KHÁI QUÁT CHUNG ĐỊA HÌNH VIỆT NAM potx - Pdf 19

KHÁI QUÁT CHUNG ĐỊA
HÌNH VIỆT NAM I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỊA HÌNH VIỆT NAM

– Địa hình là một yếu tố quan trọng trong tự nhiên ví nó có hình
dáng nổi bật nhất và chi phối mạnh mẽ đến các yếu tố tự nhiên khác,
là nơi diễn biến các yếu tố tự nhiên, riêng bản thân nó thì khá bền
vững và ít thay đổi.

– VN nằm ở vùng nội chí tuyến đáng lẽ ít có sự phân hoá theo không
gian, nhưng sự phân hoá Đông Tây, Bắc – Nam, thấp lên cao làm cho
tự nhiên Việt Nam vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn do có sự
đóng góp của địa hình.

– Địa hình là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất của xã hội, làm cho
địa hình ngày càng thay đổi, làm mất đi vẻ nguyên sinh, hình thành
nên dạng địa hình mới là dạng nhân sinh, phần lớn địa hình VN ngày
nay là dạng địa hình nhân sinh.

1. Đồi núi là một bộ phận quan trọng của địa hình Việt Nam

– Chiếm ¾ diện tích địa hình và trở thành yếu tố quan trọng trong tự
nhiên, cụ thể miền đồi núi Việt Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn
Bắc, Trường Sơn Nam và Tây Nguyên. Còn lại ¼ là đồng bằng: bao
gồm 2 đồng bằng châu thổ là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam
Bộ, tiếp theo là đồng bằng duyên hải và một số ít đồng bằng chân
núi, chân các cao nguyên.

– Thung lụng sông Hồng là ranh giới giữa hai khu vực núi có hương

cho địa hình đồi núi chia thành nhiều dãy, nhiều đỉnh khác nhau.

– Do đó địa hình ngày nay chưa hẳn là do TKT với nhửng uốn nếp
mới mà có mang tính kế thừa và tham gia tích cực của quá trình
ngoại lực, nếu quan sát kĩ địa hình VN ngày nay cúng ta thấy chúng
có độ cao sàn sàn như nhau.

– Tính chất cổ của địa hình VN được TKT làm trẻ lại được thể hiện
qua các đặc điểm sau:

– Dạng cánh cung ở miền Bắc có liên quan đến các khối núi cổ thuộc
thượng nguồn sông Chảy.

– Hướng song song và so le nhau có liên quan đến các uốn nếp cổ
hình thành trong thời cổ sinh.

Tóm lại địa hình VN có sự thống nhất giữa CKT và TKT cũng như sự
kết hợp giữa nội lực và ngoại lực, từ đó hình thành nên tính phức tạp
và đa dạng của địa hình VN

3. Tân Kiến Tạo đã tạo nên dạng phân bậc của địa hình Việt
Nam

– TKT với những pha nâng lên sụp xuống với cường độ và thời gian
khác nhau xen vào đó là những pha yên tĩnh song song là các quá
trình phun trào bazan và xâm thực bào mòn tạo nên tính chất phân
bậc của địa hình VN ngày nay. Gồm các bậc địa hình chính sau:

+ Bậc 2500 – 2600m: là những đỉnh núi còn sót lại, ít bị xâm thực.


trình xâm thực bào mòn vứa là kết quả của sự san bằng địa hình làm
cho địa hình miền núi bị chia cắt sâu sắc còn đồng bằng được bồi tụ
nhanh chóng.

– Do khí hậu mang sắc thái nhiệt đới nóng ẩm làm cho lớp thực bì
phát triển nhanh, che phủ hầu hết bề mặt địa hình. Nó vừa là tấm
gương phản ánh tính chất nội chí tuyến nóng ẩm, vừa làm giảm bớt
tính sắc nhọn, khúc khuỷu của địa hình.

5. Địa hình đồng bằng – đồi núi vừa mang tính tương phản vừa
phù hợp

a. Sự tương phản:

– Đồi núi VN có tính chất di lưu của địa hình cổ trong khi đồng bằng
là dạng địa hình trẻ được hình thành vào kỉ Đệ Tứ và đang được mở
rộng.

– Đồi núi được hình thành do quá trình nâng lên và được chia cắt
của hệ thống sông, suối còn đồng bằng hình thành do quá trình sụt
xuống và bồi tụ phù sa.

– Địa hình đồi núi với nhiều hẻm vực và thung lũng sâu tạo thành
dạng địa hình âm – dương, còn đồng bằng thì bằng phẳng và thấp.

– Vùng đồi núi còn nhiều nơi hiểm trở chưa có dấu chân người (
nguyên sinh ), còn đồng bằng chịu tác động sâu sắc bởi hoạt động
sản xuất của con người ( nhân sinh )

b. Sự phù hợp :


– Địa hình ở đây khá cao và bằng phẳng nhưng hiếm nước. Những
nơi có sông cắt qua tạo thành những hẻm vực sâu như hẻm vực sông
Chảy, sông Nho Quế…Xen vào đó là các đỉnh núi cao trên 2000m
như: Tây Côn Lĩnh ( 2431m ), Kiều Liêu Ti ( 2403m ), Puthaca (
2274m ) được cấu tạo chủ yếu từ đá granit.

– Phía nam khu vực này là các dãy núi cánh cung qui tụ về phía Tam
Đảo. Khởi đầu là dãy Con Voi ( 1450m ) có hướng TB – ĐN nằm giữa
sông Hồng và sông Chảy, cấu tạo chủ yếu là đá diệp thạch gnai và
granit. Kế đến là cánh cung Sông Gâm có hướng á kinh tuyến nằm
kẹp giữa sông Lô và sông Cầu với 2 đỉnh núi quan trọng là Phia Ya (
1977m ) và Phia Biooc ( 1578m ), cấu tạo chủ yếu là đá granit. Tiếp
theo là cánh cung Ngân Sơn cũng với hướng á kinh tuyến. Là dãy núi
quan trọng vì nó là đường phân thủy giữa các sông đổ vào đồng bằng
Bắc Bộ và các con sông chảy sang TQ. Trên đó có 2 đỉnh quan trọng
là Phia Uắc, Ngân Sơn, cấu tạo chủ yếu là đá granit. Cuối cùng là cánh
cung Bắc Sơn với đỉnh cao 779m, có hướng ĐB – TN nằm men theo
lưu vực sông Thương.

– Từ lưu vực sông Thương ra tới vịnh Bắc Bộ địa hình có phần thấp
dần:

+ Phía Bắc có máng trũng Cao Bằng, Lạng Sơn cấu tạo chủ yếu là đá
vôi và nhiều địa hình Karst.

+ Ra gần đến biển địa hình cao hẳn lên đó là cánh cung Duyên Hải
với 3 đỉnh quan trọng là Yên Tử ( 1068m ), Am Vap ( 1054m ), Nam
Châu Lãnh ( 1507m ), cấu tạo chủ yếu là đá trầm tích và riolit



– Từ đèo Khau Cọ về phía nam địa hình thấp hơn và hiểm trở, mở
rộng hơn. Cấu tạo chủ yếu là đá griolit với các đỉnh núi cao như Pu –
Luông ( 2983m), Sà – Phìn ( 2879m ). Người ta còn gọi đoạn này là
đoạn Griolit Pu Luông – Sà Phìn

– Hoàng Liên Sơn là dãy núi hùng vĩ, sống núi rõ đỉnh nhọn, sườn
dốc, nhiều khe sâu, một số mặt bằng cổ bằng phẳng nằm ở độ cao
2100 – 2200m, 1600 – 1800m, 1300 – 1400m. trong đó rộng và nổi
tiếng nhất là Sapa ( 1800m ). Dưới chân núi có một vài bồn địa rộng
Than Uyên, Nghĩa Lộ,… Hoàng Liên Sơn là một bức bình phong ngăn
gió mùa Đông Bắc và Tây Nam làm cho sườn đông và sườn tây có
chế độ khí hậu và thời tiết khác nhau trong năm.

* Cao nguyên đá vôi Tây Bắc.

– Chạy song song với Hoàng Liên Sơn suốt từ Phong Thổ đến Mộv
Châu là dải cao nguyên đá vôi lớn nhất VN, có bề ngang 25 – 40km,
dài 300km, cao trung bình 1000m.

– Xuống đến khu vực Hoà Bình – Thanh Hoá độ cao giảm rất nhanh
và bị chia cắt mạnh mẽ bởi hệ thống sông ngòi. Trên mặt cao nguyên
khá bằng phẳng, dạng lượn sóng, sườn thoải dễ khai thác nông
nghiệp.

– Từ B – N gồm các cao nguyên như: Ma Lu Thăng, Tà Phình, Sìn Chải
( cao trung bình 1600 – 1700m ), Tủa Chùa ( 1583m ), Sơn La (
600m), Mộc Châu ( 1000m ).

* Vùng núi biên giới:

đường phân thủy của Việt Nam và Lào

– TSB là dãy núi chạy tương đối liên tục, sống núi rõ, 2 sườn không
đoi xứ ng: phı́a đông doc, phı́a tây thoải → Làm cho đồng bằng duyên
hải nhỏ hẹp.

* Từ sông Cả đến đèo Mụ Giạ:

– Khởi đầu là dải Pu Lai Leng ( 2711m ) và kết thúc ở đèo Keo Nưa.

– Phía nam đèo Keo Nưa địa hình cao hẳn lên, đó là dãy Rào Cỏ (
2335m ). Phía nam Rào Cỏ có dãy núi chạy ngang ra biển đó là dãy
Hoành Sơn ( 1044m ), là dãy núi ngăn cách hai đồng bằng Hà Tĩnh và
Bình – Trị – Thiên ở phía nam.

– Phía nam Hoành Sơn là dãy Phu Cô Pi ( 2017m ) và kết thúc ở đèo
Mụ Giạ

* Từ đèo Mụ Giạ đến đèo Hải Vân:

– Khởi đầu là vùng núi đá vôi Kẻ Bàng – Khe Ngang. Kẻ Bàng cao
900m và Khe Ngang cao 600m là một bộ phận của vùng núi đá vôi Sê
Păng Phai bên Lào, địa hình bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều hang
động.

– Tiếp Kẻ Bàng – Khe Ngang về phía nam là vùng đồi núi sa diệp
thạch toả rộng vả hiểm trở. Khởi đầu là dãy Côtarun ( 1624m ), tiếp
là Pusavia ( 1272m ), Động Châu ( 1257m ), bên cạnh đó còn có một
số đỉnh núi granit đỉnh nhonï sườn dốc như là Ba Rền ( 1137m ), Cồn
Cỏ ( 1700m ). Các dãy núi này đều có hường TB – ĐN hoặc T – Đ và


b. Vùng đồi núi thuộc khối nhô Kon Tum

Bao gồm toàn bộ khối nhô Kon Tum được hình thành trong quá
trình bốc mòn của một nền cổ thuộc địa khối Indosini để lại một số
đỉnh núi đá rắn cao trên 1000m. trong đó quan trọng nhất là đỉnh
Ngọc Linh ( 2598m ), một số đỉnh khác như Ngọc Rinh, Ngọc Pan cao
trên 2000m.

c. Dãy cao nguyên phía tây

* Cao nguyên Gia Lai – Đắk Lắk:

– Là cao nguyên bazan điển hình, có nơi dày đến 400m ở độ cao TB
700 – 800m ở Gia lai và 400 – 500m ở Đắk Lắk.

– Bề mặt địa hình có dạng chảo úp, dễ khai thác nông nghiệp, nhất là
các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su

– Phía đông là các dãy núi Bình Định – Phú Yên là một bộ phận nối
tiếp về phía nam và đông nam của khối nhô Kon Tum

* Cao nguyên cực Nam Trung Bộ:

– Nằm ở phía nam cao nguyên Đắk Lắk, phần lớn được phủ bazan
trừ Đà Lạt, cao nguyên này thuộc đường viền Hecsini được TKT làm
trẻ lại và phủ một lớp bazan tương đối dày gồm 3 cao nguyên: Đà Lạt
– Lâm Viên ( 1500m ), Di Linh ( 1000m ), Bảo Lộc ( 800m )

– Phía bắc và đông bắc có một số dải núi cao trên 2000m như : Vọng

vịnh hẹp hay quá trình xâm thực sườn núi dọc theo bờ biển sau đó
sông ngòi ở nội địa chảy ra bồi đắp phù sa, kết hợp với sóng biển
thuỷ triều, hải lưu.

– Đồng bằng chân núi – cao nguyên: hình thành trên các vùng trũng
ho đệ tam cũ hay các thung lũng giữ a núi → nhỏ hẹp, kém màu mỡ,
có dạng địa hình bậc thang

1. Đồng bằng duyên hải Quảng Ninh:

Trải dài từ Móng Cái đến Quảng Yên, hẹp ngang, nhiều đồi núi sót,
kém màu mỡ, bị cắt xén thành nhữngđồng bằng nhỏ hẹp → Cấu tạo
chủ yếu là phù sa, có một ít phù sa mới ở các cửa sông

2. Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ:

– Là vùng đồng bằng châu thổ khá rộng lớn với diện tích 15.000km2
được bồi đắp bởi hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, tạo
thành một tam giác châu có đỉnh là Việt trì, cạnh đáy chạy dài từ Yên
Lập – Kim Sơn → Được hình thành trên vùng sụp võng Tân Sinh chu
kì 4

– Do chung quanh đồng bằng đều là núi cao từ đó các hệ thống sông
tập trung đổ vào đồng bằng làm cho hiện tương lũ lụt trở nên
thường xuyên vì vậy nhân dân ta từ lâu đời đã đắp hệ thống đê dọc
theo các con sông để ngăn lũ. Do đó đã làm mất đi tính chất bằng
pha83ng của đồng bằng. Đồng thời hạn chế đi sự bồi đắp phù sa cho
đồng bằng. Bù lại phù sa được chuyển ra biển và làm cho đồng bằng
tiến ra biển khá nhanh khoảng 100m/năm.



+ Đồng bằng Nghệ – Tĩnh: có diện tích 3.410 km2 chạy từ phía nam
đồng bằng Thanh Hoá đến Hoành Sơn đèo Ngang.

+ Đồng bằng Bình – Trị – Thiên: có diện tích 2.150 km2 từ đèo Ngang
đến đèo Hải Vân

+ Đồng bằng Quảng Nam – Nghĩa Bình : diện tích 4.350 km2 đi từ
đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông

+ Đồng bằng Phú Yên : diện tích 820 km2 đi từ đèo Cù Mông đến đèo
Cả

+ Đồng bằng Khánh Hoà – Ninh Thuận: diện tích 620 km2 từ Mũi Nại
đến Mũi Dinh.

+ Đồng bằng Bình Thuận: diện tích 800 km2 đi từ mũi Dinh đến
ĐNB

5. Đồng bằng Nam Bộ:

Là đồng bằng lớn nhất VN 40.000 km2 được hệ thống sông Cửu Long
và Đồng Nai bồi đắp trên một miền sụp võng rộng lớn vào thời kì
Plêixtoxen – chu kì 5. Tuy nhiên do đặc điểm nên chia thành 2 đồng
bằng.

– Đồng bằng Đông Nam Bộ: do ảnh hưởng của hoạt động tạo sơn
được nâng nhẹ vào TKT làm thoát khỏi chế độ bồi tích phù sa mới,
hình thành đồng bằng phù sa cổ cao trên dưới 100m, có nơi được
phủ bazan tạo thành bán bình nguyên đất đỏ bazan có độ cao trên


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status