C¸c lý thuyÕt vÒ ph¸t triÓn kinh tÕ
Ch−¬ng II
C¸c lý thuyÕt vÒ ph¸t triÓn kinh tÕ
Nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu chúng ta có những thông tin về phát triển nếu chúng ta
lại không hiểu ý nghĩa thực sự của nó.
-DENIS GOULET, Sự lựa chọn nghiệt ngã
Phát triển phải được định nghĩa lại như là sự tấn công vào những vấn đề đen tối của
thế giới ngày nay: sự thiếu dinh dưỡng, bệnh tật, mù chữ, các khu ổ chuột, thất nghiệp
và bất công. Đ
o lường sự phát triển bằng sự tăng trưởng kinh tế chung, thì thế giới đã
đạt được những thành công lớn. Nhưng nếu đo lường sự phát triển thông qua việc làm,
sự công bằng và sự xoá đói nghèo, thì thế giới đã không đạt được sự phát triển hay chỉ
là sự phát triển cục bộ.
-PAUL. P. STREETEN, nguyên giám đốc Viện Phát triển Thế giới
Sự tiếp cận mới c
ủa chúng ta về những chiến lược và những chương trình phát triển là
sự tiếp cận tổng hợp làm nổi bật sự liên quan của tất cả các khía cạnh của những chiến
lược phát triển – xã hội, cấu trúc, con người, thể chế, môi trường, kinh tế và tài chính.
-JAMES. D. WOLFENSOHN, Chủ tịch, Ngân Hàng Thế GiớiMọi quốc gia đều nỗ lực phát triển. Sự tiến bộ kinh tế là một thành phần
rất quan trọng của phát triển nhưng nó không phải là thành phần duy nhất. Như
chúng ta đã thấy ở chương 1, phát triển không phải là một hiện tượng kinh tế
international-dependence revolution), và (4) tân cổ điển (the neoclassical), thị
trường tự do.
Nhữ
ng nhà lý luận của những năm 1950 và đầu những năm 1960 nhìn
nhận quá trình phát triển là một chuỗi những giai đoạn thành công của sự tăng
trưởng kinh tế mà tất cả các nước đều phải trải qua. Đây chính là lý thuyết kinh
tế về phát triển đầu tiên trong đó sản lượng thực tế và hỗn hợp của tiết kiệm, đầu
tư, và tài trợ nước ngoài là tất cả những th
ứ cần thiết làm cho các nước đang
phát triển bắt đầu bước vào con đường tăng trưởng kinh tế mà các nước phát
triển hơn đã trải qua trong lịch sử. Như vậy, phát triển trở nên đồng nghĩa với sự
tăng trưởng kinh tế nhanh.
Cách tiếp cận theo các giai đoạn tăng trưởng này đã bị thay thế vào những
năm 1970 bởi hai trường phái đối nghịch nhau và song song tồn tạ
i. Trường phái
thứ nhất tập trung vào các lý thuyết và khuôn mẫu thay đổi cấu trúc. Trường
phái này sử dụng lý thuyết kinh tế hiện đại và phân tích thống kê nhằm miêu tả
quá trình
thay đổi cấu trúc từ bên trong mà các nước đang phát triển phải trải
qua nếu muốn thành công trong việc tạo ra và duy trì một quá trình tăng trưởng
kinh tế nhanh. Trường phái thứ hai, cách mạng phụ thuộc quốc tế, có xu hướng
cấp tiến và chính trị. Nó nhìn nhận sự kém phát triển dưới góc độ quan hệ quyền
lực giữa các quốc gia và bên trong một quốc gia, sự cứng nhắc của thể chế và
cấu trúc kinh tế, và là kết quả củ
a sự gia tăng của các nền kinh tế nhị nguyên và
các xã hội nhị nguyên bên trong một quốc gia và giữa các quốc gia trên thế giới.
Lý thuyết về sự phụ thuộc có khuynh hướng nhấn mạnh vào các
trở ngại về thể
tích quá trình tăng trưởng kinh tế của các xã hội nông nghiệp rộng lớn được đặc
trưng bởi sự thiếu vắng của cấu trúc kinh tế hiện đại. Nhưng họ lại có kinh
nghiệm mới mẻ của Kế Hoạch Marshall, những lượng tài chính khổ
ng lồ và sự
trợ giúp kỹ thuật của Mỹ đã làm cho các nước bị chiến tranh tàn phá ở Châu Âu
có thể tái thiết và hiện đại hoá nền kinh tế của họ trong vòng có một vài năm.
Hơn nữa, câu hỏi đặt ra là có phải tất cả các nước công nghiệp phát triển đã từng
là những xã hội nông nghiệp không phát triển? Những kinh nghiệm lịch sử trong
sự chuyển đổi những nền kinh tế
từ những xã hội nông nghiệp nghèo nàn tự
cung tự cấp thành những nước công nghiệp hiện đại có chắc chắn là những bài
học quan trọng cho những nước “lạc hậu” của Châu Á, Châu Phi, và Châu Mỹ
La Tinh trong quá trình phát triển? Cái Logic và sự đơn giản của hai tư tưởng
này-sự hữu dụng của sự “tiêm” lượng vốn khổng lồ và lịch sự phát triển của các
nước phát triển-đã quá hấp d
ẫn để bác bẻ lại đối với các học giả, các chính trị
gia, và các nhà quản lí ở các nước giàu; với họ con người và cuộc sống ở những
nước đang phát triển không khác gì những con số thống kế của Liên Hợp Quốc
hay những chương sách nhân học lẻ tẻ. Bởi vì sự nhấn mạnh của nó đến vai trò
trung tâm của sự gia tăng tích luỹ vốn, cách tiếp cận này còn được gọ
i là “trào
lưu tư bản chính thống-capital fundamentalism".
2.2.1. Các Giai Đoạn Tăng Trưởng của Rostow
Vượt ra khỏi môi trường trí tuệ khô cằn, được khuyến khích bởi chiến
tranh lạnh trong những năm 1950 và những năm 1960 và là kết quả của sự cạnh
tranh về lòng trung thành của các nước công nghiệp mới (NICs), là sự ra đời của
Mô hình phát triển các giai đoạn tăng trưởng. Người có ảnh hưởng và tiếng
nói trong mô hình này là nhà Kinh tế
lịch sử Mỹ Walt W. Rostow. Theo học
nú
ó thng c ỏp dng cho cỏc vn chớnh sỏch m cỏc nc ang phỏt
trin ang i mt vi.
2.2.1.1. Nội dung lý thuyết của Rostow
1. Giai đoạn xã hội truyền thống
2. Giai đoạn chuẩn bị cất cánh
3. Giai đoạn cất cánh
4. Giai đoạn trởng thành
5. Giai đoạn tiêu dùng cao và rộng khắp
Thu nhập
1 2 3 4 5 Thời gian
Tuy nhiên, hoạt động của nền kinh tế nói chung cha vợt qúa giai đoạn truyền thống,
đây là thời kỳ quá độ có sự đan xen giữa cái những cũ của xã hội ở giai đoạn truyền thống vẫn
tồn tại song song với không khí sôi động của một số nhân tố mới xuất hiện.
Giai đoạn cất cánh
Giai đoạn lịch sử trung tâm của Rostow là giai đoạn cất cánh, một sự mở rộng quyết
định diễn ra từ 20 30 năm, làm thay đổi căn bản nền kinh tế và xã hội của một đất nớc. Cất
cánh tức là biểu hiện của các lực cản từ cơ chế của xã hội truyền thống đã bị đẩy lùi, nhờng
chỗ cho sự phát triển của một nền kinh tế mới (nền kinh tế công nghiệp). Lực l
ợng tạo ra sự
tiến bộ của nền kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lợng trọng yếu của nền kinh tế.
Rostow chỉ ra rằng để cất cánh cần phải thoả mãn các điều kiện:
- Đầu t thuần tuý tính theo tỷ lệ phần trăm của sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP)
tăng lên thực sự từ khoảng dới 5% tới 10%, để đáp ứng nhu cầu cao về vốn đầu t
của nền kinh tế. Nếu mức đầu t 3,5% của NNP dẫn tới sự tăng trởng là 1% mỗi năm,
thì 10,5% của NNP là cần thiết cho sự tăng trởng 3% (hoặc mức tăng 2% theo đầu
5
Các lý thuyết về phát triển kinh tế
ngời nếu dân số tăng 1%). Vốn đầu t không chỉ từ nguồn trong nớc mà còn thu hút
từ nớc ngoài, với nhiều hình thức thu hút khác nhau.
- khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh, đợc tăng cờng đầu t nghiên cứu, tiến bộ
KHKT trở thành lực lợng thúc đẩy cho sự phát triển của các ngành kinh tế.
- Bộ mặt của nền kinh tế đã đổi khác:
ắ Công nghiệp trở thành đầu tầu của nền kinh tế quốc dân (ít nhất có một ngành giữ
vị trí đầu tầu)
ắ Công nghiệp có tỷ lệ đầu t cao
ắ Tốc độ phát triển công nghiệp cao
ắ Tạo nguồn lợi nhuận cao, lợi nhuận đợc sử dụng để tái đầu t phát triển
ắ Nông nghiệp phát triển mạnh mẽ:
9 Tiến bộ khoa học kỹ thuật đợc áp dụng vào sản xuất nông nghiệp làm cho:
cầu cao về hàng tiêu dùng lâu bền và các dịch vụ xã hội: giáo dục - đào tạo, việc
làm, y tế của các nhóm dân c. Con ngời đợc coi là trung tâm của sự phát
triển.
2.2.1.2. Hạn chế của lý thuyết các giai đoạn phát triển của Rostow
Lý thuyết của W. Rostow đợc nhiều quan chức chính phủ Mỹ a chuộng
vào những năm 1960, đặc biệt là ở các cơ quan viện trợ quốc tế, do nó đã hứa
hẹn đem lại hy vọng cho sự tăng trởng bền vững ở các nớc đang phát triển sau
sự tiếp sức ban đầu đáng kể của viện trợ nớc ngoài. Nhng nhiều nhà kinh tế
cho rằng Rostow đã có quá nhiều tham vọng.
Trên thực tế, những giai đoạn của W. Rostow đợc xác định một cách
thiếu chính xác, khó có thể kiểm định đợc về mặt khoa học:
- Các nền kinh tế trớc đây - nguyên thuỷ, cổ đại, trung kỷ và các nền kinh
tế cách đây một hoặc một vài thế kỷ của các nớc hiện đã phát triển hiện
tại trong một phạm trù duy nhất, đó là xã hội truyền thống. Với việc phác
hoạ các xã hội truyền thống nh các xã hội trớc Newton, đã bỏ qua tính
nhị nguyên của nhiều nớc kém phát triển hiện nay.
- Phần lớn luận đề của Rostow về các điều kiện để cất cánh là mâu thuẫn
với các số liêu thực nghiệm. những gia tăng về các tỷ lệ đầu t và sự
tăng trởng không xảy ra trong phạm vi 20 30 năm nh Rostow đã
phác hoạ cho sự cất cánh.
- Những đặc trng của một trong các giai đoạn thờng không nhất quán với
nó. Tại sao cuộc cách mạng trong nông nghiệp, những lợng nhập khẩu
vốn, và sự đầu t xã hội lớn của giai đoạn tiền điều kiện lại không phù
hợp với sự tăng lên đột ngột của các tỷ lệ đầu t trong giai đoạn cất cánh?
- Tiền đề của Rostow rằng sự hiện đại hóa kinh tế có nghĩa là sự thay đổi
từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế tơng tự với
nền kinh tế ở Bắc Mỹ và Tây Âu ngày nay đã bỏ qua mối liên hệ của
các nớc kém phát triển đơng thời với các nớc đã phát triển cũng
nh lịch sử riêng lẻ cao độ và những điều kiện riêng của mỗi nớc kém
phát triển.
ượng vốn, K, có mối quan hệ trực tiếp với tổng thu nhập quốc dân hay
đầu ra, ra, Y, được thể hiện bởi tỷ số vốn-đầu ra, k, cho nên
K
—— = k
Y
hay
∆K
—— = k
∆Y
hay
∆K = k∆Y (4.3)
3. Cuối cùng bởi vì tiết kiệm quốc dân ròng, S, phải bằng đầu tư ròng, I, chúng ta có thể
viết phương trình này là
S = I (4.4)
Nhưng từ
phương trình 4.1 chúng ta biết rằng S = sY và từ phương trình 4.2 và 4.3
chúng ta biết rằng
I = ∆K = k∆Y 8
Các lý thuyết về phát triển kinh tế
Do vy tip theo chỳng ta cú th vit li phng trỡnh 4.4 nh sau
S = sY = kY = K = I (4.5)
hay n gin l
sY = kY (4.6)
Chia c hai v ca phng trỡnh 4.6 cho Y v k chỳng ta cú phng trỡnh sau:
Y s
= (4.7)
bản - đầu ra (k) là một số cố định. Giả định này gắn liền với một hàm sản xuất
mà nó sử dụng các tỷ lệ cố định các yếu tố đầu vào t bản và lao động, đờng
đồng lợng có hình chữ L. Nói cách khác, với mỗi sự tăng lên về vốn sản xuất
đều có sự tăng lên tơng ứng của lao động.
9
Các lý thuyết về phát triển kinh tế
T bản
Y
20 Y
2
10 Y
1 100 200
Lao đ
ộ
n
g Hình 2.2. Hàm sản xuất với các tỷ lệ cố định.
1
K
2
=2K
1
2. A > C ít vốn hơn
nhiều lao động hơn
3. A > D nhiều vốn hơn
ít lao động hơn
K
Y
D
K
2 B
C
Y
2 A
K
1
Y
1
cũng không làm giảm đầu ra của ngành nông nghiệp.
ắ Do vậy, việc chuyển lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành công
nghiệp và dịch vụ sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng lao động, thể hiện ở
năng suất lao động tăng lên.
- Quá trình chuyển lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành công
nghiệp và dịch vụ phụ thuộc vào tốc độ đầu t cho công nghiệp và sự
thích tích vốn ở khu vực hiện đại.
- Vốn đầu t cho công nghiệp có đợc do lợi nhuận ở khu vực hiện đại
đợc tái đầu t, mở rộng sản xuất.
- Tiền lơng ở khu vực hiện đại là ổn định và cao hơn thu nhập ở khu
vực nông nghiệp (Lewis cho rằng tiền lơng ở khu vực hiện đại phải
cao hơn thu nhập ở khu vực nông thôn ít nhất 30% thì mới thu hút đợc
lao động từ nông nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ).
Quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế diễn ra nh sau:
Khu vực nông nghiệp lạc hậu
- Đầu ra của nông nghiệp tăng giảm theo lao động là chính do:
ắ Vốn sản xuất không thay đổi
ắ Công nghệ sản xuất không thay đổi
- ở các nớc đang phát triển, trên dới 80% dân số làm việc và sống ở
khu vực nông nghiệp, nông thôn.
- Có sự d thừa lao động ở khu vực nông nghiệp: MP
LA
= 0
- Tiền lơng ở khu vực nông nghiệp đợc bằng sản phẩm trung bình
(AP) chứ không phải bằng sản phẩm cận biên (MP).
11
Các lý thuyết về phát triển kinh tế
Khu vực hiện đại (công nghiệp, dịch vụ)
a) Khu vc lc hu (nụng nghip) b) Khu vc hin i (cụng nghip, dch v)
Hình 2.4. Sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế
Do tiền lơng ở khu vực hiện đại W
M
tài chính quốc tế nh Ngân hàng thế giới (World Bank), Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF). Bên cạnh đó sự thành công của các nớc công nghiệp mới (NICs) nh
Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore khi thực hiện thị trờng tự do cũng đã cổ vũ cho
trờng phái này.
2.4.2. Mối quan hệ AS AD trong nền kinh tế P
L
AS-LR
AS-SR
0
AS-SR
1
E
0
E
L0
xuống P
L1
sẽ làm cho cầu
về lao động giảm dẫn đến tiền
công cũng giảm: Tổng cung
giảm từ AS-SR
0
xuống AS-SR
1
.
Nền kinh tế lại hoạt động ở
điểm cân bằng mới E
2
và đạt
mức sản lợng tiềm năng
Y
2
=Y*.
Hình 2.5. Mối quan hệ AS AD trong nền kinh tế
theo trờng phái tân cổ điển13
Các lý thuyết về phát triển kinh tế
Các nhà kinh tế Tân cổ điển cho rằng nền kinh tế có hai đờng tổng cung:
AS LR phản ánh mức sản lợng tiềm năng của nền kinh tế và AS SR phản
ánh mức sản lợng thực tế. Tuy nhiên, các nhà kinh tế Tân cổ điển vẫn cho rằng
nền kinh tế luôn đạt đợc cân bằng ở mức sản lợng tiềm năng (thu hút hết nhân