chân bị mềm và ẩm dễ bị viêm da và chấn thương cơ học. Các yếu tố môi trường
và quản lý khác dẫn đến các dạng bệnh trên là: Sân ướt, lầy bùn, bãi cỏ chăn thả
không thoát nước, móng chân mọc dài, nhốt chật chội, dê mới nhập đàn bị bệnh, dê
vận chuyển từ xa về thải mầm bệnh vào đồng cỏ. Móng chân mọc dài nhanh là một
trong nguyên nhân chính gây bệnh, vì vậy phải thường xuyên kiểm tra và cắt móng
chân cho dê.
Điều kiện để lây lan bệnh là gia súc nhiễm bệnh và mẫn cảm với bệnh tiếp xúc với
nhau trên đồng cỏ trong môi trường ẩm và nóng.
Triệu chứng lâm sàng
Dê bị què rõ rệt khi thấy có hoại tử ở xung quanh móng. Lúc đầu dê chống 2 khuỷu
chân trước dể đi, sau đó thì không đi được nữa. Biểu bì giữa các móng chân bị
xưng lên. Lớp móng sừng bong ra khỏi ngón chân, mủ xuất hiện. Mùi thối do hoại
tử rất đặc trưng. Thể lực suy sút và khả năng sản xuất giảm.
Điều trị
Bệnh thối móng có tính truyền nhiễm rất cao, khi phát hiện ra một con bệnh thì
phải kiểm tra toàn bộ chân của đàn dê để điều trị.
Một số kỹ thuật điều trị cần quan tâm như cắt móng chân, sử dụng bể thuốc ngâm
chân và điều trị kháng sinh. Gọt bỏ những phần tổ chức bị chết, tìm các bọc mủ và
loại bỏ hết mủ đi, sau đó ngâm chân mắc bệnh vào bể thuốc sát trùng. Dao gọt
móng nên sát trùng bằng dung dịch formalin 10% để tránh sự lây lan bệnh. Các
vẩy cắt từ móng thối phải đem đốt.
Sử dụng dung dịch ngâm chân sát trùng phải đảm bảo không gây kích thích da
người và dê khi bước vào bể. Dung dịch Sun-phát kẽm 10% là nồng độ phù hợp và
có tác dụng tốt. Trong trường hợp nặng cần ngâm chân trong 1 giờ, lặp lại 3
lần/tuần. Sau khi ngâm xong nên để dê ở nền đất khô để cho móng khô.
Có thể dùng một số thuốc kháng khuẩn thay cho việc ngâm chân sau khi cắt gọt
móng. Các thuốc đó là: sulfat kẽm, sulfat đồng. Một số kháng sinh như
Tetracyclin, và Penicillin cần được rắc hoặc bôi trực tiếp vào phần móng viêm. Sau
khi rắc thuốc cần băng móng để chóng hồi phục.
Tiêm kháng sinh cũng có thể có tác dụng (1 liều tiêm penicillin 40.000 IU/kg, tiêm
bắp).
dụng Ecthymatocid (Hỗn hợp pha chế bởi 40 ml cồn Iốt 20% và 20 g bột tetran hoà
với 1 lít mật ong) để bôi vào vết loét 2-3 lần/ngày.
Bệnh lở mồm long móng
(Foot and Mouth Disease - FMD)
Nguyên nhân
Bệnh gây ra do một loại vi-rút có khả năng truyền nhiễm rất cao. Mầm bệnh có thể
tồn tại trong cơ thể và có nguy cơ xảy ra sau một năm hoặc lâu hơn nữa khi đã hết
triệu chứng lâm sàng. Bệnh lây lan theo đường thức ăn, nước uống và không khí
hoặc do vi-rút xâm nhập vào mắt, niêm mạc của cơ thể.
Triệu chứng lâm sàng
Khi mắc bệnh này, người ta thường phát hiện bằng một số triệu chứng như dê lờ
đờ, đi tập tễnh, kém ăn rồi bỏ ăn, sốt cao. Triệu chứng lâm sàng đặc trưng là xuất
hiện các mụn nước nhỏ ở trên lớp niêm mạc mồm, lưỡi. Các mụn đó khi vỡ ra để
lại các vết loét, tạo thành các lỗ nhỏ ăn sâu vào lớp tế bào dưới niêm mạc. Các mụn
này còn xuất hiện ở móng và trên bàn chân làm cho da vùng này trở nên tái xám.
Sau khi các mụn vỡ ra để lại các vết loét sâu, có thể gây long móng. Mụn cũng có
thể xuất hiện trên bầu vú, làm dê đau đớn, nếu đang nuôi con thì không cho con bú
nữa. Dê con mắc bệnh hay bị chết đột ngột, dê mẹ có chửa hay bị xảy thai.
Khi thấy dê có những biểu hiện lâm sàng như trên cần báo ngay cho cơ quan thú y
biết để kiểm tra và xử lý kịp thời.
Điều trị và phòng bệnh
Không có biện pháp nào điều trị được bệnh này khi dê đã mắc bệnh ở mức nặng.
Nếu dê mới bị nhiễm ở mức nhẹ thì nhốt cách ly và dùng cồn iốt 10% bôi cục bộ
liên tục 2-3 lần/ngày và tiêu độc bằng thuốc sát trùng mạnh như formalin có thể
cứu vãn được tình thế.
Trong khi nước ta chưa sản xuất được vắc xin, tốt nhất nên sử dụng vắc xin đa giá
nhập từ nước ngoài để tiêm phòng cho dê, nhất là ở những vùng đã có tiền sử mắc
bệnh này.
B. Những bệnh gây nên do ký sinh trùng
Bệnh giun tròn
làm bẩn lông da đuôi và khu vực xung quanh đuôi. Sau một thời gian thì thủy
thũng biểu hiện rõ. Trường hợp mãn tính thì thấy lông xù, da khô, và nứt da.
Thông thường không xuất hiện thiếu máu.
Nhóm triệu chứng thứ hai: do một số loài giun gây bệnh nhẹ (Oesophagostomum
columbianum) có thể gây nên triệu chứng lâm sàng đau bụng như cong lưng,
không muốn hoạt động, có thể là hậu quả của viêm phúc mạc. Dê có thể sốt. Dê ỉa
chảy phân nhão lẫn chất nhầy ở dê con và có lẫn máu ở dê lớn hơn. Dê giảm thể
lực ngày càng rõ rệt.
Nhóm triệu chứng thứ ba: do giun tròn hút máu (Haemon- chus contortus) hay
nhiễm ở dê, gây nên hiện tượng thiếu máu rất rõ rệt. Khi nhiễm nặng bệnh xuất
hiện với triệu chứng xuất huyết dạ dày. Các dạng cấp tính và mãn tính rất phổ biến.
Các niêm mạc và kết mạc bị nhợt nhạt, nhịp thở và nhịp tim tăng lên. Hay xuất
hiện thủy thũng ở dưới hàm. Dê ốm yếu, ít hoạt động. Trong nhiều trường hợp
giun xoăn không kết hợp, phân bị táo bón nhiều hơn là ỉa chảy. Bệnh kéo dài dê bị
sút cân cũng rất phổ biến.
Điều trị và phòng bệnh
Một số loại thuốc và liều dùng có hiệu lực với giun tròn là: Tetramisole (15 mg/kg
thể trọng) hoặc levamisole (7,5 mg/kg thể trọng), mebendasole (15-20 mg/kg thể
trọng), albendazole (10 mg/kg thể trọng).
ở vùng nhiệt đới, với điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao, kết hợp với việc chăn thả dê
tạo điều kiện cho ấu trùng tồn tại và phát triển ở môi trường. Như vậy việc sử dụng
thuốc tẩy giun định kỳ thường xuyên là phương pháp có hiệu quả để hạn chế mức
độ nhiễm giun và hạn chế tối thiểu tác hại cho dê về bệnh ký sinh trùng.
Bệnh sán dây
Nguyên nhân và bệnh lý
Moniezia expansa và Moniezia benedeni là hai loài sán dây đường ruột chủ yếu
của dê, rất phổ biến ở Việt Nam. Sán dây trưởng thành phát triển ở trong ruột dê có
thể dài vài mét. Sán bao gồm các phần đầu, cổ ngắn và thân đốt dài có các đốt sán.
Các đốt sán phía sau chứa đầy trứng và được thải ra theo phân. Những túi trứng
màu trắng, dài 1 - 1,5 cm. Ve, bét ở đất, ở cỏ cây ăn phải trứng sán. Trứng sán phát