiểu biết thêm về thế giới
xung quanh, thấy sự vật hiện tượng xung quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay
chưa có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên có thê
mang thuộc tính, đặc điểm của sự vật trước đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra
một tự nhiên mới. Lao động là qúa trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng
triệu lần phương pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tư duy trừu tượng
vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín phản ánh quy
định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền
đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan.
Ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân lao đọng là
hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người. ý thức không chụp
lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông
tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở
khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động tác
đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ
quan của ý thức. ý thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền với hoạt động
khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có chọn lọc tồn tại dưới hình thức
chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách quànva sự
vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính. Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với
nhau không thể tách rời. Hiện thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng
tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo. Ngược lại không có sáng
11
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai
quá trình thu nhận và xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và
chủ quan trong ý thức. Vì vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan (
hay là cái vật chất) đã được di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong
đó. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Biểu hiện
của sự phản ánh và sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình
thực hiện hóa tư tưởng. Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực
trực tiếp dưới hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng
mới, tự nhiên "mới" tự nhiên "thứ hai" của con người.
1.1.3.2- Bản tính xã hội.
Ý thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con
người. Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau
để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. Do đó mà khái niệm hoạt đọng xã
thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn. Những tri thức sai lầm phản khoa học
hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất.Do những
tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến chiến, đến những chiến lược phát triển kinh tế
không hiệu quả No kéo lùi sự phát triển của xã hôị. ở một khía cạnh nào đó ta
thấy những truyền thống ,những tâm tư tình cảm của con người không phụ thuộc
vào vật chẩt. Dựa vào đặc tính này của vật chất con người có thể cố phấn đấu đi
lên bắng lao động và học tập, xây dựng đất nước và xã hội giàu mạnh hơn, công
bằng hơn.
1.2 Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội.
1.2.1- Khái niệm về khoa học
Khoa học có nhiều định nghiã khác nhau. Với tính cách là một lĩnh vực đặc thù
của con người khoa học bao gồm hoạt động tinh thần, hoạt động vật chất, hoạt
động lý luận và hoạt động thực tiễn xã hội. Với tính cách là một hình thái xã hội,
13
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
khoa học là một hệ thống tri thức khái quát, được hình thành, phát triển và kiểm
nghiệm trên cơ sở thực tiễn. Khoa học phản ánh một cách chân thực các mối liên
hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy con
người.
Từ đó thấy rằng: Khoa học khác tôn giáo ở chỗ phản ánh một cách chân thực
hiện thực, sự hình thành, phát triển của thế giới khách quan và được kiểm nghiệm
qua thực tiễn; còn tôn giáo phản ánh hiện thực một cách hư ảo với niềm tin mù
quáng xa rời thực tiễn. Sự phản ánh của khoa học khác với các hình thái ý thức xã
hội khác ở chỗ phản ánh đúng đắn, chân thực những gì đang diễn ra và đi sâu vào
các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động phát triển của hiện thực.
Hình thức biểu hiện chủ yếu của khoa học là các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học bao hàm cả tự nhiên, xã hội và bản thân con
người, các lĩnh vực vật chất, tinh thần và cả các hình thái ý thức xã hội.
1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội.
Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động thực tiễn. Vai
thức.
Thứ nhất, phải có bộ óc của con người phát triển ở trình độ cao thì mới có sự ra
đời của ý thức. Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con
người mới tạo ra được ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tương tác giữa bộ não
con người và thế giới khách quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một người nào đó sinh ra
mà bộ não không hoạt động được hay không có bộ não thì không thể có ý thức
được. Cũng như câu chuyện cậu bé sống trong rừng cùng bầy sói không được tiếp
xúc với xã hội loài người thì hành động của cậu ta sau khi trở về xã hội cũng chỉ
giống như những con sói. Tức là hoàn toàn không có ý thức.
15
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý
thức. Nhờ có lao động mà các giác quan của con người phát triển phản ánh tinh tế
hơn đối với hiện thực… ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm tình cảm, hay
là phương tiện thể hiện ý thức. Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội
có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra đời của ý thức. Vật chất là tiền đề cho sự tồn
tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức cũng phải thay đổi
theo.
VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần
kinh của bộ não người. Nhưng khi bộ não người bị tổn thương thì hoạt động của ý
thức cũng bị rối loạn.
VD2. Ở Việt Nam, nhận thức của các học sinh cấp 1, 2, 3 về công nghệ thông tin là
rất yếu kém sở dĩ như vậy là do về máy móc cũng như đội ngũ giáo viên giảng dậy
còn thiếu. Nhưng nếu vấn đề về cơ sở vật chất được đáp ứng thì trình độ công nghệ
thông tin của các em cấp 1, 2, 3 sẽ tốt hơn rất nhiều.
VD2. Đã khẳng định điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức chỉ là như thế đó.
2.1.2 Ý thức tác động trở lại vật chất.
Trước hết ta đưa ra định nghĩa của ý thức: ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới
khách quan vào trong bộ não con người thông qua lao động mà ngôn ngữ. Nó là
toàn bộ hoạt động tinh thần của con người như: Tình cảm yêu thương, tâm trạng,
đầy đủ vì vậy khi vừa mới khai trương nhà máy này đã không sử lý nổi và cho đến
nay nó chỉ là một đống phế liệu cần được thanh lý.
2.2 Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với con
đường đi lên xã hội chủ nghĩa của nước ta.
2.2. 1 Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết
định ý thức là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó.
Trước thời kì đổi mới, khi cơ sở vật chất con chưa có chúng ta nôn nóng muôn
đốt cháy giai đoạn nên đã phải trả giá. Ở thời kì này chúng ta phát triển quan hệ
sản xuất đi trước lực lượng sản xuất mà không nhìn thấy vai trò quyết định của lực
17
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
lượng sản xuất. Sau giải phóng đất nước ta là một đất nước nông nghiệp với số
dân tham gia vào ngành này tới hơn 90%. Nhưng chúng ta vẫn xây dựng các nhà
máy công nghiệp trong khi để nhanh chóng trở thành nước công nghiệp hoá trong
khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, thêm vào đó là sự phân công không hợp lý
về quản lý nhà nước và của xã hội, quyền lực quá tập trung vào Đảng, và Nhà nước
quản lý quá nhiều các mặt của đời sống xã hội, thực hiện quá cứng nhắc làm cho
toàn xã hội thiếu sức sống, thiếu năng động và sáng tạo,. Các giám đốc thời kì này
chỉ đến ngồi chơi xơi nước và cuối tháng lĩnh lương, các nông dân và công nhân
làm đúng giờ quy định nhưng hiệu quả không cao… Ở đây chúng ta đã xem nhẹ
thực tế phức tạp khách quan của thời kì quá độ, chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ
quá độ lên xã hội chủ nghĩa là quá trình lịch sử lâu dài và phải trải qua nhiều
chặng đường.
Từ đây, chúng ta phải có cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa và cơ sở vật chất phát
triển. Chúng ta phải xây dựng lực lượng sản xuất phù hợp quan hệ sản xuất. Chúng
ta có thể bỏ qua tư bản chủ nghĩa nhưng không thể bỏ qua những tính quy luật
chung của quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Chúng ta cũng phải biết kế
thừa và phát triển tích cực những kết quả của công nghiệp tư bản như thành tựu
khoa học, kỹ thuật và công nghệ – môi trường, là cơ chế thị trường với nhiều hình
thức cụ thể tác động vào quá trình phát triển kinh tế.
Một trong chủ trương quan trọng là phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong
hệ tư tưởng Mác – Lênin là sự thốn nhất giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn
của đất nước Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bảo về và quán triệt chủ nghĩa
Mác – Lênin đúng đắn và hiệu quả nhất. Như vậy muốn hiểu sâu sắc và vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh phải nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là phép biện
19
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
chứng duy vật và phải nghiên cứu, nắm vững thực tiễn. Chúng ta phải tập trung
suy nghĩ về hai mặt:
Một là, về mục tiêu, lý tưởng và đạo đức lối sống. Đây là yếu tố cơ bản nhất chi
phối mọi suy nghĩ, hành động của chúng ta quyết định phẩm chất của người cán
bộ, đảng viên trong điều kiện chuyển biến của thế giới và tình hình trong nước. Tư
tưởng của Bác khẳng định mỗi người chúng ta hãy nâng cao đạo đức cách mạng,
đạo đức công dân và đạo đức của người cộng sản. Cụ thể, chúng ta phải “cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư”, luôn vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh vì lợi ích của cá
nhân và cả lợi ích của cộng đồng. Kiên quyết và nghiêm khắc chống chủ nghĩa
thực dụng với các biểu hiện tính đa dạng trong nền kinh tế thị trường mở cửa, thực
sự góp phần đẩy lùi nạn tham nhũng và tệ nạn xã hội, ngăn chặn sự thoái hoá biến
chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Hai là, về yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, mỗi người trên
cương vị trách nhiệm của mình, phải hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả, chất
lượng cao. Vì vậy, chúng ta phải đề cao ý chí phấn đấu, phấn đấu không mệt mỏi,
không sợ hy sinh, gian khổ, đồng thời phải ra sức trau dồi tri thức. Cần nâng cao tri
thức khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận về chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao tri thức về khoa học tự
nhiên, đặc biệt là mũi nhọn về khoa học công nghệ hiện đại. Phải nắm vững
phương pháp nhận thức và hành động của Bác, bám sát thực tiễn, bám sát cơ sở,
thâm nhập dân chúng, đánh giá đúng khó khăn thuận lợi, thực trạng và triển vọng.
Tự nội lực, vì dân và thực sự dựa vào dân, thực hiện dân chủ lắng nghe và tâm
nay. Đảng cũng phải cương quyết giải thể các công ty làm ăn thua lỗ như: Tổng
công ty sành sứ Việt Nam, Tổng công ty nhựa, Tổng công ty rau quả Việt Nam…
để tránh việc nhà nước bỏ vốn vào nhưng lại luôn phải bù lỗ cho các công ty này.
21
Bài Tiểu Luận GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Ngoài ra chúng ta cũng cần nâng cao trình độ nhận thức tri thức khoa học cho nhân
dân nói chung và đặc biệt đầu tư cho ngành giáo dục. Chúng ta cần xây dựng chiến
lược giáo dục, đào tạo, với những giải pháp mạnh mẽ phù hợp để mở rộng quy mô
chất lượng ngành đào tạo, đối với nội dung và phương pháp giáo dục, đào tạo, cải
tiến nội dung chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp với từng đối tượng, trường
lớp ngành nghề. Kết hợp giữa việc nâng cao dân trí, phổ cập giáo dục với việc bồi
dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động để đáp ứng
nhu cầu cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện đồng bộ và có
hiệu quả các giải pháp trên sẽ kích thích tính năng động và tài năng sáng tạo của
người lao động ở nước ta. Sự nghiệp đất nước càng phát triển thì tính tích cực và
năng động của con người càng tăng lên một cách hàng hợp với quy luật.
KẾT LUẬN
Nói tóm lại, vật chất bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đối với ý thức, nó là
cái có trước ý thức, nhưng ý thức có tính lực năng động tác động trở lại vật chất.
Mối tác động qua lại này chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Chúng ta nâng cao vai trò của ý thức với vật chất chính là ở chỗ nâng cao
năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng các quy luật khách quan
trong hoạt động thực tiễn của con người.
Trong thời kì đổi mới của nước ta khi chuyển nền từ tập trung, quan liêu sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và
hành động theo quy luật khách quan. Với chủ trương này chúng ta đã giành được
một số thắng lợi to lớn tuy nhiên vẫn còn một số thiếu sót, đặc biệt ở khâu hành
động. Đề ra chủ trương là vấn đề quan trọng nhưng thực hiện nó mới là một vấn
đề thực sự khó khăn.
1.1.3.2- Bản tính xã hội. ……………………………………………………… 12
1.1.3.3- Sự tác động trở lại vật chất của ý thức………………………………….13
1.2 Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội. ………………
1.2.1- Khái niệm về khoa học……………………………………………………….
1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. ………… 14
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA Ý THỨC……….15
2.1. Lý luận chung về mối quan hệ vật chất và ý thức. ……………………………
2.1.1. Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức…………………………………
2.1.2. Ý thức tác động trở lại vật chất……………………………………………16
2.2. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với con đường
đi lên xã hội chủ nghĩa của nước ta………………………………………………17
2.2.1. Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất định ý thức
là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó………………… 18
2.2.2 Để xây dựng XHCN cũng cần phải hiểu sâu sắc vai trò của ý thức tác động
trở lại vật chất……………………………………………………………………19
Kết luận………………………………………………………………………….22
Tài liệu tham khảo……………………………………………………………….23
24