Nhóm 3: Trần Huy Thái
Ngô Minh Hoàng
Bùi Văn Huy
Lê Thương Tính
Lê Văn Tiến
Dương Hữu Tiệp
Câu 1: Thế nào là kinh tế tri thức? Tại sao đẩy mạnh CNH, HĐH phải gắn liền với
nền kinh tế tri thức?
Khái niệm:
Khái niệm kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPCD nêu ra "Nền kinh tế tri
thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố
quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc
sống". Sau đó, năm 2003 chương trình "Tri thức vì sự phát triển" đã đưa ra một khái niệm
rộng hơn: "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH.
Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích
hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện
sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong
đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển
kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống".
Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính
cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ
biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng
đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công
nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan
đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ
phát triển khác nhau"
Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền
kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri thức là
yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất,
chất lượng, công nghệ thông tin được ứng dụng một cách rộng rãi. Muốn nâng cao năng
nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình. Thông tin trở thành nguồn tài nguyên quan
trọng nhất của nề kinh tế.
Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực nhanh chống được tri thức hóa, sự sáng
tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người và phát triển con
người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
Trong nền kinh tế tri thức, mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn cầu
hóa kinh tế, có tác động tích cực hoặc tiêtu cực sâu rộng tới nhiều mặt của đời sống xã
hội trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Chính vì thế đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, muốn tiến lên
CNXH, nhất thiết phải trải qua CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, CNH-HĐH
là động lực phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiện tăng cường củng cố an ninh-quốc
phòng và là tiền đề cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia
một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế.
2
Trong quá trình CNH-HĐH, nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có thể học hỏi
được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và có cơ hội rút ngắn thời gian
thực hiện quá trình này. Trước đây, nước Anh thực hiện CNH đầu tiên, phải mất 120
năm; nước Mỹ đi sau, chỉ mất 90 năm; sau nữa là Nhật Bản xuống còn 70 năm; và các
nước công nghiệp mới (NICs) có hơn 30 năm. Việt Nam thực thực hiện quá trình này
trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang phát triển kinh tế tri thức (KTTT),
với sự bùng nổ của tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ gen, công nghệ nano,
công nghệ vật liệu mới đúng như tiên đoán của C. Mác và Ph. Ăng-ghen từ giữa thế kỷ
XIX: ''Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp''. Đây chính là cơ hội lịch sử
hiếm hoi mà thời đại tạo ra để các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách và
đuổi kịp các nước đi trước. Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào
tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết không thể trì hoãn.
Tại Đại hội lần thứ IX, lần đầu tiên, Đảng ta đã ghi vào văn kiện luận điểm quan trọng về
phát triển KTTT ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực then chốt
để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những
sản phẩm và dịch vụ chủ lực. Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và
đáng để thu hút số du học sinh này về nước làm việc hay lập nghiệp.
Sáu là, cần có một chiến lược phát triển khoa học-công nghệ với những bước đi thích
hợp. Ở giai đoạn đầu, hướng về sự tiếp cận, tiếp thu, chuyển giao công nghệ mới, trong
đó ưu tiên xây dựng các khu công nghệ cao cấp vùng để thu hút công nghệ mới. Hình
thành một số cơ sở nghiên cứu-ứng dụng đủ sức tiếp thu, cải tiến công nghệ và sáng tạo
công nghệ mới gắn sản xuất kinh doanh. Giai đoạn tiếp theo sử dụng cơ chế tài chính
khuyến khích đối tác nước ngoài hợp tác với cơ sở trong nước trong phát triển công nghệ
mới. Trên nền tảng đó, tạo ra năng lực nghiên cứu nội sinh giúp các nhà khoa học và cơ
sở sản xuất trong nước tiến tới vận dụng và làm chủ những công nghệ và tri thức mới của
nhân loại.
Câu 2: Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong việc đẩy mạnh CNH, HĐH
gắn liền với phát triển kinh tế tri thức?
Thuận lợi: Nước ta tiến hành CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong
điều kiện rất thuận lợi đó là, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước đã hình thành và bước đầu có sự phát triển nguồn
nhân lực - vật chất được tăng cường, mức độ sống của nhân dân dần được ổn định, sản
lượng lương thực thực phẩm đã tăng đáng kể, nền kinh tế bắt đầu tích lũy, vốn đầu tư
toàn xã hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP, đến năm 1995 lên 27,4% GDP, sự nghiệp giáo
dục của đất nước có nhiều tiến bộ cải tiến, trình độ dân trí được tăng lên, sự lãnh đạo của
Đảng và nhà nước có thêm kinh nghiệm, tự do quan hệ bên ngoài, sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh
cấm vận và nước ta lại nằm trong khu vực đang phát triển mạnh lôi kéo sự đầu tư của
khắp thế giới. Nguồn nhân công của nước ta dồi dào, phong phú, nhân dân ta có truyền
thống ham học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu công nghệ tiên tiến. Đặc biệt hiện nay nền
chính trị xã hội trên thế giới nhìn chung đang trong thời kỳ ổn định, các nước phát triển
tiến hành chuyển giao khoa học kỹ thuật cho những nước đang phát triển. Và nước ta có
nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, điều kiện khí hậu thuận lợi cho con người sínhinh
sống phát triển,…
Khó khăn: Xuất phát điểm của nước ta khi tiến hành CNH, HĐH là một nước
nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, và chịu ảnh hưởng tàn phá của chiến tranh nặng nề. Nền
kinh tế nước ta được xếp vào chậm phát triển, lạm phát còn chưa được hạn chế, nguồn
phát triển kinh tế xã hội, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo đang chuyển sang giai
đoạn phát triển cao theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhà nước quan tâm đầu tư
cho ngành thủy sản ngày một phát triển.
Nghề khai thác thủy sản đã được hình thành từ lâu. Nguồn lao động có kinh
nghiệm đánh bắt và nuôi trồng, giá nhân công thấp hơn so với khu vực và thế giới. Ngành
thủy sản có thị trường ổn định, sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có khả năng tích lũy mở
rộng sản xuất.
Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng, thị trường ngày càng mở rộng. Khoa học và
công nghệ phát huy có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, có thể tạo ra các
bước đột phá mới về giống, nguyên liệu, nhất là trong việc tạo luận cứ cho việc phát triển
bền vững trong nhiều năm tới.
Những khó khăn:
5
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đang là nhu cầu bức bách đối với các hoạt động
đánh bắt nuôi trồng thủy sản, chế biến hàng thủy sản. Việc tổ chức đánh bắt xa bờ còn
tồn tại nhiều vấn đề: điều tra nguồn lợi, xác định ngư trường, mùa vụ đối tượng đánh bắt,
trang bị nghề khai thác, cỡ loại tàu thuyền đối với từng nghề. Các phương tiện đánh bắt
cá đặc biệt là đánh bắt xa bờ còn khá lạc hậu, tàu thuyền công suất thấp, khả năng neo
đậu trú bão chưa ổn định trong tình trạng thời tiết biến đổi thất thường. Hệ thống cơ sở hạ
tầng, bến cá, chợ cá quy mô còn nhỏ chưa đáp ứng được công tác hậu cần đánh bắt cá
quy mô lớn.
Vấn đề phát triển kinh tế xã hội vùng biển còn khó khăn, trình độ dân trí thấp,
chuyển đổi cơ cấu vùng ven biển còn chậm. Trình độ công nghệ trong khai thác, nuôi
trồng, chế biến nhìn chung còn lạc hậu, dẫn đến năng suất thấp giá thành cao, khả năng
cạnh tranh trong hội nhập còn nhiều khó khăn và thách thức. Công tác bảo vệ nguồn lợi
thủy sản còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế do ý thức chấp hàng luật pháp của dân chưa
cao.
Công tác nghiên cứu khoa học và nghiên cứu sản xuất các loài giống thủy sản có
giá trị kinh tế cao cũng như áp dụng những thành tựu khoa học thế giới vào sản xuất con
giống, thức ăn và các giải pháp phòng trị bệnh còn yếu, nên hiệu quả sản xuất còn hạn
Nhà nước chỉ đạo, bộ, ngành phối hợp và đề ra cách chính sách để đầu tư phát
triển và nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ. Khuyến khích các thành phần kinh tế có kinh
nghiệm sản xuất, có năng lực tài chính, có khả năng quản lý, đóng tàu công suất lớn, hiện
đại có đủ điều kiện hậu cần dịch vụ, thông tin liên lạc, neo đậu trú bão, dự báo ngư
trường để bám biển dài ngày và khai thác các đối tượng có giá trị kinh tế cao để xuất
khẩu. Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, bến cá, chợ cá đủ sức làm công tác hậu cần dịch
vụ đánh bắt hải sản có quy mô lớn, tránh đầu tư lẻ tẻ. Hoàn chỉnh ngành công nghiệp hỗ
trợ như cơ khí điện lạnh, đóng sửa tàu thuyền, sản xuất vật liệu, bao bì.
Các cấp chính quyền cần chú trọng xây dựng các cơ sở chế biến thủy sản với công
nghệ hiện đại, sản phẩm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu chất lượng vệ sinh và an toàn thực
phẩm theo yêu cầu quốc tế. Tập trung vào các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ,
nghiên cứu ứng dụng, nhập công nghệ và nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất giống
để chuyển giao cho người dân sản xuất đại trà các loại giống có giá trị kinh tế cao.
Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ đầu tư cho các khu vực nghề cá thương mại tham
gia vào phát triển nghề cá xa bờ với sự ưu đãi trong vốn vay. Xây dựng các chính sách
liên quan đến bảo lãnh tín dụng cho nuôi trồng thủy sản, lấy tài sản hình thành làm thế
chấp và tín chấp cho vay lần đầu tạo vốn lưu động. Để từng bước nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư, đây là vấn đề mang tính thời sự, ngành thủy sản Việt Nam cũng có vấn
đề nan giải trong việc sử dụng vốn hợp lý và có hiệu quả. Việc đầu tư ồ ạt và thiếu thận
trọng vào khai thác xa bờ trong thời gian qua là một bài học kinh nghiệm trong việc sử
dụng vốn hợp lý. Để thu hút vốn chúng ta tiến hành đầu tư theo chương trình cụ thế. Tuy
nhiên, do sự phức tạp của sản phẩm thủy sản mà mỗi chương trình lại liên quan đến rất
nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy cần phân bố các chương trình lớn thành các chương
trình nhỏ, lẻ một cách hợp lý để giúp đỡ ngư dân một cách tốt nhất. Ví dụ, đối với
chương trình đánh bắt xa bờ, cần phân bố thành các nhóm chương trình: đóng mới tàu
thuyền, nâng cao công suất tàu thuyền; chương trình cải tiến nâng cấp hệ thống cơ sở hạ
tầng phù hợp với trọng tải và công suất khai thác, chương trình tìm kiếm mô hình đánh
bắt phù hợp, Nhờ sự phân bố đó chúng ta có thể thấy được những gì cần làm ngay,
công việc nào tiếp theo công việc nào, tập trung vốn cho công việc nào trước mắt.
Chú trọng công tác an ninh để đảm bảo sự an toàn của ngư dân đánh bắt xa bờ.
tàu cá của họ bị hư hỏng, hay bản thân bị tai nạn do thiên tai, sự cố v.v. thì ngư dân hoặc
gia đình sẽ được đền bù, hỗ trợ bằng vật chất để giảm bớt thiệt hại. Ngư dân bao giờ cũng
là những lao động tạo ra nguồn thu nhập chính của gia đình, vì vậy việc hỗ trợ này là rất
có ý nghĩa.
Các tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm tặng thẻ bảo hiểm
tàu cá, bảo hiểm thân thể cho ngư dân đã là một việc tốt. Tuy nhiên, vấn đề này sẽ càng
trở nên có ý nghĩa nếu như Nhà nước phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm có chính
sách hỗ trợ để toàn bộ ngư dân đều có thể mua bảo hiểm cho tàu thuyền, bảo hiểm thân
thể và đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Thực hiện được việc này, ngư dân của chúng ta
sẽ càng yên tâm bám biển, bám ngư trường, trở thành một lực lượng lao động lớn trên
vùng biển của Tổ quốc, góp phần tích cực vào nhiệm vụ sản xuất và bảo vệ chủ quyền
biển, đảo.
Về phía ngư dân
Theo dõi các chính sách của nhà nước, địa phương, phối hợp tốt với các doanh
nghiệp để tổ chức sản xuất.
Ngư dân cần đoàn kết với nhau, tăng cường hoạt động của các tổ/ đội sản xuất trên
biển. Các mô hình tổ/ đội sản xuất trên biển được hình thành đã giúp đỡ nhau chia sẻ
được thông tin về ngư trường, thời tiết, kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ nhau xử lý rủi ro
trên biển, tổ chức dịch vụ hậu cần, tiêu thụ sản phẩm, tương trợ, giúp đỡ gia đình các tổ
8
viên, phối hợp với các cơ quan chức năng tham gia bảo vệ chủ quyền trên biển. Nhờ đó,
đời sống người lao động được cải thiện rõ rệt.
Câu 5: Giải pháp kết hợp hài hòa phát triển kinh tế bảo vệ tài nguyên môi trường?
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng
và ưu tiên bậc nhất đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Sau 25 năm đổi mới, nước ta
đã vượt qua ngưỡng nước nghèo vào 2010, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu vượt bậc ấy, chúng ta đang phải đối mặt với những
thách thức nghiêm trọng về môi trường. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi
trường, hiện nước ta có gần 4000 cơ sở sản xuất, hơn 1500 làng nghề gây ô nhiễm, hơn
tồn thiên nhiên; Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân
bằng sinh thái; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; Thực hiện
sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”,
“tiêu dùng sạch”; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự
giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó
với biến đổi khí hậu; Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Thứ ba: Coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế, tiếp cận các xu thế
tăng trưởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu
tải môi trường, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển. Đã đến
lúc “nói không” với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá; Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời
với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường, ứng phó với
biến đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền
vững hơn.
Thứ tư: Dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác các hiện tượng khí tượng thủy văn,
chung sức và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Tập trung triển khai thực hiện
Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020 và hai đề án: Hiện đại hóa
công nghệ dự báo khí tượng thủy văn; Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn; Tiếp tục
phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cộng đồng quốc tế trong việc
tham gia ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu với
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm (2011-2015), xác định các giải pháp chiến lược và chính sách thực thi, bố trí
các nguồn lực cần thiết để tổ chức và triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc
gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thứ năm: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai; Quy hoạch sử dụng đất
cả nước đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015. Xác lập cơ chế cung
- cầu, chia sẻ lợi ích, phát triển bền vững tài nguyên nước và bảo đảm an ninh nguồn
nước. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Luật Tài nguyên nước và các văn bản quy phạm
pháp luật thuộc lĩnh vực tài nguyên nước theo hướng xác lập cơ chế quản lý tài nguyên
nước đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh xã
Đầu tiên cần phải phát hiện, thu hút nguồn nhân lực hiện có bằng những chính
sách phù hợp, bồi dưỡng, giữ gìn và nâng cấp chất lượng nhằm tránh làm thất thoát chất
xám; thu hút từ các địa phương khác, từ đội ngũ trí thức Việt Kiều về nước làm việc theo
phương châm “dùng mồi phù hợp với từng loại cá để câu”, đừng bao giờ bắt cá phải trả
tiền khi ăn mồi và cản trở cho cá khi muốn ăn mồi.
Ngoài ra việc thu hút phải đảm bảo tính công bằng, khách quan, không vì “con
ông cháu cha”.
Hai là phân công, bố trí công việc hợp lý:
Tuỳ theo trình độ, khả năng của từng người mà phân công, bố trí công việc cho
đúng người, đúng việc, đảm bảo có sự dẫn dắt, kèm cặp và hỗ trợ, đặc biệt là lúc ban đầu.
Đây là một công việc rất quan trọng và quyết định sự thành công, mức độ gắn bó của
nhân tài đối với cơ quan, tổ chức mà họ vào làm việc; việc phân công hợp lý sẽ tạo động
lực cho họ làm việc hiệu quả hơn, chất lượng công việc sẽ tốt hơn và họ sẽ phát huy được
thế mạnh, niềm đam mê cá nhân của họ.
11
Ba là môi trường làm việc và quản lý điều hành:
Sự cần thiết và phải đổi mới hiện nay đó là mỗi cơ quan, tổ chức cần xây dựng
môi trường làm việc an toàn, chuyên nghiệp, có bài bản và nền tảng là các quy trình, quy
định cụ thể và thống nhất; đảm bảo sự thân thiện, hợp tác và tin tưởng lẫn nhau, hơn thế
nữa đó là tạo thử thách trong công việc, tránh sự nhàm chán.
Việc quản lý điều hành phải nhất quán và có mục tiêu, kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn
phát triển. Việc xây dựng mục tiêu phải cụ thể, thực tế, có thời gian xác định và đo lường
được; mỗi mục tiêu cần xây dựng chiến lược và các biện pháp thực hiện khả thi, hiệu
quả.
Áp dụng việc đánh giá thành tích cho từng cá nhân phải được thực hiện theo định
kỳ và căn cứ vào kết quả thực hiện mục tiêu đã định. Việc đánh giá thành tích được tiến
hành công khai, minh bạch và thể hiện sự công bằng nhằm giúp cho người bị đánh giá
ngày một hoàn thiện hơn, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao và được hưởng mức
lương và những phần thưởng, các điều kiện khác xứng đáng với kết quả mà họ đạt được.
Bốn là sự tôn trọng và cơ hội phát triển:
với nhu cầu của từng tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, việc đào tạo phải sát thực tế, trên
công nghệ mới và hiện đại, có định hướng rõ ràng cho từng nghề cụ thể. Ngoài việc phát
triển các trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp thì nên chú trọng phát triển
các TRUNG TÂM DẠY NGHỀ - DẠY KỸ NĂNG CHO CÔNG NHÂN nhằm giúp họ
chuyên môn hóa công việc mà họ đang làm hoặc công việc họ sẽ làm trong tương lai.
Bên cạnh phát triển hệ thống đào tạo thì việc nâng cấp đội ngũ Giảng viên là ưu
tiên hàng đầu vì có Thầy giỏi mới có những người thợ giỏi, do vậy cần xây dựng tiêu
chuẩn giảng viên cho từng cấp, xây dựng tiêu chí đánh giá và thực hiện việc đánh giá
thành tích của từng giảng viên nhằm tạo động lực, kích thích sự học hỏi và phấn đấu
trong tập thể giảng viên, thu hút và đãi ngộ xứng đáng đối với những giảng viên giỏi
nghiệp vụ và giàu kinh nghiệm thực tế, giảng viên người nước ngoài, …
Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, việc xây
dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có ý nghĩa
hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu bức thiết hiện nay.
- Thứ nhất, Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: Phải đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế. Trong đó, đổi mới ciw chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý là khâu then chốt. Để hiện thực hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, cần
xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không chỉ là
trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, mà còn là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi cá nhân. “Bản thân người học phải tự thay đổi
chính mình. Cần xác định mục tiêu và định hướng nghề nghiệp cụ thể, lâu dài ”, từ đó
tập trung tích lũy và xây dựng kho kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rõ, coi trọng và quyết tâm thực thi chính
sách giáo dục - đào tạo phù hợp là nhân tố quyết định tạo ra nguồn nhân lực chất lượng
cao cho sự phát triển nhanh và bền vững.
- Thứ hai, song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, phát triển
nguồn nhân lực cần đi đôi với xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người
trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri thức; có ý
cao, có lẽ nó chưa được hoàn thiện, tuy nhiên có thể trên đây là những giải pháp và cách
nhìn mới về nguồn nhân lực chất lượng cao, những biện pháp mới trong việc giữ gìn và
phát triển nguồn lực này nhằm góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước.
Câu 7: Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài?
Trong giai đoạn 2011-2015, nhu cầu vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam là rất
lớn. Để đảm bảo thực hiện khâu đột phá về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và
hiện đại, trong đó tập trung vào hệ thống giao thông, hạ tầng đô thị lớn đòi hỏi phải huy
động nhiều nguồn vốn, bảo đảm tỷ lệ đầu tư so với GDP trong giai đoạn 5 năm 2011-
2015 phải đạt tối thiểu 41,5% (2001-2005 đạt 37,5%; 2006-2010 đạt 42,8%), tăng bình
quân khoảng 16,1%/năm. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội trong kế hoạch 5 năm 2011-
2015 theo giá hiện hành dự kiến khoảng 6.340 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 300 tỷ
14
USD. Trong đó, nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 70%, nguồn vốn nước ngoài chiếm
khoảng 30% (giai đoạn 2006-2010 nguồn vốn trong nước chiếm 67% so với mục tiêu là
65%, nguồn vốn nước ngoài chiếm 33% so với mục tiêu là 35%). Để đạt được mục tiêu
trên, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp:
Một là, nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài cần được coi là định
hướng quan trọng nhất, để hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Theo đó, các dự
án được ưu tiên là công nghệ điện tử, tin học, dịch vụ cao cấp, đào tạo nguồn nhân lực có
trình độ cao, cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe hiện đại, xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Có định hướng rõ ràng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các DN trong nước nhằm
nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài gắn với việc xử lý mối quan hệ giữa thị
trường trong nước với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, tạo ra những sản phẩm mới, chất
lượng cao, duy trì cạnh tranh trên thị trường; Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp
hỗ trợ để giảm bớt việc nhập khẩu nguyên liệu ở nước ngoài, tạo điều kiện cho các ngành
công nghệ chế tạo, chế biến phát triển, hạn chế đầu tư nước ngoài vào các ngành gia
công, các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp, các ngành sử dụng nhiều năng lượng và tài
nguyên là vấn đề rất quan trọng trong thời gian tới; Cần tăng cường sự liên kết, hợp tác
giữa DN đầu tư nước ngoài và DN trong nước để hỗ trợ nhau cùng phát triển.
đổi Luật Chứng khoán hiện hành theo hướng tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước
đối với các giao dịch diễn ra trên TTCK. Hoàn thiện cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động
của các định chế trên thị trường như các quỹ đầu tư; các nhà đầu tư cá nhân và các nhà
đầu tư tổ chức chuyên nghiệp cả trong nước và nước ngoài, nâng cao chất lượng hàng
hóa trên thị trường… Xây dựng thị trường tài chính hiện đại và hiệu quả là hết sức cần
thiết để giúp DN có tín hiệu đúng về thị trường và tìm kiếm nguồn vốn cho hoạt động
kinh doanh của mình
Sáu là, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân, không cấp phép các dự án
công nghệ lạc hậu, có tác động xấu tới môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều
đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể
cả đất khu công nghiệp. Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên
địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại dự án, đặc biệt với các dự án quy mô
lớn, sử dụng nhiều đất đai bao gồm cả việc rút giấy phép nếu cần thiết.
Bảy là, xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết
của Việt Nam với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn
hóa - y tế - giáo dục, bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng không.
Tám là, nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập
đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và đối tác trọng
điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản… chú trọng và đẩy nhanh tiến
độ đàm phán các Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và các đối tác lớn. Thực
hiện chính sách ưu đãi đặc biệt dành cho đối tác chiến lược với sự cam kết cao nhất của
Nhà nước cũng như dỡ bỏ các ưu đãi dành cho các nhà đầu tư thông thường. Luật Đầu tư
cần thiết kế những ưu đãi cụ thể riêng biệt để thu hút các nhà đầu tư chiến lược từ các đối
tác lớn, đặc biệt là từ các công ty đa quốc gia top 500 của thế giới.
Chín là, cần có chính sách ưu tiên, đặc thù cho một số địa phương phù hợp thực tế
để dần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong thu hút FDI phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn nói riêng và cả nước nói chung.
Mười là, xây dựng danh mục đầu tư quốc gia và kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài
cho giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo, kèm theo xây dựng mạng thông tin chi
tiết về dự án. Xây dựng văn bản pháp quy về công tác xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang
Xây dựng chính sách phát triển kinh tế phù hợp với từng vùng để có các chính
sách chuyển dich cơ cấu lao động hợp lý. Có chính sách phát triển các ngành lĩnh vực
chủ đạo. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phù hợp với tốc độ phát triển. Chú
ý nâng cao mạng lưới y tế, văn hóa, xã hội. Khuyến khích đào tạo nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. Phát triển một số hệ thống đô thị, khu kinh tế tổng hợp và khu
công nghiệp tập trung. Tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ cao. Xây dựng
không gian kinh tế thống nhất nhằm phát huy lợi thế so sánh trên toàn địa bàn vùng
kinh tế trọng điểm, tạo sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau có hiệu quả và phát huy lợi thế
của tất cả các tỉnh.
17
Câu 9: Vai trò của CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức đối với tiến bộ và
công bằng xã hội Việt Nam?
Sau gần 20 năm đổi mới, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn
hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta đã được giải quyết một cách khá
hiệu quả. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền. Các cơ hội phát
triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Ðời sống của đại bộ
phận nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Làm thế nào để có thể giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh
đạo, các nhà hoạch định chiến lược, giới khoa học xã hội nói chung và các nhà kinh tế
nói riêng ở hầu hết các nước trên thế giới. Nhờ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - công
nghệ và cùng với sự quyết tâm, điều chỉnh, đổi mới các yếu tố thể chế vận hành, cơ chế
tác động, nền kinh tế thế giới nói chung trong thế kỷ 20 đã đạt được tốc độ tăng trưởng to
lớn, tạo ra một khối lượng sản phẩm khổng lồ cho nhân loại.
Với sự tác động tích cực của quá trình toàn cầu hóa, của làn sóng cải cách theo xu
hướng mở rộng tối đa không gian tự do cho kinh tế thị trường và nhất là kinh tế tri thức
mà đi liền với nó là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học với hàng loạt công nghệ mới
đã và sẽ xuất hiện, thì khả năng tăng trưởng mạnh của kinh tế thế giới thế kỷ 21 chắc
chắn vẫn là xu thế nổi trội. Thế nhưng, hiện nay cả loài người đang đứng trước một vấn
đề hết sức nan giải, đó là mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh với
(HDI) đã có những bước cải thiện đáng kể; chương trình xóa đói, giảm nghèo được chú
trọng và đã đem lại nhiều kết quả đáng khích lệ; từ chỗ thiếu đói triền miên, Việt Nam trở
thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
Trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do những sai lầm chủ quan,
duy ý chí trong nhiều chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về cải tạo XHCN và
xây dựng CNXH theo mô hình cũ, đất nước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội
trầm trọng. Trong điều kiện đó, nhiều mục tiêu về phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và
công bằng xã hội đã không thể thực hiện được như mong muốn.
Từ Ðại hội VI (12-1986) đến nay, quá trình đổi mới tư duy lý luận của Ðảng về
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng, thể hiện thông qua hệ thống các chủ
trương và quan điểm cơ bản. Theo đó, đã hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa (Ðại hội IX khái quát là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa),
có tác động khơi dậy và nhân lên tính năng động, chủ động và tính tích cực xã hội của tất
cả các tầng lớp dân cư, tạo nên luồng sinh khí mới làm xoay chuyển tình hình mọi mặt
đất nước. Ðồng thời, từng bước khẳng định ngày càng rõ hơn việc thực hiện phân phối
chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối theo mức đóng góp vốn và
các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Mặt khác, đã
thiết lập cơ chế, chính sách để người lao động tự tạo ra việc làm cho mình và cho người
khác, xem mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận
là việc làm; khẳng định chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với
tích cực xóa đói, giảm nghèo, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự
phát triển. Chúng ta khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu nhằm phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã
hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Xem phát triển giáo dục, khoa học, y tế là sự
nghiệp của toàn Ðảng, của Nhà nước và của toàn dân. Thực hiện công bằng xã hội trong
giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Thực hiện công bằng xã hội trong
19
chăm sóc sức khỏe nhân dân, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo. Ðề
của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt.
- Từ năm 1991 đến nay, trung bình hằng năm cả nước đã giải quyết cho khoảng một đến
1,2 triệu người lao động có việc làm. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả đầy ấn
tượng. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống 11%
năm 2003. Còn theo chuẩn quốc tế, thì tỷ lệ nghèo chung đã giảm từ 58% năm 1993,
xuống 28,9% năm 2002. Như vậy, Việt Nam đã hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch
toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015 mà Liên hợp quốc đã đề ra.
20
- Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường
lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc
gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; đến cuối năm 2003, 19 tỉnh, thành phố
đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết chữ đã tăng từ
88% cuối những năm 1980 lên 94% hiện nay.
- Tiềm lực khoa học và công nghệ của nước nhà có bước phát triển nhất định. Ðội ngũ
cán bộ khoa học và công nghệ đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch
định đường lối, chính sách đổi mới của Ðảng và Nhà nước; tham gia xây dựng các
chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả
các công nghệ nhập từ nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực thông tin - truyền thông, lai
tạo một số giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, thăm dò và khai thác dầu khí, phát
triển thủy điện, xây dựng cầu, đóng tàu biển, sản xuất vắc-xin phòng dịch
- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ, góp phần hạ thấp đáng kể tỷ lệ tử
vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, cơ bản thanh toán một
số dịch bệnh phổ biến trước đây, khống chế thành công bệnh viêm đường hô hấp cấp
(SARS). Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 69 tuổi hiện
nay.
- Chỉ số phát triển con người (HDI) từ mức dưới trung bình: 0,498 năm 1991 tăng lên
mức trung bình: 0,688 năm 2002.
Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì thứ bậc xếp hạng HDI của
Việt Nam năm 2002 vượt lên 19 bậc. Ðiều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế của Việt
Nam có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội