Nghiên cứu thiết kế chế thử thảm tưới từ vật liệu dệt cho cây trồng ở Việt Nam (tóm tắt) - Pdf 19



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Nguyễn Thị Thảo
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ THỬ THẢM TƯỚI TỪ
VẬT LIỆU DỆT CHO CÂY TRỒNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Công nghệ dệt, may
Mã số: 62540205

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT DỆT MAY

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ
cấp trường họp tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Vào hồi: giờ, ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:
1.Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội
2.Thư viện Quốc gia DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

[1] Nguyễn Thị Thảo (2012) Ảnh hưởng của khối lượng thể
tích vải đến độ thấm hút nước của vải không dệt liên kết
xuyên kim polypropylene. Tạp Chí Công nghiệp số 66
tháng 12, trang 23-25.
[2] Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Thế Hùng, Lê Phúc Bình,
Phạm Minh Phượng, Trịnh Thị Mai Dung (2012) Ảnh
hưởng của thảm tưới và giá thể đến chu kỳ tưới, lượng
nước, các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng hoa của
cây cúc (Tagele patula L.). Tạp chí Khoa học và Phát
triển Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tập 10, số 6,


1

A. THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
Phương pháp tưới truyền thống trong trồng trọt của Việt
Nam đang tồn tại một số hạn chế: tưới nước chưa đúng, đủ theo
nhu cầu của cây trồng, tốn nhiều công chăm sóc, tiêu hao nhiều
nước hơn nhu cầu của cây do thất thoát.
Vật liệu dệt có đặc tính hút và nhả nước tốt nên có thể trữ
và cấp nước cho cây trồng đúng, đủ theo nhu cầu của cây, nhờ đó
giúp giảm tiêu hao nước tưới do đáp ứng đủ nước và thất thoát ít
nước, giảm công chăm sóc nhờ kéo dài chu kỳ tưới và từ đó nâng
cao chất lượng cây trồng. Điều này đã thúc đẩy ý tưởng ứng dụng
phương pháp tưới nước cho cây trồng dùng thảm dệt của thế giới
vào Việt Nam.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Sử dụng vật liệu dệt để thiết kế và chế thử thảm tưới trữ
và cấp nước đúng, đủ cho cây trồng, nhằm:
- Tưới nước đúng, đủ theo nhu cầu của cây;
- Nâng cao chất lượng cây trồng;
- Giảm công chăm sóc;
- Giảm tiêu hao nước tưới.
III. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN
ÁN
- Thảm tưới làm từ vật liệu dệt để trữ và cấp nước đúng và đủ cho
cây trồng;
- Thử nghiệm tính thích ứng của một số thảm tưới mẫu thiết kế
trên cây hoa cúc Vạn thọ lùn trồng trong chậu cảnh;

VII. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đã thiết kế và chế thử thảm tưới mẫu nhỏ làm từ vật liệu dệt lần
đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam;
- Đã thử nghiệm thành công tính thích ứng của mẫu thảm tưới cho
cây cúc Vạn thọ lùn lần đầu tiên ở Việt Nam.
- Đã nghiên cứu ứng dụng sản phẩm khoa học của ngành Dệt có
sự kết hợp liên ngành với khoa học ngành Nông nghiệp.
KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 3 chương (104 trang), 82 tài liệu tham khảo,
19 trang phụ lục, 39 bảng số liệu, 73 hình vẽ và đồ thị. 3

B. NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ PHƢƠNG
PHÁP TƢỚI SỬ DỤNG THẢM DỆT
Chương 1 giới thiệu khái quát về các phương pháp tưới
nước cho cây trồng, trong đó phương pháp tưới sử dụng thảm tưới
làm từ vật liệu dệt có ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với các
phương tưới khác. Chức năng của thảm tưới là dự trữ và nhả nước
trực tiếp đến vùng đất có sự tập trung bộ rễ của cây, điều tiết chất
tưới một cách tối ưu cả về lượng và thời gian tưới và có thể tự
động hoá quá trình tưới. Tuỳ theo yêu cầu sử dụng mà cấu trúc
của thảm tưới khác nhau. Tuy nhiên, các loại thảm tưới dùng cho
phương pháp tưới này hiện nay còn một vài hạn chế là: chưa có
khả năng chống lún do áp lực của đất và cây trồng, dung lượng trữ
nước còn thấp. Đặc tính thấm hút nước của vật liệu dệt có nhiều
điểm phù hợp với yêu cầu của thảm tưới, vì vậy luận án nghiên
cứu chúng để có thể tìm ra cấu trúc và vật liệu phù hợp thiết kế,

sợi được luồn vào các ống nhựa PVC với mật độ xơ thay đổi tạo
thành các bấc thấm dạng ống tơ filament không nhún100 % PET.
-Vải dệt thoi sợi cắt 100% PP kiểu dệt vân điểm được sản xuất
theo dây chuyền dệt vải bao tải, mật độ ngang thay đổi, có độ bền
cơ học cao (ký hiệu DT).
- Vải dệt kim đan ngang kiểu dệt interlock, sợi 100% PET, chi số
sợi N
e
=30, mật độ ngang P
n
= 110 (cột vòng/10cm), mật độ dọc
thay đổi (ký hiệu DK).
- Vải không dệt xuyên kim 100% PP, độ nhỏ xơ từ 5,4D ÷ 6,7D,
độ dài xơ từ 97,5mm ÷ 102,5mm được sản xuất tại Công ty cổ
phần dệt Công nghiệp Hà Nội (ký hiệu KD).
- Mẫu thảm tưới do Đức sản xuất (BEWÄSSERUNGSMATTE
AQUAFOL - ký hiệu M
đ
) là một trong các loại thảm đang được
sử dụng phổ biến.
- Ngoài các vật liệu dệt kể trên, phụ liệu làm thảm mẫu còn có:
tấm mút xốp PU có khối lượng thể tích 0,0162(g/cm
3
), vải tráng
phủ PVC có bề dày 0,2mm, ống nhựa PVC có đường kính trong
6mm, đường kính ngoài ngoài 6,5mm.
2.1.2.2 Vật liệu trồng cây
- Cây trồng thử nghiệm dùng thảm tưới cấp nước thích hợp cho
các loại cây trồng đòi hỏi độ ẩm tương đối cao hoặc liên tục. Luận
án đã chọn cây cảnh nhóm cây hoa là cây hoa cúc Vạn thọ lùn (tên

- Phân tích cấu trúc, các thông số kỹ thuật, đánh giá đặc tính trữ
và cấp nước của mẫu thảm tưới làm từ vật liệu dệt của Đức để làm
cơ sở cho thiết kế mẫu thảm tưới của luận án.
- Thiết kế cấu trúc thảm tưới mẫu của luận án theo chức năng của
các phần tử cấu trúc và đối tượng cây trồng.
- Phân tích nguyên lý làm việc thảm tưới mẫu của luận án
2.2.3 Nghiên cứu chế thử thảm tưới mẫu của luận án
- Nghiên cứu lựa chọn vật liệu cho các phần tử cấu tạo theo các
chức năng thiết kế của thảm tưới mẫu
- Xác định các thông số kỹ thuật các phần tử cấu tạo của thảm tưới
mẫu.
- Xác định các thông số kỹ thuật của thảm tưới mẫu.
2.2.4 Nghiên cứu khả năng thích ứng thảm tưới mẫu của luận
án
- Động thái độ ẩm của giá thể khi trồng thử nghiệm cho cây hoa
cúc.
- Tính thích ứng của thảm tưới thông qua sinh trưởng thân, lá, hoa
và bộ rễ của cây hoa cúc; chù kỳ tưới và lượng nước cần tưới cho
cây hoa cúc.
- Xây dựng qui trình trồng cây sử dụng thảm tưới mẫu của luận
án.
2.3 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu khoa học từ các nguồn khác
nhau về tưới bón cho cây trồng như lượng nước cần tưới, thời
điểm tưới và phương pháp tưới.
6

- Nghiên cứu tổng quan tài liệu về đặc tính thấm hút chất lỏng
trong vật liệu dệt làm cơ sở để lựa chọn vật liệu thí nghiệm làm

thí nghiêm CT1,CT2, CT3 với 3 mẫu giá thể GT1, GT2, GT3.
2.3.3.2 Nghiên cứu khả năng thích ứng của thảm tưới mẫu
- Nghiên cứu động thái độ ẩm của giá thể khi trồng cây hoa cúc:
thời điểm tưới cây là kết quả khảo sát thời điểm tưới ở trên, 2
7

công thức thí nghiêm CT1 (đối chứng không sử dụng các thảm
tưới), CT2 (sử dụng thảm tưới KT1) với mẫu giá thể là kết quả
khảo sát chu kỳ tưới và lượng nước cần tưới ở trên. Cứ sau 3 giờ,
đo và ghi lại độ ẩm của giá thể được hiện thị trên thiết bị đo độ ẩm
KS - D1 4560 DELM HORST USA.
- Nghiên cứu tính thích ứng của thảm tưới qua sinh trưởng cây
hoa cúc, chu kỳ tưới và lượng nước cần tưới: thời điểm tưới cây là
kết quả khảo sát thời điểm tưới ở trên, 10 công thức thí nghiêm
CT1, CT3, CT5, CT7, CT9 (các CT đối chứng không sử dụng các
thảm tưới), CT2, CT4, CT6, CT8, CT10 (các công thức sử dụng
thảm tưới KT1, KT2, KT3, KT4, KT5) với mẫu giá thể là kết quả
khảo sát chu kỳ tưới và lượng nước cần tưới ở trên.
2.3.4 Phƣơng pháp xử lý số liệu thực nghiệm
Các số liệu thí nghiệm trong luận án được xử lý bằng
phần mềm Microsoft Excel và phần mềm dùng để quản lý và phân
tích thống kê sinh học các dữ liệu thuộc ngành nông nghiệp
IRRISTAT.
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Khảo sát thời điểm tƣới và lƣợng nƣớc cần tƣới
3.1.1 Khảo sát thời điểm tưới
Kết quả khảo sát cho thấy với công thức CT3 thời điểm
tưới cây khi độ ẩm của giá thể 60% < W ≤ 70 % cây không có dấu
hiệu héo. Do đó luận án chọn thời điểm tưới cây cúc khi độ ẩm
của giá thể trồng cây 60% < W ≤ 70 %.

CT1 CT2 CT3
Hình 3.2
Lượng nước
cần tưới khảo
sát theo chu kỳ
tưới của cây
hoa cúc.
Kết quả cho thấy lượng nước cần tưới lớn nhất là 4,2
ml/giờ và tổng lượng nước cần tưới cho 1 chậu cây hoa cúc thí
nghiệm trong 1 chu kỳ sinh trưởng trong khoảng 5÷6 l/cây. Không
có sự khác biệt về lượng nước lớn nhất cần tưới trong một giờ.
Giá thể GT3 có số lần tưới và tổng lượng nước cần tưới của cây
cúc là nhỏ nhất. Vì vậy giá thể này được lựa chọn là giá thể
chung cho các công thức thí nghiệm các tính chất khác ở phần
sau.
3.2 Thiết kế thảm tƣới mẫu của luận án
3.2.1 Phân tích thảm tưới mẫu của Đức
3.2.1.1 Cấu trúc của thảm tưới
Qua các ảnh chụp kính hiển vi số AM 313T chi tiết trên
hình 3.3b và 3.3c có thể thấy: thảm mẫu này có kết cấu 3 lớp. Lớp
1 (L1) trên cùng là vải dệt thoi sợi dẹt (sợi cắt) (1), lớp 2 (L2) ở
giữa là vải không dệt (2) và lớp 3 (L3) dưới cùng là lớp màng (3).
Bóc bỏ lớp L1 và lớp L3 có thể thấy, vật liệu lớp L2 là tấm vải
không dệt được liên kết bằng phương pháp xuyên kim (các lỗ kim
xuyên 7) (hình 3.3e). Trên hình 3.3a cũng cho thấy, các đầu xơ (6)
của lớp L2 được nhô lên qua bề mặt che chắn của lớp L1. Điều
này cho thấy lớp L2 được xuyên kim cùng lớp L1.

2
, độ
dày 2,45mm.
- Lớp L3 là màng chống thấm PE, khối lượng diện tích 90 g/m
2
,
độ dày 0,2 g/mm.
- Không có cấu trúc chống nén.
3.2.1.3 Đặc tính trữ nước và cấp nước của thảm tưới
Kết quả thí nghiệm cho thấy khả năng trữ nước của lớp
vải không dệt L2 không thay đổi nhiều khi có hay không được liên
kết với lớp vải bảo vệ L1. Tuy nhiên mối liên kết này lại tạo ra sự
khác biệt của đặc tính nhả nước của lớp vật liệu ghép (L1+L2). Cụ
thể là khả năng cấp nước tăng từ 1,049 lên 1,379 l/m
2
(tăng
31,5%).
Khả năng cấp nước theo thời gian ở mẫu nhỏ (120 mm)
của thảm Đức tương đối nhỏ (26,1 ml/giờ). Với nhu cầu nước lớn
nhất của cây thí nghiệm là 4,2 ml/giờ thì vào thời kỳ cao điểm,
lượng nước này chỉ có thể cấp đủ cho nhu cầu của cây mẫu
khoảng 6,2 giờ. Nói cách khác thì một ngày cần tưới nước khoảng
4÷5 lần. Điều này cho thấy chi phí chăm sóc sẽ tăng lên.
3.2.2 Thiết kế thảm tƣới mẫu
3.2.2.1 Bố trí thảm tưới

Hình 3.4 Trạng thái thảm tưới trữ và cấp nước cho cây trồng
trong chậu.
Mẫu thảm tưới được đặt dưới đáy chậu cây. Sau khi cấp
nước tối đa nước vào thảm (thấm nước toàn phần). Nước từ mẫu

và còn đem lại khả năng chống nén cho thảm tưới mới.

Hình 3.6 Cấu tạo thảm tưới thiết kế
3.2.3 Nguyên lý làm việc của thảm tưới mẫu của luận án
Sơ đồ nguyên lý làm việc của thảm tưới mẫu được biểu
thị như hình 3.7.

Hình 3.7 Sơ đồ nguyên lý làm việc của thảm tưới thiết kế.
Ở đây, nước được cấp vào thảm tưới qua phần tử ống dẫn
OD(6) xuống đáy thảm và điền đầy không gian giữa hai lớp L1(1)
và lớp L3(5). Nước được di chuyển vào khoảng trống của lớp
L4(4) và được dự trữ ở đó. Nhờ áp lực mao dẫn theo phương dọc
qua các ống bơm OX (3) lên lớp trữ nước dùng ngay L2(2). Nhờ
lực mao dẫn theo hướng ngang của các xơ trong lớp L2 (2), nước
được phân bố đều trong lớp L2(2). Nhờ lực hút nước của cây và
13

lực mao dẫn nước trong đất (F
2
), nước từ lớp L2(2) được thấm qua
lớp L1(1) lên đất (7) và tạo ra độ ẩm đồng đều trên toàn cho bộ
diện tích giá thể.
3.3 Chế thử thảm tƣới mẫu của luận án
3.3.1 Lựa chọn vật liệu cho các phần tử cấu tạo của thảm tưới
3.3.1.1 Vật liệu cho phần tử cấu tạo lớp 1
Kế thừa sự lựa chọn vật liệu của thảm Đức, vật liệu làm
lớp L1 (PT1) của thảm tưới là vải dệt thoi sợi cắt 100% PP có
trong điều kiện Việt Nam.
Ảnh hưởng của mật độ vải đến độ thẩm thấu
nước của vải dệt thoi sợi cắt 100% PP

cây chui vào thảm.
3.3.1.2 Vật liệu cho phần tử cấu tạo lớp 2
Chức năng của lớp L2 (PT2) chủ yếu là dự trữ nước có
thể dùng ngay cho cây đồng thời tiếp nhận nước từ lớp L4 (PT4)
dự trữ chuyển lên thông qua phần tử 3 là các ống bơm OX được
cấy trong lớp L4. Yêu cầu đặt ra với lớp L2 là cung cấp nước đủ
và liên tục cho đất và mức tiêu thụ của cây trồng thử nghiệm (cúc
Vạn thọ lùn).
14

Về bản chất có nhiều loại vải có đặc tính hút và nhả nước
tốt. Để tìm được loại vật liệu dệt thích hợp cho lớp L2, tiến hành
đánh giá tiêu chí trữ và cấp nước một số loại vải điển hình.
 Vải không dệt xuyên kim
Vải không dệt xuyên kim là vật liệu được chọn làm lớp L2
trên mẫu thảm tưới của Đức, vì vậy nó cũng là đối tượng được thử
nghiệm để lựa chọn cho lớp L2 của mẫu do luận án thiết kế, tuy
nhiên sẽ là các loại vải không dệt do Việt Nam sản xuất.
Ảnh hưởng của khối lượng thể tích đến độ trữ
nước của vải không dệt xuyên kim 100%PP
0.4
0.6
0.8
1.0
1.2
1.4
1.6
0.060 0.065 0.070 0.075 0.080 0.085 0.090 0.095 0.100 0.105 0.110 0.115
Khối lượng thể tích (g/cm
3

10 mẫu vải không dệt thí nghiệm mẫu vải không dệt KD
4
có độ trữ
và cấp nước lớn nhất. Có 6 mẫu (KD
2
÷ KD
7
) có thể cấp đủ nước
cho 1 chậu cây thử nghiệm dùng trong vòng 1 giờ, do độ cấp nước
của nó > 4,2 ml/giờ. Trong đó mẫu KD
4
có khả năng cấp nước cao
nhất, đạt 9,473 ml/giờ.
 Vải dệt kim interlock
Vải dệt kim interlock là vải hai mặt phải, có cấu trúc xốp,
ổn định, không quăn mép, ít tụt vòng được lựa chọn làm vật liệu
thử nghiệm đối ứng với vải không dệt mẫu KD
4
. Nguyên liệu
được lựa chọn ở đây là sợi polyester, bền với môi trường ẩm ướt
và không ngấm nước và sẵn có trên thị trường.
Quan sát đồ thị trên hình 3.11 và hình 3.12 cho thấy,
trong 5 mẫu vải dệt kim thí nghiệm, thì mẫu vải DK
2
tương ứng
với mật độ dọc 115 (hàng vòng/10cm) có độ trữ và cấp nước lớn
15

nhất sẽ được lựa chọn để so sánh với phương án vải không dệt
KD

0.30
0.35
0.40
0.45
105 110 115 120 125 130 135
Mật độ dọc (hàng vòng/10cm)
Độ cấp nước (l/m
2
/giờ)

Hình 3.11 Quan hệ giữa độ trữ
nước và mật độ dọc của vải dệt
kim Interlock 100%PET.
Hình 3.12 Quan hệ giữa độ
cấp nước và mật độ dọc của
vải dệt kim Interlock
100%PET.
 So sánh vải dệt kim và vải không dệt
Bảng 3.8 Kết quả thí nghiệm xác định độ trữ, cấp nước của vải
dệt kim Interlock và vải không dệt

hiệu
mẫu
TN
Khối
lƣợng
1m
2

(g/m


85
0,902
0,402
4,544
0,473
KD
4

190
1,516
0,838
9,473
0,441
Số liệu trên bảng 3.8 cho thấy xét về yêu cầu cấp nước thì
cả 2 loại vật liệu này đều thỏa mãn. Nếu xét về hiệu quả cấp nước
của 1 lượng nguyên liệu khối lượng 1 gam, thì ở phương án vải
16

không dệt KD
4
là 0,441 ml/giờ/g, thấp hơn phương án DK
2

0,473 ml/giờ/g ( khoảng 14 %). Tuy nhiên xét về chi phí sản xuất
thì thông thường vải dệt kim đắt hơn vải không dệt khoảng 200%.
Do đó có thể thấy lựa chọn phương án vải không dệt sẽ đem lại
tính kinh tế cao hơn phương án vải dệt kim. Đến đây có thể thấy
vật liệu làm lớp chức năng L2 của thảm tưới được lựa chọn là vải
KD

).
 Lưu lượng nước của ống xơ
Thí nghiệm xác định lưu lượng nước của bơm của 3 mẫu
ống xơ có chiều cao mao dẫn lớn nhất là OX
1.7
, OX
2.8
, X
3.9
. Bề
dày của thảm tưới càng lớn thì khả năng chứa nước của thảm càng
tăng và chiều cao của ống xơ càng lớn. Trong 3 mẫu ống xơ kể
trên, chiều cao mao dẫn ứng với xơ stapen là nhỏ nhất (h
1
= 5,512
cm). Để có cơ sở so sánh các phương án, lựa chọn các ống xơ này
với cùng độ cao và không vượt quá 5 cm.
Đồ thị trên hình 3.14 cho thấy với nhu cầu nước của cây
thí nghiệm (cây hoa cúc Vạn thọ lùn) tại thời điểm cao nhất (4,2
ml/giờ hay 0,07g/phút) có thể thấy cả ba phương án ống xơ OX
đều có thể cấp nước nhanh và nhiều hơn yêu cầu ít nhất 3 lần.
Điều đó cho thấy, việc lựa chọn ống bơm dùng xơ stapen OX
1.7
17

hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu nước của cây thí nghiệm ngay cả
ở độ cao bơm là 5 cm.
Ảnh hưởng của mật độ xơ đến
chiều cao mao dẫn của các ống xơ
0

Hình 3.13
Quan hệ giữa chiều cao mao
dẫn nước và mật độ xơ của
các ống xơ.
Hình 3.14
Quan hệ giữa độ dẫn nước và
chiều cao ống xơ.

 Mật độ ống bơm nước trên thảm tưới
Kết quả thí nghiệm trong bảng 3.11 cho thấy để cấp đủ
lượng nước dữ trữ cho lớp L2 trong 1 phút (0,07g/phút), khi sử
dụng ống bơm OX
1.7
làm từ cúi xơ stapen PES thì trong 1m
2
thảm
tưới cần từ 465 đến 733 ống, trong 1 chậu cây đường kính đáy
12cm tương ứng với diện tích 0,0113m
2
cần từ 6 đến 9 ống.
Bảng 3.11 Mật độ ống bơm nước OX
1.7
với chiều cao ống xơ
khác nhau.
Chiều cao
ống bơm (cm)
Mật độ ống bơm
(ống xơ OX1.7/m
2
)

ống bơm làm giảm lưu lượng nước của ống bơm nên luận án chọn
hệ số an toàn là 1,5 để đảm bảo ống bơm cấp đủ nước trong quá
trình sử dụng thảm tưới. Do đó số lượng ống bơm lựa chọn cho 1
miếng thảm mẫu  120 mm là 24 ống.
3.3.1.4 Vật liệu cho phần tử cấu tạo lớp L4
Lớp L4(PT4), lớp dự trữ nước là phần tử mới được đưa
vào trong thảm tưới mẫu của luận án để nâng cao khả năng dự trữ
nước cho thảm, định vị ổn định ống bơm, nhẹ và mềm mại để
thảm dễ di chuyển, lắp đặt và bảo quản. Do đó vật liệu xốp PU
được lựa chọn (khối lượng thể tích 0,0162 g/cm
3
) trên đó có đục
lỗ trống chứa nước  10mm và lỗ để định vị ống bơm nước  6
mm như giới thiệu trên hình 3.15.
1: lớp L4 (phần tử 4);
2:lỗ trống chứa nước
đường kính 10 mm;
3: lỗ trống luồn phần tử 3
(ống bơm nước) đường
kính 6mm.
Hình 3.15 Cấu tạo lớp L4 trữ nước dự trữ.
3.3.1.5 Vật liệu cho phần tử cấu tạo lớp 3
Lớp L3 (PT5) là lớp đặt dưới cùng của thảm tưới. Ở
phương án thảm Đức sử dụng màng chống thấm PE. Vật liệu cho
lớp L3 cần vừa kín nước, chịu tải cao và vừa bền vững với đường
may. Ở đây lựa chọn vải tráng phủ PVC có bề dày 0,2mm mềm
mại, không thấm nước và chịu lực tốt. Đây là vật liệu tương đối

Diện
tích
(cm
2
)
Khối
lƣợng
(g)
Khối
lƣợng
(g/m
2
)
Khối
lƣợng
thể tích
(g/cm
3
)
KT1
12
1,5
113,04
30,786
2723,461
0,182
KT2
12
2,5
113,04

(hình 3.16); khả năng cấp nước (79÷ 358,3ml/mẫu) cho cây và đất
trồng cao gấp 4÷18 lần mẫu thảm của Đức (19,7ml/mẫu) (hình
3.17).
Lượng nước trữ tối đa của các mẫu thảm tưới
và mẫu thảm Đức
101.7
201.9
301.7
401.5
501.0
34.0
0
100
200
300
400
500
600
KT1 KT2 KT3 KT4 KT5 Mđ
Các mẫu thảm tưới
Lượng nước trữ tối đa(ml/mẫu)

Lượng nước cấp tối đa của các mẫu thảm tưới
và mẫu thảm tưới của đức
79.0
151.9
223.9
295.5
358.3
19.7

Hình 3.25
Quan hệ giữa
hiệu quả sử
dụng nước và
độ dày của
thảm tưới.
21

3.4 Khả năng thích ứng của thảm tƣới mẫu của luận án
3.4.1 Động thái độ ẩm của giá thể khi trồng cây thử nghiệm
Quan sát đồ thị hình 326 cho thấy thảm mỏng nhất theo
phương án KT1 (dày 1,5 cm) đã đáp ứng được lượng nước hơn 4
ngày, tức là dài gấp hơn 2 lần chu kỳ tưới nước ở phương án
không dùng thảm CT1. Nếu dùng các mẫu thảm tưới KT2, KT3,
KT4, KT5 thì chu kỳ tưới còn cao hơn nữa. Việc sử dụng thảm
tưới của luận án đã kéo dài được chu kỳ tưới, đã đáp ứng kịp thời,
đúng, đủ nhu cầu nước vào mọi thời điểm trong ngày và trong chu
kỳ sinh trưởng của cây, đặc biệt đã tạo ra được môi trường sống
ổn định hơn cho cây trồng.
Ảnh hưởng thảm tưới đến độ ẩm của giá thể khi trồng cây cúc Vạn thọ lùn sử
dụng thảm tưới và đối chứng không sử dụng thảm tưới theo thời gian
65
70
75
80
85
90
95
100
105


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status