Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường mỹ - Pdf 11

XW

Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ

xuất khẩu hàng d
ệt may Việt Nam.
- Chương 2: Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường Mỹ trong thời gian qua. 2
- Chương 3 : Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, TS.Vũ Thị Kim
Oanh đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn để em hoàn thành thật tốt
khoá luận tốt nghiệp này. Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các
thầy cô giáo thuộc khoa Kinh tế Ngoại thương, khoa Đào tạo và Bồi dưỡng
Tại chức cùng toàn thể
các thầy cô giáo trong trường đã tạo mọi điều kiện tốt
nhất cho em trong quá trình học tập tại trường.
Sinh viên
Lê Thu Phương

dệt may vào thị trường Mỹ đến cuối tháng 3 năm 2002 đã giảm 11% so với
cùng kỳ năm trước nhưng đây vẫn là một trong những mặt hàng nhập khẩu
chủ lực của thị trường Mỹ.
Nhìn chung, người dân Mỹ có xu hướng tiêu dùng ngày càng nhiều các
mặt hàng dệt và may mặc trong
đó nhóm hàng có giá trị tiêu thụ lớn nhất là
quần áo may sẵn, chiếm tỷ trọng 89% kim ngạch hàng dệt may được nhập
khẩu vào Mỹ (tương đương 68 tỷ USD). Nhập khẩu bông, sợi (thực vật và
nhân tạo), vải vóc, nguyên phụ liệu chỉ chiếm 11%, hầu hết là những loại mà
Mỹ không sản xuất hoặc những loại hàng chất lượng cao mua về phục vụ gia
công cho sản xuất trong nước. 4
Có thể nói rằng Mỹ là nước tiêu thụ hàng dệt may nhiều nhất trên thế
giới, và đây là thị trường đầy tiềm năng đối với các quốc gia phát triển cũng
như đang phát triển trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Tuy
nhiên, chiếm lĩnh được thị trường Mỹ là một điều không dễ dàng. Những việc
cần phải làm đối với những nướ
c xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ nói chung
và Việt Nam nói riêng là phải đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng Mỹ,
thâm nhập và thích nghi với tập quán buôn bán ở Mỹ, nâng cao khả năng cạnh
tranh cũng như phải vượt qua được những rào cản thương mại mà Mỹ đặt ra.
Đó là mục tiêu mà mỗi doanh nghiệp xuất khẩu đều hướng tới nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang th
ị trường Mỹ cũng như khẳng
định vị thế của ngành dệt may Việt Nam .
2. Đặc điểm thị trường tiêu thụ hàng dệt may Mỹ.
Thị trường hàng dệt may Mỹ rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu của
người dân có thể được hệ thống hoá thành 3 cấp độ chính: bình dân, trung và

thống thị trường.
Các công ty vừa và nhỏ có nhiều cách bán hàng nhập khẩu tại Mỹ. Họ
thường nhập khẩu hàng hoá về để bán theo các hình thức phổ biến sau đây:
1. Bán sỉ cho các cửa hàng bán lẻ: Các loại quần áo thời trang đều có thể
bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ thông qua các nhà nhập khẩu hay những
người bán hàng có tính chất cá nhân và các công ty nhập khẩu hay các tổ chức
buôn bán hàng hoá chuyên nghiệp. Đây là một trong những cách bán hàng có
hiệu quả
đối với hàng hoá có nhu cầu mạnh, đặc biệt trong trường hợp ngành
hàng đa dạng, có thể đáp ứng được hết các chủng loại có liên quan.
2. Bán cho nhà phân phối: Thay thế cho hình thức bán lẻ, người ta có thể
bán hàng cho các nhà phân phối vì họ có hệ thống phân phối rộng khắp một
khu vực nào đó hoặc nằm trong một nhóm ngành công nghiệp nào đó. Tuy
nhiên, với hệ thống phân phối này, người ta phải chia sẻ bớt một ph
ần lợi
nhuận của mình cho nhà phân phối.
3. Bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp: Đây là cách mà các nhà máy,
công xưởng trực tiếp mua hàng của một số thương nhân nhỏ ở nước sở tại khi 6
họ không có điều kiện để mua trực tiếp của các nhà xuất khẩu nước ngoài
hoặc mua qua các nhà nhập khẩu trong nước.
4 Bán sỉ qua đường bưu điện: Đây là phương pháp được sử dụng đối với
một số sản phẩm nhỏ không đắt lắm. Lợi điểm của phương pháp này là không
phải qua khâu trung gian phân phối hay bán buôn. Tuy nhiên, những sản
phẩm hàng dệt may tiêu thụ hàng lo
ạt thường không thích hợp khi sử dụng
phương pháp này.
5. Bán lẻ qua đường bưu điện: Các nhà nhập khẩu sẽ gửi trực tiếp bưu

iều này.
11. Bán hàng qua buổi giới thiệu bán hàng (Ball Imports Party): Một số
nhà nhập khẩu mua một lượng nhỏ hàng hoá về và mời những người thân
quen đến dự buổi giới thiệu bán hàng tại chỗ. Cũng có trường hợp những nhà
nhập khẩu sẽ trả hoa hồng cho những người đứng ra tổ chức và giới thiệu bạn
hàng cho họ.
12. Bán ở chợ ngoài trời (Flea Market): Cách thức này đòi h
ỏi công ty phải
có quan hệ rộng với những người bán ở nhiều nước khác nhau và phải trả một
phần lợi tức cho người bán hàng, đồng thời phải đặt giá trực tiếp đến người
tiêu dùng.
13. Bán hàng qua các hội chợ, triển lãm tại Mỹ: Có những công ty mua
hàng về kho của mình và quanh năm đi tham dự các hội chợ triển lãm trên
khắp mọi miền đất nước để tìm kiếm các đơn đặ
t hàng tại quầy rồi gửi hàng
cho người mua qua bưu điện hoặc phát chuyển nhanh. Cách này chỉ mới có
thể vận dụng ở qui mô nhỏ với hàng đặc chủng, hàng mới và giá cao.
14. Cuối cùng là bán hàng qua Internet như Amazon.com.
Nghiên cứu hệ thống phân phối ở Mỹ sẽ giúp các nhà xuất khẩu hàng
dệt may vào thị trường này có khái niệm chung về cách thức buôn bán, nhập
khẩu hàng hoá vào Mỹ và cách đưa hàng đến tay người tiêu dùng. Đối vớ
i
từng loại sản phẩm trong từng điều kiện cụ thể, các nhà xuất khẩu sẽ cân nhắc
giữa các cách thức trên và lựa chọn hệ thống phân phối sao cho phù hợp với
sản phẩm và đặc điểm riêng của doanh nghiệp mình. 8
4. Tình hình cạnh tranh trên thị trường hàng dệt may Mỹ.
Mỹ là một thị trường rất lớn với nhiều tác nhân tham gia nên cạnh tranh


9
1. Mexico luôn đứng đầu về xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ.
Rất nhiều nhà đầu tư Mỹ đã đầu tư vào ngành may ở nước này để tận dụng
nguồn nhân công rẻ, địa điểm gần Mỹ và nằm trong Khu vực Thương mại Tự
do Bắc Mỹ (NAFTA).
2. Sau đó là Trung Quốc đứng thứ hai về xuất khẩu hàng may mặc sang thị
trường Mỹ. L
ợi thế lớn nhất của quốc gia này là giá nhân công và được các
nhà đầu tư quan tâm nhiều sau khi gia nhập WTO. Hàng xuất khẩu Trung
Quốc sang Mỹ ngày càng tăng và Trung Quốc đang trở thành một đối thủ
đáng gờm của những nước muốn xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ.
3. Onđurat là một quốc gia tuy dân số không đông nhưng đứng thứ tư về
xuất khẩu hàng may mặc sang Mỹ - đó là nhờ thoả
thuận thương mại song
phương và ưu thế nằm gần Mỹ nên giảm được chi phí vận chuyển.
4. Ấn Độ đứng thứ tám về xuất khẩu hàng may mặc sang Mỹ vì nước này
biết khai thác thế mạnh về nguồn lao động dồi dào để tạo lợi thế cạnh tranh về
giá, lập riêng Bộ dệt may để chuyên trách về công tác thị trường. Ngoài ra
còn có Viện thời trang quốc gia hỗ trợ
cho việc thiết kế mẫu mã và nắm bắt
nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, thị phần hàng may mặc của
Ấn Độ tại Mỹ chưa thật ổn định.
5. Đứng thứ 11 về xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ là Thái Lan
với thị phần khoảng 3%. Song Mỹ lại là thị trường số một, nhập 55,7% hàng
may mặc xuất khẩu của Thái Lan.
6. Xuấ
t khẩu hàng may mặc của Pakixtan vào thị trường Mỹ thời gian gần
đây có chiều hướng liên tục tăng, đáng lưu ý là thái độ hợp tác toàn diện của
Pakixtan với Mỹ ở cuộc chiến Apganixtan nên được Mỹ dành cho những ưu

quan Chính phủ. Các luật lệ và qui định này có thể cấm nhập, giới
hạn nhập vào một số cửa khẩu nhất định, qui định vận chuyển theo tuyến và
nơi lưu kho nhất định, yêu cầu xử lý, dán nhãn lại hoặc tái xử lý trước khi
được làm thủ tục hải quan và nhận hàng. Chính sự phức tạp này đã gây không
ít khó khăn cho các nước muốn xuất khẩu hàng sang Mỹ. Hàng dệt may với
kim ngạch 70 t
ỷ USD là một trong những mặt hàng chịu sự điều tiết của khá
nhiều các biện pháp quản lý cũng như các qui chế pháp lý của chính phủ Mỹ. 11
Trong khuôn khổ mối quan hệ thương mại song phương Việt - Mỹ, ngoài
những qui định chung đối với hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ còn những
tiêu chuẩn và biện pháp quản lý áp dụng riêng đối với hàng dệt may Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường này. Đây là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam
cần quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu sang thị trường Mỹ.
5.1. Các biện pháp quản lý nhập khẩu c
ủa Mỹ đối với hàng dệt may.
5.1.1. Nhóm các biện pháp thuế quan.

Thuế quan là biện pháp quản lý nhập khẩu đầu tiên và cơ bản nhất. Mọi
hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ sẽ bị đánh thuế hay được miễn thuế theo phân
loại trong biểu thuế nhập khẩu HTS của Mỹ (Harmonized Tarrif System of
the U.S - HTUSA). Hệ thống phân loại mức thuế này sử dụng một hệ thống
mã số quốc tế tiêu chuẩn gồm 6 chữ số để xác định loại hàng hoá.
M
ặc dù đã thực hiện việc giảm mức thuế nhập khẩu theo thoả thuận
vòng đàm phán Uruguay và theo xu thế tự do mậu dịch trên toàn thế giới
nhưng Mỹ vẫn là một trong những nước áp dụng mức thuế nhập khẩu cao đối
với nhiều hàng khác nhau trong đó có hàng dệt may. Từ sau khi Hiệp định

sung cho phần hạn ngạch sau đó hoặc được đưa vào khu ngoại quan hoặc
cũng có thể bị trả về, hoặc tiêu huỷ dưới sự giám sát của hải quan. Các Hiệp
định về hàng dệt may có qui định gia tăng hạn ngạch theo từng thời điểm.
* Hạn ngạ
ch tính theo thuế suất: Áp dụng cho một số lượng hàng nhập
khẩu được qui định với mức thuế thấp trong một thời hạn nào đó. Không có
giới hạn về số lượng hàng nhập khẩu trong suốt thời hạn này nhưng nếu hàng
nhập khẩu vượt quá số lượng cho phép hưởng mức thuế thấp thì số hàng dư
đó sẽ phải chịu mức thuế suất cao h
ơn.
b/. Visa đối với hàng dệt may.
Hàng dệt may cần có “visa” mới được nhập khẩu vào Mỹ. Một visa
hàng dệt may là dấu xác nhận trên một hoá đơn hoặc “một giấy phép kiểm
soát nhập khẩu” do chính phủ nước ngoài cấp được dùng để kiểm soát việc
xuất khẩu hàng dệt may và sản phẩm từ hàng dệt từ nước ngoài vào Mỹ. Một
visa hàng dệt may có thể bao gồm hàng có hạn ngạch hoặc không có hạ
n
ngạch. Trong đó hàng dệt có hạn ngạch có thể cần hoặc không cần visa tuỳ
thuộc vào nước xuất xứ. Tuy nhiên, một visa hàng dệt may không đồng nghĩa 13
là một sự bảo đảm cho việc nhập khẩu vào Mỹ. Nếu thời gian hạn ngạch
chấm dứt mà visa cho hàng dệt may được cấp sau đó bởi chính phủ nước
ngoài và hàng đã nhập vào Mỹ thì lô hàng này sẽ không được giải phóng cho
nhà nhập khẩu cho đến khi hạn ngạch mới được cấp phép.
c/. Qui định về nhãn mác sản phẩm.
Luật áp dụng chủ yếu về nhãn hàng hoá đối với hàng dệt may nh
ập
khẩu vào Mỹ là Luật xác định sản phẩm sợi dệt. Trừ một số trường hợp ngoại

mực về quản lý chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo sản phẩm tiêu thụ trên thị
trường phù hợp với nhữ
ng qui định được đề cập theo từng chuẩn mực ISO mà
doanh nghiệp đăng ký chứng nhận. Ngoài ra, tiêu chuẩn ISO 14000 còn đưa
ra những yêu cầu về môi trường, theo đó, các doanh nghiệp sản xuất phải đảm
bảo tuân thủ những yêu cầu nhất định về môi trường thì sản phẩm được tiêu
thụ mới được xem là đảm bảo chất lượng.
5.2. Các vấn đề luật pháp liên quan đến hàng dệt may nhập khẩ
u vào
thị trường Mỹ.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, việc nắm bắt thông tin cơ bản
về các vấn đề luật pháp liên quan tới xuất nhập khẩu sẽ góp phần đáng kể tạo
nên sự thành công của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp trang bị nguồn thông
tin phù hợp với nhu cầu, đồng thời giảm các chi phí có liên quan đến luật
pháp khi phải tham kiến các cơ quan có liên quan. Dưới đây là một số vấn đề
luậ
t pháp Hoa Kỳ mà các nhà xuất khẩu cần biết và thường gặp.
5.2.1. Luật pháp về bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Các công ty và cá nhân ngày càng có nhiều nhận thức về các giá trị
được gọi là tài sản vô hình. Nó bao gồm: các phát minh, tên và mẫu mã nhãn
mác, mẫu mã sản phẩm và kiểu dáng thương mại, bí mật thương mại và bản
quyền. Loại hình tài sản này ngày càng trở nên quan trọng đối với công việc
kinh doanh và đối với các giao dịch thương mại lớn và có lợi nhuận.
Một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ tài sản vô hình đó là Luật sở
h
ữu trí tuệ. Luật này được sử dụng nhằm bảo vệ các tài sản vô hình để duy trì
và nâng cao giá trị của hoạt động kinh doanh và các lợi ích thương mại của
doanh nghiệp. Nó là vấn đề sống còn không chỉ trong các giao dịch thương


hiệu chuyển tải bất hợp pháp và sẽ tiến hành kiểm tra đối với những trường
hợp khả nghi nhằm đảm bảo tính công minh và tuân thủ một cách tuyệt đối
mọi qui định của pháp luật. 16
Việc xác định xuất xứ của hàng hoá dựa trên tờ khai xuất xứ đính kèm
với mọi lô hàng nhập khẩu vào Mỹ nộp cho hải quan ngay khi hàng nhập vào.
Nhưng nếu thông tin trên tờ khai không đầy đủ thì Hải quan có quyền yêu cầu
cung cấp thêm thông tin cần thiết, và lô hàng sẽ không được giải phóng cho
đến khi việc xác định được thực hiện xong. Tờ khai này phụ thuộc vào tính
chất của việc nhập khẩu và được chia làm 3 loạ
i: tờ khai xuất xứ đơn, tờ khai
xuất xứ kép và tờ khai phụ.
5.2.3. Luật thuế bù giá và thuế chống bán phá giá.

* Luật thuế bù giá hay còn gọi là luật thuế đối kháng (CVD): Được
dùng để làm vô hiệu hoá ưu thế cạnh tranh không bình đẳng của nhà sản xuất,
xuất khẩu nước ngoài với nhà sản xuất, xuất khẩu Mỹ nhờ có trợ cấp. Thuế
đối kháng được đánh đúng bằng trị giá tịnh của phần trợ cấp và được thu khi
nhập khẩu vào Mỹ nếu thoả mãn 2 đi
ều kiện: Một là Bộ Thương mại Mỹ phải
làm rõ là có trợ cấp đối kháng, trực tiếp hay gián tiếp, liên quan đến sản xuất,
xuất khẩu của nhóm, loại hàng nhập khẩu được bán vào Mỹ và phải xác định
trị giá của phần trợ cấp tịnh. Hai là, Uỷ ban Thương mại Mỹ phải xác định
được là nghành công nghiệp nước mình bị thiệt hại vật chất, hoặc có nguy cơ
bị thiệt hại vật chất. Luật được áp dụng cho nhập khẩu từ các nước WTO hoặc
các nước mà Mỹ có Hiệp định MFN vô điều kiện.
* Luật thuế chống bán phá giá (AD): Bán phá giá nói chung là một hình
thức phân biệt giá quốc tế, theo đó hàng được bán ở một nước với giá thấp

thương mại ngày càng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thương mại
gi
ữa Mỹ và các quốc gia khác trên thế giới. Do đó, mỗi doanh nghiệp, mỗi
quốc gia, cần nghiên cứu ở tầm vi mô cũng như vĩ mô để có những chiến lược
và chiến thuật kinh doanh phù hợp, tận dụng được lợi thế trong thương mại
quốc tế và đáp ứng được những yêu cầu mà thị trường này đặt ra.
II/. TIỀM NĂNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY
VI
ỆT NAM.
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các nước phải
tìm ra các biện pháp thích hợp để thúc đẩy nền kinh tế nước mình phát triển,
đặc biệt là thông qua xuất khẩu hàng hoá. Việt Nam là một quốc gia đang
phát triển nhưng có những tiềm lực nhất định trong một số ngành công 18
nghiệp, đặc biệt là trong công nghiệp dệt may. Nếu có những biện pháp phù
hợp để khai thác tốt những tiềm lực này sẽ mang lại lợi thế lớn cho Việt Nam
khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ.
1. Dệt may là một trong những ngành nghề truyền thống của Việt
Nam.
Ngành dệt may đã xuất hiện ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. Lịch sử
từ
ng ghi lại không ít những triều đại Việt Nam đã dùng nhiều loại vải quí đem
cống nạp sang đất nước Trung Hoa, và cho đến nay, một số làng nghề truyền
thống cổ như Vạn Phúc (Hà Tây), Triều Khúc (Hà Nội), Làng Mèo (Thái
Bình) vẫn tồn tại và phát triển.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ngành dệt may Việt Nam phát triển
mạnh mẽ, đặc biệt là ở miền Nam với những thiết bị công nghệ tiên tiế
n từ


Malaysia Thái Lan Philippin
e
Ấn Độ Trung
Quốc
Indonesia Việt Nam
0,95 0,87 0,67 0,54 0,34 0,23 0,18

Đây là một lợi thế để phát triển nghành dệt may Việt Nam vì một số
nước trong khu vực ASEAN và nhiều nước khác vẫn nhập khẩu hàng dệt may
Việt Nam nên với giá nhân công rẻ hơn, hàng Việt Nam có có lợi thế cạnh
tranh hơn so với hàng của các nước khác. Tuy nhiên điều quan trọng là phải
nâng cao năng suất lao động và tay nghề của công nhân để tăng cường tính
cạnh tranh hơn nữa.
3. Khuynh hướng chuyể
n dịch ngành dệt may từ các nước phát triển
sang các nước đang phát triển.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc kế thừa những thành
tựu từ những quốc gia công nghiệp phát triển. Sự chuyển dịch nghành dệt
may từ các nước phát triển sang những nước đang phát triển, nơi có lợi thế
hơn về lực lượng lao động và chi phí nhân công đã mở ra những cơ
hội cho sự
phát triển nghành công nghiệp này ở Việt Nam. Nhưng điều này không có
nghĩa là nghành dệt may không còn tồn tại ở các nước phát triển mà nó sẽ tiến 20
lên một mức độ cao hơn với những sản phẩm có chất lượng cao và hàm lượng
công nghệ trong giá trị hàng hoá cũng cao hơn. Ngành dệt may thế giới xuất
hiện sớm nhất ở Anh vào cuối thế kỷ 18 và cũng là lần chuyển dịch thứ nhất
21
So với các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, để tạo ra một chỗ làm mới,
ngành dệt chỉ cần đầu tư 15.000 USD và ngành may cần khoảng 1.000 USD,
trong khi đó, mức độ vốn đầu tư cho ngành giấy phải lên đến gần 30.000 USD
(theo bài nghiên cứu "Ngành dệt may Việt Nam: Chính sách phát triển trong
bối cảnh hội nhập quốc tế" do nhóm nghiên cứu Việt - Nhật và nhóm chuyên
gia Nhật trình bày trong cuộc hội thảo ngày 8-9/2000 tại Hà Nội)
Mặt khác, cũng do không
đòi hỏi công nghệ quá phức tạp nên lao động
trong ngành dệt may dễ đào tạo nên dễ dàng trong việc sản xuất theo mô hình
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là tiềm năng để phát triển sản xuất
hàng dệt may Việt Nam trong thời gian tới.
5. Nhà nước ban hành nhiều đường lối, chính sách thuận lợi cho sự
phát triển của ngành dệt may Việt Nam.
Trước hết, ngành dệt may được xem là một trong những ngành công
nghiệp then chố
t, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc CNH-HĐH đất
nước. Có thể khẳng định như vậy, vì như đã phân tích ở trên, Việt Nam có
những lợi thế và cơ sở nhất định để phát triển ngành công nghiệp truyền thống
này trên cơ sở tiếp nhận công nghệ chuyển giao từ những quốc gia phát triển
hơn, cũng như được hỗ trợ về mặt tài chính và học hỏi cách thức thâm nh
ập
thị trường. Hàng loạt chính sách ra đời nhằm kích thích sự phát triển lĩnh vực
này. Thực tế cho thấy, tổng vốn đầu tư dành riêng cho Tổng công ty dệt may
trong 5 năm (1995-2000) là 3.504 tỷ đồng, nâng mức tăng trưởng trung bình
hàng năm từ 5,2% lên 13,3% (Theo Thời báo kinh tế Việt Nam - số 120 ngày
30/10/02).
Thứ đến là chính sách phát triển nền kinh tế đa thành phần cũng tạo

tăng thêm từ hoạt động đầu tư mới. Đối với Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt
Nam, Nhà nước ta cũng đưa ra những biện pháp ưu đãi nhất định đối với việc
xuất khẩu hàng dệt may. Các doanh nghiệp nằm trong danh sách được hưởng
ưu đãi về thương mại và đầu tư (miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4
năm kể từ khi doanh nghiệp hoạt động có lãi và được tiếp tục giảm thuế trong
4 năm sau đó) được phép xuất kh
ẩu trực tiếp, uỷ thác xuất khẩu hay nhận uỷ
thác từ các doanh nghiệp khác những sản phẩm không do doanh nghiệp sản 23
xuất. Nếu doanh nghiệp bán sản phẩm cho doanh nghiệp khác để xuất khẩu sẽ
được miễn thuế đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu và VAT đối với sản phẩm
đầu ra.
Bên cạnh đó, các thủ tục xuất nhập khẩu và hải quan cũng được cải
thiện đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển ngành dệt may nước ta.
6. Cơ hội cho s
ự phát triển ngành dệt may Việt Nam khi tham gia
vào thị trường thế giới.
Nền kinh tế thế giới đang phát triển và chuyển dịch từng ngày một,
cùng với nó là vai trò của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việt Nam đang
tiến hành cải cách nhiều mặt nền kinh tế với mong muốn sớm trở thành thành
viên của tổ chức này. Nếu trở thành thành viên của WTO, hàng hoá Việt Nam
sẽ có cơ hộ
i thâm nhập thị trường của tất cả các quốc gia thành viên trên thế
giới, tạo ra một thị trường nước ngoài vô cùng rộng lớn cho nhà xuất khẩu
Việt Nam. Bên cạnh đó, các điều kiện về mở rộng cửa đầu tư cũng thông
thoáng hơn thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam, cải
tiến công nghệ sản xuất, tiếp cận phương thức buôn bán m

trường Mỹ.
Bộ trưởng Trương Đình Tuyển nhận xét rằng, thị trường Mỹ rộng lớn,
nhu cầu đa dạng và phong phú; khối lượng nhập khẩu hàng hóa của Mỹ đứng
ở mức cao nhất thế giới. Với việc ký kết Hiệp định, Việt Nam sẽ được Mỹ

dành cho quy chế “Quan hệ thương mại bình thường” (NTR), trước đây gọi
là quy chế “Tối huệ quốc” (MFN), tạo điều kiện cho việc gia tăng hàng hóa
xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ. Mặt khác Việt Nam cũng có thể tiếp nhận
các công nghệ cao và các nguồn vốn đầu tư lớn từ Mỹ (hiện đứng thứ 9 trong
các quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng vố
n đăng ký 1,1 tỉ
USD). Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, Hiệp định này cũng sẽ tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư của nước khác tăng cường đầu tư vào Việt Nam, vì
khi đó họ có nhiều khả năng xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ.
Khi Mỹ giảm, loại bỏ hay thay đổi một loại thuế quan nào đó thì sự
thay đổi đó dược áp dụng bình đẳng với tấ
t cả các quốc gia cùng được hưởng
qui chế MFN. Trên nguyên tắc đó, hàng hoá có xuất xứ từ Việt Nam không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status