Du lịch sinh thái:
Hướng dẫn cho nhà lập kế
hoạch và quản lý
Tập 2
Biên soạn
Kreg Lindberg, Megan Epler Wood
David Engeldrum
HIỆP HỘI DU LỊCH SINH THÁI là một tổ chức phi lợi nhuận và có các hội viên quốc tế
chuyên tìm đến các nguồn tài nguyên và xây dựng chuyên môn để đảm bảo du lịch là một
công cụ có lợi cho bảo tồn và phát triển bền vững.� Tổ chức này phục vụ các nhà điều
hành du lịch, bảo tồn và các nhà quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, các quan chức chính phủ,
chủ nhà trọ và hướng dẫn viên du lịch, các nhà nghiên cứu và tư vấn, và các lĩnh vực
chuyên môn khác đang thực hiện các dự án du lịch sinh thái trên thế giới.� Hiệp hội đang
soạn thảo những phương pháp tốt nhất để thực hiện các nguyên tắc du lịch sinh thái bằng
cách cộng tác với mạng lưới toàn cầu đang lớn lên bao gồm các chuyên môn khác nhau
làm việc một cách tích cực� trong lĩnh vực du lịch sinh thái.
Tổ chức đã đặt ra các mục tiêu lâu dài sau đây:
Thiết lập các chương trình giáo dục và tập huấn
Cung cấp các dịch vụ thông tin
Thiết lập các tiêu chuẩn trong lĩnh vực du lịch sinh thái.
Xây dựng một mạng lưới các cơ quan và chuyên môn.
Nghiên cứu và phát triển các mô hình� hiện trạng nghệ thuật trong lĩnh vực du lịch
sinh thái.
Nếu cần thêm thông tin về các dự án của Hiệp hội và các thành viên, hãy liên lạc:
THE ECOTOURISM SOCIETY
P.O Box 755
North Bennington, VT 05257
Ðiện thoại: (802) 447- 2121/ Fax: (802) 447- 2122
Email:
Home page:
DU LỊCH SINH THÁI
mong bạn đọc lượng thứ với những khiếm khuyết của người dịch. Khi bạn đọc cần góp ý, trao đổi
về các thuật ngữ, khái niệm đã được dùng trong tài liệu dịch này, xin vui lòng liên hệ với những
người dịch:
Nghiêm Phương Tuyến, địa chỉ: Trung Tâm Nghiên Cứu Tài Nguyên và Môi trường, Ðại
học Quốc gia Hà nội, 167 Bùi thị Xuân, Hà Nội, Việt Nam, điện thoại: (84-4) 9 76 0 975,
Fax: (84-4) 821 8934 ,
E-mail:�� tuyen @uplands.ac.vn�
�
Nội dung
Lời tựa
Lời mở đầu
Hector Ceballos- Lascuráin
CHƯƠNG 1
Thị trường và Cơ cấu của Ngành Du lịch
Sinh thái
Megan Epler Wood
CHƯƠNG 2
Những Hướng mới trong Ngành Du lịch
Sinh thái
Simon McArthur
CHƯƠNG 3
Mở đầu về Lĩnh vực Diễn giải còn chưa
đầy đủ
Simon McArthur
CHƯƠNG 4
Các khía cạnh Kinh tế của Du lịch Sinh
thái
Kreg Lindberg
CHƯƠNG 5
Du lịch sinh thái:
Hướng dẫn cho các nh là ập kế hoạch v quà ản lý
 
Văn bản tiếng Việt được ra mắt bạn đọc là do sáng kiến của dự án Du lịch Bền vững,
IUCN Việt Nam cùng với hỗ trợ tài chính trong dịch thuật của dự án (the Vietnamese
translation was initiated and funded by IUCN Vietnam�s Sustainable Tourism
Project)
Dự án Tăng cường Năng lực cho Các cơ quan Quản lý Môi trường Việt Nam
(SEMA/NEA) tài trợ tiền bản quyền và tiền in
Dự án Du lịch Bền vững (IUCN) đã tài trợ tiền dịch
Lời tựa
Hiệp hội Du lịch Sinh thái xuất bản cuốn Du lịch Sinh thái: Hướng dẫn cho các nhà Lập
Kế hoạch và Quản lý năm 1993 vì có rất ít thông tin tập trung vào những khía cạnh �làm
thế nào� trong lĩnh vực quy hoạch và quản lý du lịch sinh thái.� Mặc dù số lượng sách
báo và hội nghị hội thảo về du lịch sinh thái tiếp tục sinh sôi nảy nở một cách nhanh chóng
song rất ít tài liệu có thể được coi là nguồn tài liệu tốt cho các nhà quy hoạch, quản lý, sinh
viên và những người hoạt động trong ngành này.� Vì vậy Hiệp hội Du lịch Sinh thái cho
xuất bản tập 2 cuốn Du lịch Sinh thái: Hướng dẫn các nhà Lập kế hoạch và Quản lý.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng cuốn sách này không chỉ sửa đổi và cập nhật tập một.�
Mà mục đích của chúng tôi còn là đưa ra những vấn đề không được nhắc đến trong tập
một, ví dụ như vấn đề diễn giải (interpretation).� Hơn thế nữa, chúng tôi còn có mục đích
nhấn mạnh chi tiết và sự nghiêm ngặt của vấn đề diễn giải.� Mặc dù có một số vấn đề bị
lặp lại song cũng có sự khác biệt cơ bản.� Chúng tôi hy vọng rằng cả hai tập sách sẽ làm
cho các sinh viên và các nhà giáo dục trong ngành quan tâm.� Ðể bổ xung cho những
thông tin trong chương này, độc giả có thể tìm đọc các ấn phẩm khác của Hiệp hội Du lịch
Sinh thái.
Các lớp độc giả mà chúng tôi muốn hướng tới rất đa dạng, bao gồm cả những người theo
học các khoá bồi dưỡng và đào tạo trong trường đại học, những người hoạt động chuyên
nghiệp trong ngành du lịch sinh thái, các nhà quy hoạch và quản lý làm việc trong lĩnh vực
quản lý vườn quốc gia và khu bảo vệ, và cán bộ của các cơ quan nhà nước.� Chúng tôi hy
Boo���������������������������������
�� Dave Mihalic
Hector Ceballos-Lascurain�� Gianna Moscardo
Chris
Gakahu��������������������������������
��� Terry Pratt
Troy Hall�������������������������������
Jamie Resor
William Hammit������������������� Isaac Sindiga
Robert Healy������������������������ Sheryl Spivack
Herb Hiller���������������������������� Derek
Wade
Edward Inskeep������������������� Geoffrey Wall
Leslie Jarvie�������������������������� Will
Weber
Gail Lash�������������������������������
Rolf Wesche
Michael Lockwood��������������� Sven Wunder
Lời nói đầu
Héctor Ceballo s - Lascuráin
Năm năm đã trôi qua kể từ khi xuất bản tập một cuốn Du lịch Sinh thái: Hướng dẫn các
nhà Lập Kế hoạch và Quản lý. Trong thời gian này đã có rất nhiều bước phát triển trong
lĩnh vực du lịch, du lịch sinh thái và bảo tồn trên thế giới. Quan trọng nhất là việc du lịch
sinh thái không còn chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm. Ngược lại,
nó đã trở thành một thực tế trên toàn cầu. Ở MỘT VÀI NƠI, NÓ XUẤT hiện không
thường xuyên và khá yếu ớt, ít được báo chí chú ý tới. Song ở nhiều nơi khác thì vấn đề
phát triển du lịch sinh thái lại rất được chính phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản
tin chính hay các quảng cáo thương mại công cộng. Tuy vậy, ở nhiều nơi sáng kiến này
không được xác định hay định nghĩa rõ ràng, hoặc thường bị hiểu nhầm với các hoạt động
khác. Mặc dù vậy, rất ít có nước nào trên thế giới lại không có một vài loại hình phát triển
bền vững. Vì thế kỷ mới đang tới gần nên tất cả các hoạt động của con người cần phải trở
nên bền vững - và du lịch không phải là một ngoại lệ. Du lịch bền vững bao gồm tất cả các
loại hình của du lịch (dù là loại hình dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tài
nguyên do con người tạo ra). Do đó, du lịch sinh thái cần được hiểu là một trong những
phạm trù của du lịch bền vững. Một bãi biển lớn, một sòng bạc tiết kiệm năng lượng bằng
cách không giặt khăn tắm hàng ngày cho khách hoặc giảm thiểu tác động môi trường bằng
cách sử dụng loại xà phòng gây suy thoái tài nguyên sinh vật thì không phải là điểm du lịch
sinh thái. Qua đây, chúng ta khuyến khích ngành du lịch đại chúng có ứng xử thân thiện
với môi trường, hay nói cách khác, chúng ta khuyến khích ngành du lịch phát triển bền
vững hơn.
Không nên coi du lịch sinh thái là ngành du lịch �dựa vào thiên nhiên� vì cái mác này có
thể sử dụng trong tất cả các hoạt động du lịch được thực hiện ngoài thiên nhiên (ví dụ trượt
tuyết, đi xe đạp leo núi, và bám vách đá leo núi). Những hoạt động du lịch này có thể có
mà cũng có thể không thuộc loại hoạt động thân thiện với môi trường. Một cách gọi khác
thường bị nhầm với du lịch sinh thái là �du lịch thám hiểm�. Loại hình này thường là
các hoạt động thể thao cơ bắp (thường bao gồm sự mạo hiểm cá nhân ở một mức độ nào
đó) cũng diễn ra ngoài thiên nhiên (ví dụ leo lên đỉnh hang). Những hoạt động này có thể
có hoặc có thể không thuộc loại có trách nhiệm đối với môi trường hay làm lợi cho dân địa
phương. Do đó, du lịch sinh thái chỉ nên được sử dụng để mô tả những hoạt động du lịch
trong môi trường thiên nhiên với một đặc điểm đi kèm: là loại hình du lịch thực sự khuyến
khích bảo vệ và giúp xã hội phát triển bền vững.
Trong vòng năm năm qua, ở một số NƯỚC NHƯ MEHICÔ, Úc, Malaixia và Ecuađo đã
xây dựng được chiến lược và kế họach du lịch sinh thái quốc gia. Song không phải tất cả
các nước này thực hiện có hiệu quả kế hoạch của mình. Một trong những trở ngại chính là
thiếu sự quan tâm liên tục của chính phủ. Cũng trong những năm gần đây, có nhiều nước
NHƯ ECUAÐO, BRAXIN, Úc, Kênia, Extônia, Inđônexia và Vênêxuêla đã thành lập hiệp
hội du lịch sinh thái quốc gia để khuyến khích áp dụng và phát triển du lịch sinh thái.
Du lịch nói chung tăng vọt trong vòng bốn năm qua. Theo tổ chức Du lịch Thế giới (1996),
giữa năm 1991 và 1995 du lịch quốc tế đã tăng từ 450 triệu đến 567 triệu người. Thu nhập
của du lịch quốc tế (không kể khoản thu từ giao thông đi lại) tăng 7,2% trong khoảng thời
Du lịch sinh thái đã trải qua thời kỳ sơ sinh và thơ ấu. Nó đang bắt đầu bước sang thời kỳ
trưởng thành. Hy vọng rằng những năm tới đây ngành du lịch sinh thái sẽ khẳng định được
sự chín muồi và hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
�����������
Ceballos-Lascurain, H. 1996. Tourism, Ecotourism, and Protected Areas, IUCN, Gland,
Switzerland.
DeKadt, E. 1990. Making the Alternative Sustainable: Lessons from Development for
Tourism, Institute for Development Studies at the University of Sussex, Brighton,
United Kingdom.
(The) Ecotourism Society. Ecolodge Guidelines, The Ecotourism Society, North
Bennington, Vermont. In press.
Filion, EL., J.P Foley, A.J. jacquemot. 1992. "The Economics of Global Ecotourism,"
paper presented at the IV World Congress on National Parks and Protected Areas,
Caracas, Venezuela.
Gray, P 1996. "The Birdman of America: Roger Tory Peterson, 1908-1996," Time. August
12.
Hawkins, D.E., M. Epler Wood, S. Bittman. 1995. The Ecolodge Sourcebook for Planners
and Developers, The Ecotourism Society, North Bennington, Vermont.
Lindberg, K., D.E. Hawkins. 1993. Ecotourism: A Guidefor Planners and Managers,
Volume 1, The Ecotourism Society, North Bennington, Vermont.
Miller, L. 1995. "Have Binoculars, Will Travel: In Pursuit of Rarities, Bird-Watchers Boost
Tourism," Wall Street Journal, December 15.
U.S. National Park Service. 1993. Guiding Principles of Sustainable Design, United States
Department of the Interior.
World Tourism Organization. 1996. Yearbook of Tourism Statistics, World Tourism
Organization, Madrid, Spain.
Chương� 1
Thị trường và Cơ cấu
của ngành Du lịch Sinh thái
nhân khẩu học (như tuổi, thu nhập, giới tính hay nơi cư trú), động cơ du lịch, các hoạt động
và địa hình ưa thích.� Do chính phủ các nước thiếu quan tâm và do các nguồn thông tin
du lịch không chú ý thu thập những thông tin có thể nhận dạng khách du lịch sinh thái nên
hầu hết các nghiên cứu trong lĩnh vực này dựa trên cơ sở điều tra khảo sát, thảo luận của
các nhóm đói tượng chính, quan sát hành vi ứng xử và sử dụng các biện pháp có liên quan
để thu thập thông tin chủ yếu.� Nghiên cứu của Eagles (1996) về động cơ của khách du
lịch sinh thái được trích dẫn rộng rãi song chưa có ai lặp lại nghiên cứu này.� Nghiên cứu
gần đây của Akama về khách du lịch sinh thái đã so sánh giá trị môi trường của người
phương Tây và của người nông dân châu Phi.� Công trình nghiên cứu sâu về các công ty
du lịch sinh thái là công trình của Sirakaya.� Công trình này phát triển và thử nghiệm một
cơ sở lý luận� nhằm giải thích quan điểm của các công ty du lịch sinh thái đối với những
hướng dẫn đã được đưa ra.� Có rất nhiều tài liệu về động cơ du lịch của những người
tham gia hoạt động giả trí ngoài trí, và có thể những tài liệu đó sẽ có ích cho việc tìm hiểu
khách du lịch sinh thái.� Song nhìn chung, các nghiên cứu vẫn chưa quan tâm đầy đủ tới
quan điểm môi trường của các công ty du lịch sinh thái.
Chủ đề lớn thứ hai của chương nàylà xác định các loại hình kinh doanh của du lịch sinh
thái, kich cỡ, địa điểm, đặc tính và sự liên kết giữa các nhà doanh nghiệp và xem chúng
như một phương pháp để tìm hiểu cơ cấu kinh doanh của ngành du lịch sinh thái.� Ðẩivề
như với những nghiên cứu về nhu cầu thị trường, có ít nguồn thông tin thứ cấp về các công
ty du lịch.� Do đó, hầu hết các nghiên cứu về ngành công nghiệp sinh thái sẽ bao gồm cả
việc thu thập thông tin sơ cấp và sẽ có nhiều định nghĩa cũng như sẽ sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau.
Các yếu tố của nhu cầu� thị trường
Phân tích Nhu cầu về Thị trường Du lịch Sinh thái
Mặc dù một số nghiên cứu đã trình bày số liệu và đặc tính của khách du lịch sinh thái, vẫn
có hàng loạt vấn đề gây khó dễ cho việc thảo luận các hình thức du lịch sinh thái trên thế
giới.� Một là, các cơ quan của nhà nước có trách nhiệm thu thập thông tin về du lịch
thường ít chú ý đến các thông tin về những loại hình đặc biệt.� Hai là, rất nhiều nghiên
cứu thực hiện đánh giá định lượng về du lịch sinh thái đã không sử dụng phương pháp
rigorous.� Ba là, ít có nghiên cứu về thị trường được tiến hành với đề cương chi tiết, mặc
cầu của một nhóm bao gồm các tổ chức chính phủ và tư nhân Canada.� Công trình nghiên
cứu có chất lượng cao này sử dụng phương pháp điều tra khách hàng qua điện thoại, thư
tín, và thông qua các hoạt động thương mại để phân tích tiềm năng của thị trường du lịch
sinh thái ở Alberta và British Columbia.� Sự quan tâm chú trọng tới phương pháp điều tra
trong công trình nghiên cứu này đã cho khu vực tư nhân thấy một ví dụ xuất sắc về nghiên
cứu nhu cầu của thị trường.� GẦN ÐÂY, BAN NGHIÊN CỨU DU LỊCH Ở úc đã bắt
đầu xuất bản các công trình nghên cứu về tầm cỡ, đặc điểm nhân khẩu học, và các hình
thái củ du lịch trong thị trường du lịch của nước này.� Công việc này độc đáo ở chỗ đây
là lần đầu tiên một tổ chức du lịch quốc gia đã miêu tả sơ lược ngành du lịch sinh thái quốc
gia (Eagles, 1996; Hatch, 1997).
Cấu trúc của ngành du lịch sinh thái
Các doanh nghiệp du lịch sinh thái
Việc xác định các loại hình doanh nghiệp trong ngành du lịch sinh thái là rất quan trọng.
Một thành phần then chốt của ngành này là những doanh nghiệp tổ chức du lịch ra nước
ngoài, những doanh nghiệp này tổ chức các tuyến du lịch và bán vé trọn gói trực tiếp cho
khách du lịch. Mặc dù phần lớn những doanh nghiệp làm dịch vụ tổ chức này là của tư
nhân, một số khá đông trong số đó lại là các tổ chức môi trường phi lợi nhuận tổ chức các
chuyến du lịch sinh thái cho các thành viên của họ. Một số doanh nghiệp tổ chức du lịch ra
nước ngoài hoạt động như người bán sỉ, giao lại khách cho các hãng đại lý du lịch và
những doanh nghiệp tổ chức du lịch ra nước ngoài khác. Những doanh nghiệp tổ chức du
lịch trong nước hoạt động tại nước sở tại, nơi khách đến tham quan, những doanh nghiệp
này tổ chức dịch vụ du lịch trong phạm vi nước họ, thường� là những dịch vụ tại chỗ như
bố trí ăn, ở và giải trí cho khách.
Do sự phát triển về qui mô và sự phức tạp trong ngành du lịch sinh thái, các doanh nghiệp
hỗ trợ và tư vấn du lịch sinh thái cũng trở nên đa dạng hơn. Có thể hình dung được bức
tranh hiện tại về phạm vi và tính chất của các doanh nghiệp tổ chức dịch vụ tư vấn du lịch
sinh thái bằng cách xem danh bạ các thành viên quốc tế� của Hội du lịch sinh thái (The
Ecotourism Society, 1997). Quyển danh bạ này chia các loại doanh nghiệp như sau: Doanh
nghiệp tổ chức du lịch trong nước, doanh nghiệp tổ chức du lịch ra nước ngoài, các hãng
đai lý du lịch bán lẻ dịch vụ, khách sạn/nhà trọ và khu cắm trại, khu được bảo vệ, kiến trúc
ngoài của Mỹ phục vụ lên tới hơn 100.000 một năm, các điểm du lịch, nước và khu vực mà
họ đến có ảnh hưởng sâu sắc tới cấu trúc du lịch sinh thái toàn cầu (Biểu đồ 1.2) (Higgins,
1996).
Biểu đồ 1.1
Năm
Số các nhà tổ chức dịch vụ du lịch
SỰ PHÁT TRIỂN VỀ SỐ LƯỢNG NGHIỆP CÁC DOANH
DU LỊCH thiên nhiên ở Mỹ
Chủ yếu các tua du lịch sinh thái của Mỹ tập trung vào tây bán cầu và đặc biệt là Trung
Mỹ. Ngoài ra, trong khi chỉ có 9� doanh nghiệp đưa trên 25% khách tới những nơi ngoài
tây bán cầu, thì có 13 doanh nghiệp chỉ tổ chức các chuyến tham quan tới một khu vực
nhất định.� Như vậy, trong khi có tương đối ít doanh nghiệp mang tính chất toàn cầu
trong việc tổ chức dịch vụ du lịch, hầu hết các doanh nghiệp lại được tổ chức vượt ra ngoài
qui mô của các quốc gia đơn lẻ.� Sau hết, phân bố khu vực của các chuyến du lịch sinh
thái rất khác với dòng chảy của khách du lịch Mỹ thông thường, trong đó các chuyến tham
quan tới� châu Âu, Mê-hi-cô, và vùng Ca-ri-bê chiếm tỷ lệ rất lớn.
Nghiên cứu chưa xác định rõ số lượng khách liên hệ trực tiếp với doanh nghiệp tổ chức du
lịch tại nước sở tại� hoặc chi nhánh địa phương của công ty du lịch sinh thái ở nước�
ngoài, những khách này thường được gọi là khách tự do hay độc lập (FITs), cũng chưa có
sự so sánh giữa thị phần độc lập này với số khách du lịch thiên nhiên phải dựa vào các
doanh nghiệp tổ chức du lịch ra nước ngoài. Như vậy, qui mô, chân dung� và hành vi của
hai mảng thị phần dường như khác nhau này hiện tại vẫn chưa được biết rõ. Có lẽ là hầu
hết khách du lịch theo các chuyến du lịch thiên nhiên trọn gói thỏa thuận trực tiếp với�
các doanh nghiệp tổ chức du lịch ra nước ngoài và không thông qua các hoạt động bán lẻ
chẳng hạn như các hãng đại lý du lịch. Và kết quả là các doanh nghiệp tổ chức du lịch ra
nước ngoài đóng vai trò then chốt trong việc định hình sự lựa chọn nơi đến và ảnh hưởng
tới những tác động kinh tế của du lịch thiên nhiên. Hoạt động nghiệp vụ của họ có thể bao
gồm: trực tiếp tiếp thị cho các tuyến máy bay và bán vé, thỏa thuận với các doanh nghiệp
tổ chức du lịch tại chỗ ở các nước khác, hình thành các công cụ tiếp thị, và quản lý việc
bán dịch vụ du lịch.
tại chỗ tổ chức các tuyến đi bằng phương tiện giao thông bộ, mặc cả giá thuê chỗ ở, cung
cấp người hướng dẫn và phiên dịch cho các chuyến du lịch thiên nhiên. Họ bán dịch vụ cho
các đại lý du lịch, các nhà tổ chức dịch vụ du lịch thiên nhiên ra nước ngoài và khách du
lịch thiên nhiên (họ bán dịch vụ trực tiếp cho các khách này). Mới có rất ít nghiên cứu về
thành phần này của ngành du lịch sinh thái. Chỉ có hai ngoại lệ là một đánh giá đã rất lâu
về cấu trúc và nhu cầu phát triển của ngành du lịch thiên nhiên ở trong phạm vi �-cu-a-đo
(Wilson, 1987) và một nghiên cứu gần đây hơn về sản phẩm, thị trường và tiềm năng kinh
doanh ở Ca-na-đa (Tourism Ca-na-đa, 1995).
Một trong những tính chất quan trọng của các nhà tổ chức dịch vụ du lịch thiên nhiên tại
chỗ là hình thức sở hữu, trong đó gồm có: các văn phòng chi nhánh xuyên quốc gia, các chi
nhánh đặc quyền xuyên quốc gia, chi nhánh của các nhà tổ chức dịch vụ du lịch thiên nhiên
ra nước ngoài, các công ty nước ngoài thuộc sở hữu của ngoại kiều, liên doanh, chi nhánh
của các công ty quốc gia lớn, các đơn vị độc lập thuộc sở hữu trong nước, và các hợp tác
xã. Mỗi một loại hình sở hữu khác nhau này kéo theo một loạt các quan hệ nhất định với
những cổ đông khác trong ngành này. Chẳng hạn như các chi nhánh đặc quyền và các chi
nhánh của các công ty xuyên quốc gia có những mối liên hệ tiếp thị đặc biệt với dòng
khách du lịch thiên nhiên từ các nước công nghiệp phát triển và tập trung vào các tài sản
mà họ sở hữu ở nước chủ nhà. Cũng như vậy, các nhà tổ chức dịch vụ du lịch thiên nhiên
tại chỗ lớn thường có những nhà trọ riêng của họ và họ tập trung khách tại những điểm
này. Mặc dù sự quản lý, lợi ích và tác động của những hình thức sở hữu riêng biệt này rất
khác nhau, những hình thức riêng biệt trong tổ chức kinh doanh hoặc tác động của những
hình thức đó lên tính chất của du lịch sinh thái chưa được chú ý tới một cách có hệ
thống.��
Các doanh nghiệp dịch vụ du lịch thiên nhiên ở địa phương
Các doanh nghiệp dịch vụ du lịch thiên nhiên ở địa phương có thể gồm chi nhánh địa
phương của công ty du lịch, các khu bảo tồn thiên nhiên tư nhân, khách sạn, nhà hàng, tiệm
rượu, dịch vụ giao thông, người bán hàng lưu niệm, hướng dẫn viên và những người cung
cấp dịch vụ giải trí. Những nghiên cứu về các chi nhánh của công ty du lịch ở địa phương
hiện có: một công trình điều tra về việc lập kế hoạch, thiết kế khả thi, tài chính, và tiêu
chuẩn cũng như những hướng dẫn căn bản cho những chi nhánh này(Hawkins và các tác
Kết hợp thị trường
Hoạt động du lịch sinh thái
Kenya và Costa Rica có ngành du lịch rất phát triển - ngành này là nguồn thu nhập quan
trọng và sáng giá của các nước này. Ơ hai nước này ngành du lịch là kết quả của sự hợp tác
thành công giữa hai khu vực nhà nước và tư nhân. Kinh nghiệm của những nước này có thể
trở thành những chỉ dẫn hữu ích cho sự phát triển và hoạt động của các thị trường du lịch
sinh thái quốc gia (Eagles và các tác giả khác, 1992).
Hình 1.3 cho thấy một mô hình để đánh giá một thị trường du lịch. Yếu tố trung tâm của
mô hình này là sự phối hợp trong thị trường của giá cả, quảng cáo, sản phẩm và địa điểm,
những vấn đề nàu tạo nên nền tảng của sản phẩm du lịch. Giá cả của sản phẩm luôn luôn là
điểm quan trọng trong quyết định của khách hàng. Mức độ quảng cáo cũng ảnh hưởng tới
sự mong đợi của khách hàng. Sản phẩm - chuyến đi - bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố,
trong đó có nguyên tắc hoạt động của những doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước tham
gia vào quá trình này. Ðịa điểm rất quan trọng trong du lịch sinh thái bởi vì tính chất của
địa điểm du lịch ảnh hưởng rất lớn tới kết quả chuyến đi. Hai thành tố, môi trường kinh
doanh bên ngoài và việc thực hiện chuyến du lịch sinh thái cũng ảnh hưởng tới mối kết hợp
trong thị trường này.
Thành tố thứ nhất, môi trường kinh doanh bao gồm những nhân tố có tính chất ngoại cảnh
đối với người tổ chức du lịch, chẳng hạn như nhu cầu của thị trường (những công ty có thị
phần lớn hơn trong thị trường có thể ảnh hưởng tới nhu cầu thông qua việc quảng cáo),
những dịch vụ hiện đã có sẵn, hay là điều kiện chính tri và kinh tế bên ngoài. Rất nhiều
hãng cung cấp dịch vụ cho khách - một số dịch vụ này do các doanh nghiệp tổ chức du lịch
sinh thái điều hành, mặc dù rất nhiều dịch vụ là do các hãng khác cung cấp - chẳng hạn
như các công ty vận tải. Các điều kiện ngoại cảnh bao gồm thời gian và thông tin có được,
số tiền cần phải chi, bối cảnh chính trị ở nước đó, và một điều kiện ngoại cảnh quan trọng
nữa là mức độ cạnh tranh để có được sản phẩm du lịch đó. Một nước có những khả năng
nhất định, chẳng hạn như kinh nghiệm quản lý, những khả năng này phụ thuộc vào nguồn
và nhân lực có được ở trong nước.
Thành tố thứ hai là việc điều hành chuyến du lịch sinh thái. Việc cung cấp du lịch sinh thái
cho khách do doanh nghiệp tổ chức du lịch điều hành và là yếu tố bị các nguyên tắc quản
những động cơ xã hội quan trọng nhất của những du khách này.
Bảng 1.1
NHỮNG ÐỘNG CƠ XÃ hội quan trọng đối với du khách đến tham quan Kenya
được điều tra
ẢNH phong cảnh và đời sống hoang dã
Học hỏi về tự nhiên
Trải nghiệm cách sống mới và khác lạ
Xem cho biết tới mức nhiều nhất có thể được
Tham quan những địa điểm lịch sử quan trọng
Ballantine (1991) nhận thấy những du khách này quan tâm tới việc ngắm cảnh, học hỏi và
chụp ảnh. Họ cũng muốn trải nghiệm cách sống của người địa phương bởi vì Kenya được
coi là một nước có tầm quan trọng lịch sử. Họ muốn thực hiện tất cả những việc này một
cách có hiệu quả, muốn xem càng nhiều càng tốt trong thời gian du lịch nước này. Ðộng cơ
quan trọng nhất thu hút khách tới Kenya là thiên nhiên (bảng 1.2). Tham quan các công
viên và khu bảo tồn này khách sẽ được xem những loài thú và chim đẹp của châu Phi. Rất
nhiều người đánh giá cao thiên nhiên ở đây trong đó rừng rậm nhiệt đới và muông thú
hoang dã được đưa lên hàng đầu.
Bảng 1.2
NHỮNG ÐỘNG CƠ thu hútquan trọng đối với
Các công viên quốc gia và khu bảo tồn
Sự hoang dã
Thú
Chim
Rừng nhiệt đới
du khách đến tham quan Kenya được điều tra
�����������
Những du khách này có trình độ học vấn cao, 46,6% trong số họ có ít nhất một bằng đại
học. Có thể so sánh với trình độ của dân Ca-na-đa nói chung: năm 1991 11,4% những
người từ 15 tuổi trở lên có một bằng đại học (Colombo, 1994). Tuổi trung bình của khách
du lịch là 49 trong có 55% là nữ.
1997). Khu vực tư nhân tiếp tục đóng vai trò chủ đạo, thông qua đa số thành viên và có lẽ
qua đầu tư tài chính. Thành phần ban đầu trong ban có sự hiện diện áp đảo của chính phủ,
trong đó có giám đốc KWS và ba thư ký thường trực. Tuy nhiên, từ khi ban này được công
bố năm 1996 thì địa vị của ban này vẫ chưa được chính thức hóa thông qua quy định hay
một đạo luật của nghị viện; cũng chưa có quy định rõ ràng ban này sẽ được cung cấp tài
chính như thế nào (Sindiga, 1997).
Ngành du lịch sinh thái phát triển bằng chính sự hấp dẫn của thiên nhiên và những cố gắng
của rất nhiều các tổ chức tư nhân (Cơ quan tình báo kinh tế - Economist Intelligence Unit,
1991).
Câu lạc bộ du lịch lục địa châu Phi (ASC - African Safari Club), một trong những tổ chức
du lịch và khách sạn lớn nhất Kenya, là một tổ chức như vậy. ASC sở hữu 15 khách sạn
trên bờ Ân độ dương, một chi nhánh du lịch lục địa ở Nairobi và một trại du lịch lục địa ở
Khu bảo tồn vui chơi Maasai Mara. Câu lạc bộ này phục vụ xe cộ, ăn và ở cho hơn 50.000
khách một năm (Bell, 1990). Bằng việc bố trí du lịch ra cả bãi biển và trong lục địa, ASC
đã phục vụ nhiều chương trình đáp ưng đượ những nhu cầu đa dạng của du khách. Công ty
này là một ví dụ của khu vực du lịch tư nhân với sự kết hợp ngành dọc và được Ballantine
(1991) chọn để nghiên cứu chi tiết.
Năm 1996, Hội du lịch sinh thái Kenya được thành lập để quảng cáo và giúp đỡ các dự án
du lịch sinh thái của cộng đồng, xuất bản luật ứng xử tron du lịch sinh thái, và thiết lập quy
trình kiểm toán để khẳng định cam kết của ngành du lịch sinh thái trong việc bảo vệ môi
trường (Opala, 1996). Những tổ chức như vậy có thể đóng vai trò người môi giới trung
thực trong ngành du lịch của cả nhà nước và tư nhân. Tổ chức này cũng có thể đưa ra, thực
hiện và giám sát những tiêu chuẩn về hành vi đối với môi trường trong ngành du lịch.