võ thuật trung hoa trường quyền quyển 1 - hà sơn, 270 trang - Pdf 19


WWW.MAISONLAM.COM
GIÁO TRÌNH HUẤN LUYỆN
MÔN

Tổ. Môn này còn gọi là “Thái tổ môn”, lưu hành từ đời Minh (1368 – 1660). Như vậy nguồn
gốc của môn này rất xưa. Thái Tổ lại có Lục bộ quyền, Hầu quyền, Hóa quyền, tên của các
thế tuy khác nhau nhưng thực ra cũng đại đồng tiểu dò. Người đời sau còn nói rằng Tống Thái
Tổ có truyền lại một môn nữa là Hồng quyền. Quyền sư Lương Vónh Thần thuộc phái Thái Tổ
lại nói: “Chủ yếu của phái Thái Tổ môn là quyền pháp gồm các loại: Trường quyền, Đường
lang triển xí, Lạc trụ, Phản xa, Để công”. Gần đây có Lương Đức Khôi, người Nhật Chiếu, tỉnh
Sơn Đông rất nổi tiếng về Trường quyền.

Thời xưa còn từng gọi Thái Cực quyền là Trường quyền. “Bản sao sách Thái cực quyền
luận” có chép : “Sở dó gọi là Trường quyền bởi quyền pháp như Trường Giang, Đại Hà, thao
thao bất tuyệt”. Trong chương thứ 5 sách “Thái Cực quyền thế độ giải” của Hứa Vũ Sinh có
chép : “Đời Đường, Hứa Tuyên Bình còn truyền lại môn Thái Cực quyền thuật còn gọi là tam
thất thế, bởi vì chỉ có 37 thế mà nổi tiếng. Phương pháp dạy từng thế một để cho người học tập
thuần thục rồi mới chỉ thêm một thế khác, không xác đònh quyền lộ. Sau khi thành công, các
thế tự hỗ tương liên quán, tương kế bất đoạn (nối nhau không dứt). Vì vậy còn gọi là Trường
quyền”. Cũng sách ấy chép : “Họ Du có truyền môn Thái Cực quyền, còn gọi là Tiên Thiên
quyền, hay Trường quyền”. Đó là một lối giải thích về 2 chữ Trường quyền.
Môn Trường quyền mới chế tác hiện nay là một loại quyền phát triển sau khi thành lập nước
Cộng hòa nhân dân Trung hoa tạo nên (năm 1949), có ảnh hưởng khá lớn trong phong trào võ
thuật, có cơ sở rộng rãi trong quần chúng, từ đó, nó đã được xếp vào làm một hạng mục trọng
điểm trong thi đấu võ thuật. Môn Trường quyền hiện đại đã hấp thu được sở trường của các loại
Tra, Hoa, Pháo, Hồng quyền, tạo nên quy cách hóa các động tác thủ hình, thủ pháp, bộ hình, bộ
pháp, khí pháp, thăng bằng, nhẩy nhót của loại Trường quyền, biên soạn theo phương pháp vận
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (1 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
động của Trường quyền.
Các môn Thái Tổ, Nhò Lang, Mê Tung, Bát Cực, Phiên Tử, Tra quyền, Hồng quyền rất nổi tiếng
trong loại Trường quyền. Những môn ấy đại đồng tiểu dò và được xem là những bài luyện truyền
thống (Tuy nhiên trong những năm gần đây, những bài luyện này ít nhiều cũng đã bò sửa đổi).

quyền được yêu thích là do nó có thể dùng làm bài tập cơ bản của võ thuật. Bởi vì, việc học võ
đòi hỏi phải có sự mềm dẻo và linh họat của thân, tính nhẫn nại cao độ. Ngoài ra, người mới học
cũng cần luyện loại võ lực cơ bản như đá, …; Trong khi đó, động tác của Trường quyền vươn
duỗi, phạm vi hoạt động của các khớp lớn, yêu cầu đối với tính dẻo dai, tính đàn hồi của cơ bắp
và dây chằng đều khá cao. Đồng thời, do đại đa số động tác của Trường quyền là dùng nhóm cơ
lớn để tiến hành hoạt động, yêu cầu lớn về lượng hoạt động và tốc độ của cơ bắp với nhu cầu về
dưỡng khí khá lớn, do đó cũng có tác dụng tốt đối với việc nâng cao công năng của tim, phổi.
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (2 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
Thông qua luyện tập võ thuật thường xuyên, có hệ thống, có thể làm cho cơ thể khỏe mạnh,
tăng cường thể chất, phát triển sức lực, các tố chất cơ thể như tốc độ, sự dẻo dai, khéo léo và sức
bền; bồi dưỡng các phẩm chất tốt đẹp như tính kiên cường, dũng cảm, chòu đựng khó khăn gian
khổ. Vì vậy khi mới bắt đầu học thì học kỹ thuật Trường quyền là thích hợp nhất. Nếu dùng
Trường quyền làm bài luyện cơ bản, không những sẽ nắm vững được các cơ bản của võ thuật,
mà sau khi đã rèn luyện cơ thể khỏe mạnh, muốn tiến thêm một bước để đạt được một công phu
độc đáo cho riêng mình thì khả năng thành công cũng sẽ rất lớn.
2. Đặc điểm của Trường quyền :
Đặc điểm của Trường quyền là tư thế giang triển đánh rộng, thoáng, xa, thoải mái, mạnh mẽ,
động tác linh họat nhanh nhẹn, vuông vức ngay ngắn, ra đòn dài. Sử dụng cước pháp (đòn đá) và
các động tác nhảy vọt rất nhiều, bật cao, nhẩy xa, cứng và mềm cùng kết hợp. Thủ pháp (đòn
tay) chú trọng cương nhu phối hợp, nhanh và chậm xen nhau, tiến nhanh, lùi gấp, tốc độ ổn đònh,
tiết tấu quyền pháp rõ ràng đâu ra đó.
Trường quyền là một loại quyền thuật có động tác bài quyền và số đường đi khá nhiều, lấy động
tác đánh xa làm chủ. Thông thường khi tay đánh ra hoặc chân đá ra dùng cách phóng dài đánh
xa làm đặc trưng, thường phối hợp việc vặn eo duỗi xuôi vai để tăng dài điểm đánh tới, tìm đến
hiệu quả kỹ thuật “dài một tấc mạnh thêm một tấc”.
Về kỹ thuật của Trường quyền có 8 yêu cầu sau đây :
1) Tư thế : yêu cầu đầu ngay cổ thẳng, chìm thấp vai, vươn cao ngực, eo giữ thẳng, mông thu
lại, thượng chi vươn duỗi, cứng cỏi, hạ chi ổn đònh cân xứng.

giống như keo bám dính trên mặt đất, “không nhấc chân, không nhón gót”.
6) Nhãn pháp : Mắt cần sắc sảo, phải “mắt sáng như điện”, cần sáng sủa, sắc sảo. Nhãn pháp
trong động tác của môn Trường quyền không hoạt động đơn độc, mà cần đầu chuyển động theo
thân, thực hiện “tay – mắt theo nhau”, “tay đến mắt đến”, “tay tới đâu, mắt cũng tới đó”, chiêu
thức từ ý nghó chuyển ra ánh mắt, dồn ánh mắt nhìn theo thế đánh. Thông qua cái thần của mắt
mà diễn đạt ra được đầy đủ ý thức nội tại của mỗi chiêu mỗi thức.
7) Tinh thần : cần tập trung toàn bộ tinh thần, biểu hiện nên chí khí dũng cảm, nhanh khéo,
không hề lo sợ. Lúc đi quyền phải tập trung tư tưởng, thể hiện vẻ mạnh mẽ, linh mẫn, không sợ
hãi gì cả. Tinh thần cần sung túc, đầy đủ, dồn vào trong sự động hay tónh lúc vận động.
8) Kình lực : lực cần thông suốt. Nếu vận kình phát lực không thông thuận, cũng sẽ
làm cho vận động bò cứng đơ cứng ngắc. Trường quyền tối kỵ “kình lực cứng ngắc”, nhấn mạnh
“lực càn thông suốt”. Cần có cương có nhu (cứng và mềm), khi phát kình phải có sức bột phát,
cần cứng mà không ngay đơ, mềm mà không lỏng lẻo, cương nhu giúp nhau, lại còn cần dùng ý
thức để chi phối động tác phát lực, đem hơi thở phối hợp khi phát lực, đạt đến sự hợp nhất giữa
trong và ngoài. Ra đòn phát lực phải có sức công phá, tuy cương mà không ngay đơ, nhu mà
không mềm rũ, lại còn lấy ý thức chi phối việc phát lực, trong ngoài hợp nhất.
9) Kỹ thuật : công phu cần thuần thục. “Công” ở đây là chỉ cho các tố chất của cơ thể như sức
lực, tốc độ, sức bền và các kỹ xảo vận động. Sở dó gọi là “thuần” là yêu cầu đề ra đối với chất
lượng kỹ thuật của Trường quyền. Muốn làm cho chất lượng kỹ thuật đạt đến mức thuần thục,
một điều kiện trọng yếu chính là tăng cường rèn luyện và thực tiễn dưới tiền đề của tiêu chuẩn
kỹ thuật.
10) Hơi thở : khí cần hạ chìm, “khí trầm Đan điền”, ấy là bởi quan hệ có tính lâu dài của hơi thở
trong Trường quyền, cũng quan hệ tới sự thúc đẩy kình lực, tức chỗ gọi là dùng khí thúc đẩy lực.
Phương pháp hô hấp của Trường quyền ngoài “trầm” ra, còn có 3 phép là “đề”, “thác”, “tụ”,
hợp thành 4 cách là : “đề”, “thác”, “tụ”, “trầm”. Nói chung, trong tình huống khi từ động tác ở
dưới thấp tiến vào động tác trên cao, lúc vọt nhẩy thì dùng “phép đề khí” (nâng khí lên); khi
xuất hiện động tác có tính tónh lặng từ dạng cao thành dạng thấp thì cần dùng “phép thác
khí” (bưng, đẩy khí); lúc xuất hiện động tác có tính mạnh mẽ, dứt khoát, ngắn gọn thì cần dùng
“phép tụ khí”; ở động tác từ trên cao đổ xuống thấp thì lại dùng “phép trầm khí”. Hô hấp phải
điều hòa, lúc nhảy lên phải “đề khí”, lúc dừng phải “thác khí”, động tác cứng mạnh phải “tụ

đó mà gọi môn này là “Xoa quyền”. Cũng có người cho rằng nên gọi là “Tra quyền”, bởi môn
võ này dùng nhiều phép “tra”, chú trọng xuất thủ tức là “tra” (xòe ngón tay ra, bóp, nặn, nhúm
lấy), trong khẩu quyết đánh thương của môn này có câu “nhất tra nhò nã (bắt) tam trát (đâm)”.
Gọi Tra quyền, có thể là lấy tên một người họ Tra sáng tạo ra môn này. Hiện nay thống nhất gọi
nó là Tra quyền. Môn này thònh hành ở các miền Thượng Hải, Sing Piang, Kansu (Quảng tây),
miền tây và nam Trung hoa, ở các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc, nhất là trong lớp người Hồi
và được họ vô cùng yêu thích, gọi nó là “Giáo môn quyền”. Các bài bản binh khí cũng được
tăng thêm. Do truyền ở các khu vực khác nhau nên chia ra các môn Tra quyền của họ Trương,
họ Lý, họ Mã, họ Sa.
Nguồn gốc của nó không biết được sáng lập từ đời
nào, có 2 cách nói:
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (6 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
− Một là vào thời Đường (hoặc nói cuối đời Minh hay cuối đời Thanh gì đó), có người dân Hồi
giáo ở Tây Vực là Tra Mật Nhó từ phía đông đến truyền môn võ này ở một dải huyện Lỗ Tây
Quan. Người đời sau lấy họ của người này để đặt tên cho môn võ; Theo những võ sư của môn
này thì Tra quyền cùng một nguồn gốc với 10 lộ Đàn thoái, cả 2 đều được truyền từ Tây Vực.
Phát sinh ở Quan Huyện, tỉnh Sơn Đông, do Tra Mật Nhó truyền lại cho nên mới có tên như vậy.
Tương truyền, vào giữa đời Minh, có người thanh niên là Tra Mật Nhó sống ở Tây vực, vâng theo
lời của hoành đế tới phương Đông, xuống phương Nam để đánh dẹp giặc lùn Nhật Bản, trên
đường đi qua làng Trương Doãn ở Quan Huyện (còn có tên là thôn Nhất Lý) thì mắc phải bệnh
nặng phải ở tạm trong nhà người Hồi, được sự tận tình chữa trò và chăm sóc mà hết bệnh khỏe
mạnh trở lại. Hết lòng cảm kích, người này bèn truyền lại cho họ một bài quyền để biểu thò sự
cảm tạ. Để kỷ niệm sự việc này, người dân Hồi ở trong vùng bèn đặt tên cho môn võ ấy là Tra
quyền. Sa Đàm Phúc ở Quan Huyện là người truyền thụ môn Tra quyền sớm nhất. Sa Lượng,
con trai của ông là tiến só võ năm Ung Chính đời Thanh, đã từng đem quân tới trấn giữ ở Tây an.
Sau ông, môn Tra quyền ngày càng khuếch đại, truyền nhân chủ yếu có Lý Lão Sùng, Thái
Trường Thanh, Hoàng Bích Tân, Trương Kim Đường, Trương Kiền, Trương Kỳ Duy. Đến cuối
đời Thanh, đầu đời Dân quốc lại xuất hiện các hào kiệt võ lâm như Dương Hồng Tu, Trương

thoái, tứ lộ Thăng (Khai) bình, Ngũ lộ Quan đông, lục lộ Mai phục, thất lộ Mai hoa, bát lộ Liên
hoàn, cửu lộ Long bãi vó, thập lộ Xuyến quyền. Ngoài ra còn có tam lộ Họat quyền, tam lộ Pháo
quyền, Tứ lộ Hồng quyền và lưỡng lộ Thoái quyền.
Tra quyền coi trọng Đàn thoái, Thập lộ đàn thoái cùng với Pháo quyền, Hoạt quyền, Hồng
quyền, Thoái quyền là công phu cơ bản. Trong bài bản quy đònh môn Trường quyền đã từng hấp
thu nội dung bộ phận Tra quyền. Môn này cũng được thu nhập vào trong hệ thống tài liệu thông
dụng của học viện thể dục toàn quốc.
Khí giới có nhiều loại dài ngắn đơn song khác nhau : Tra đao, Xuân thu đại đao, Tra thương,
Song đầu kỳ thương, Tra câu, Tra kiếm, Long hình kiếm, Côn ngô kiếm, Ngũ lang côn.
Trong hệ thống Tra quyền, các kiểu động tác cơ bản của bài bản quyền thuật và kỹ thuật diễn
luyện phần lớn giống với các môn Trường quyền khác. Phong cách diễn luyện và kỹ thuật có
đầy phong thái và sức thu hút đặc biệt.
Hệ thống kết cấu động tái cơ bản và phương pháp kỹ thuật chiến đấu của Tra quyền có: bộ hình,
bộ pháp, thủ hình, thủ pháp, thoái pháp, giữ thăng bằng, nhẩy nhót, xoay chuyển, đánh, chọc,
bổ, chặt.
Thủ pháp có: phách (bổ), cách (đỡ), thôi (đẩy), xuyên (luồn), trừu (kéo), băng (bắn), kháo (tì),
triền (quấn), xung (phóng), cái(phủ), điêu (khuấy).
Thoái pháp (đòn chân) có: thích (đá), đàn (búng), điểm, đăng (đạp), tảo (quét), sản (sắn), sủy
(đạp ngang), câu (móc), đề (nhấc), lan (chặn), chàng(thúc). Nhiều động tác chạy luồn, băng
mình, vọt nhẩy, lạng lách tránh dạt, di dời bốc lên, tư thế duỗi dài, động tác gọn gàng, chuyển
động cấp tốc, tónh lặng yên ổn, tiết tấu rõ ràng, lực phát ra thông đạt, cứng và mềm giúp nhau,
nhòp nhàng, hoàn chỉnh, bố cục rộng thoáng, tuyến đường vận động đầy biến hóa.
Trong thực tế chiến đấu có mười chữ khẩu quyết là: súc (rút lại), tiểu (nhỏ), miên (liên tục),
nhuyễn (mềm dẻo), xảo (khéo léo), thác (tránh, né), tốc (mau), ngạnh (cứng), thúy (dứt khoát),
hoạt (linh hoạt).
Môn Tra quyền chú trọng lối đập, bung, gẩy, đánh, tránh dạt mở khép, động tác linh hoạt, mau
lẹ vững chắc. Nó có lối đánh nhảy cao, đá lẹ thật nhanh nhẹn. Những thế căn bản là nhảy, đá,
xoay trở lẹ làng. Khi luyện cần đạt tới mức tâm ổn, mắt sáng rõ, tinh thần và hình thái hòa hợp
làm một. Tâm ý hòa hợp với mắt nên thường sáng tỏ. Tâm ý hòa hợp với đôi tay nên thường linh
hoạt, tâm ý hợp với cánh tay nên thường có lực, tâm hợp với thân nên thường ở chỗ tinh. Nắm

thường hoặc khi đang tiến hành các phương
pháp kỹ thuật phóng tới, đạp, đá, lại có thể đột nhiên lặng dừng mà ổn đònh.
3.
Phát lực thông thuận, tiết tấu rõ ràng, trình tự của việc phát lực trong môn Tra quyền là
vùng thượng chi, bắt đầu ở eo, truyền đến vai, cùi chỏ, đạt tới tay; hạ chi thì khởi từ hông,
truyền đến đầu gối, đạt tới bàn chân. Cùng lúc với sự hoàn thành quá trình phát lực này, còn
cần đạt được sự rõ ràng về tiết tấu, tức là trong toàn bộ quá trình diễn luyện bài bản, yêu cầu
có sự tương trợ lẫn nhau giữa cứng và mềm, nhanh và chậm xen nhau, đi liền một mạch, tự
nhiên thông thuận.
4.
Nhòp nhàng hoàn chỉnh. Bên trong và ngoài cơ thể cần nhòp nhàng hoàn chỉnh, cần phải có
sự tương ứng trên dưới, liền lạc trước sau đối với thủ pháp, thân pháp, bộ pháp trong động tác.
Có một số động tác khá phức tạp như các kỹ thuật động tác chuyển thân, vỗ chân, vọt nhẩy,
trồi sụp, chuyển vặn cần phải có năng lực giữ thăng bằng khá tốt, đồng thời thần của mắt, ý
thức hơi thở cần phải phối hợp mật thiết với động tác để đạt tới mắt nhìn tới là tay đi tới, tinh
thần và hình thể hợp lại làm một. Cách luyện theo kiểu phối hợp bên trong với bên ngoài này
giúp tăng cường tác dụng điều tiết của đại não, làm cho sự hô hấp và cơ quan nội tạng được
được rèn luyện.
Sau khi nước cộng hòa nhân dân Trung hoa thành lập, Tra quyền được xếp vào tiết mục biểu
diễn và thi đấu của võ thuật toàn quốc. Trương Văn Quảng, một danh gia truyền thụ môn Tra
quyền ở Học viện thể dục Bắc kinh đã biên soạn xuất bản nhiều bộ sách nói về môn Tra quyền,
thúc đẩy cho môn này được phổ cập và phát triển.
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (9 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
Đặc điểm kỹ thuật của Tra quyền, quy nạp có 3 điều như sau:
Tra quyền có 3 đặc điểm:
1)
Tiết tấu rõ ràng, chuyển động mau, đứng dừng lặng yên.
2)

“chợt động chợt tónh, thế thường không cố đònh ; thấy thời cơ không để mất, gặp thời thì chẳng
nghi”; “trong chuyển động có ý phòng thủ, khi thất bại thì chẳng lo âu ; trong phòng thủ có ý
vận động, khi thắng lợi thì có cơ hội”; “muốn tiến thì lui về trước, đòch sẽ chẳng đề phòng ;
muốn lui thì trước phải tiến, sẽ chẳng bò đòch bức bách” ; “đòch tiến tới muốn chuyển động (tấn
công), mau mà đánh nó; đòch lui muốn phòng thủ, dồn ép để đánh nó; dẫn đòch lệch nghiêng ra
ngoài rồi đánh thẳng vào họ; dụ đòch xông thẳng vào rồi triệt (chặn) để đánh họ” ; “kiêu thì
không phòng bò, khiếp sợ thì không dũng cảm; giỏi thì chẳng tiêu vong, chắc thắng mới làm”,
nghe nói chính là do hai người này truyền lại từ thời ấy.
Đến năm Gia Tónh đời Minh (1522 – 1565), Thái Vãn, người ở Tế Ninh, đã viết ra cuốn “Hoa
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (10 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
quyền bí phổ”, dần dần đã làm cho Hoa quyền trở nên hoàn chỉnh. Trong cuốn “bí phổ” của
ông, đã cho tinh, khí, thần gọi là “tam hoa”, còn nói : “Tam hoa quán nhất (quán đỉnh – hợp làm
một trên đỉnh đầu), đạo thủy thành dã (bắt đầu thành đạo)”, “Hoa quyền giả, tam hoa quán nhất
chi vò dã (Tam hoa dồn vào một chỗ ấy là Hoa quyền)”. Như vậy có thể thấy, sở dó gọi môn này
là “Hoa quyền”, ấy là do nó lấy triết lý “tam hoa quán đỉnh” của cổ đại dùng làm chỉ đạo lý
luận cho quyền pháp, “thần dựa vào hình hài, do tâm mà phát, tiến tới mà làm thành công”.
Cách nói này chính xác hơn so với cách nói của tên gọi lấy theo núi Hoa sơn. Sự xuất hiện
của“Hoa quyền bí phổ” ở đời Minh, đã đặt cơ sở cho sự phát triển lý luận cho môn Hoa quyền,
làm cho nó trở nên hoàn chỉnh. Tên của nó lấy từ chữ “tam hoa quán”. Sách “Hoa quyền phổ”
viết: “gọi là Hoa, là lấy ý từ hấp thu “tam hoa” là tinh, khí, thần vậy”.
Có người nói, Thái Vãn là dòng nhánh con cháu của họ Thái ở núi Hoa sơn, cuối đời thường
ngao du bốn phương để lánh đời, không biết mất ở đâu. Do không có con cháu thừa tự, nên dòng
họ Thái ở Hoa sơn của vùng Tế Ninh đến đây dần dần bò mất. Do tập thể dân ở thôn Thái Hành,
huyện Hưng Phúc, ở Tế Ninh có cùng họ giống với họ Thái ở Hoa sơn, nên được truyền thụ cho
môn quyền pháp này, làm cho Hoa quyền lưu truyền ở Thái Hành, rồi truyền bá rộng ra ngoài.
Người kế thừa toàn diện kỹ thuật môn Hoa quyền thời cận đại là Thái Quế Cần, tức là khoảng
năm Quang tự đời Thanh (1893 – 1908), năm cuối triều đại Thanh, Thái Quế Cần đã truyền bá
Hoa quyền ra khắp nơi, tuy ông cũng mang họ Thái, nhưng khác với dòng họ Thái ở vùng Hoa

Hoa quyền dòng họ Thái ở Hoa sơn với tiếng tăm vang dội một thời là “Tề Lỗ đại hiệp”. Trải
qua khảo nghiệm “đêm tuyết phải chòu đày ải ba lần”, ông đã trở thành đệ tử dưới cửa họ Đinh.
Trong khoảng 3 năm, ông đã học được hết sở truyền tinh túy Hoa quyền của họ Đinh, rồi lần hồi
một mình tạo được chỗ đứng trong giới võ thuật, trở thành bậc thầy lớn trong nghề võ, người
truyền bá quyền pháp Hoa quyền thời cận đại từ cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc cho đến
nay. Cuối đời, ông đònh cư ở Thượng Hải, đã từng nhận lời dậy ở hội Tinh võ, làm cho Hoa
quyền được lưu truyền xuống phương Nam. Hiện nay môn này lưu truyền chủ yếu ở Sơn Đông,
Thựơng Hải, Giang Tô, Triết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam, Hà Nam, Quảng Đông, Hồng Kông. Tại
Nhật bản, Singapo cũng lưu truyền môn này.
Cùng thời với Thái Quế Cần, nhân vật đại biểu làm cho Hoa quyền được tiến một bước trong sự
phát triển và truyền bá, còn có Đổng Bảo Thái, Lưu Vónh Thụy, Hầu Ân Tứ và Tu Đại Hoà
Thượng (tên tục là Lý Thụy Vân). Hoa quyền của Đổng Bảo Thái, chủ về tư thế, coi trọng sự
đoan trang, chú ý đến “đơn bãi phù các” (đơn : một, đơn lẻ; bãi : lắc, vẫy, xua, khua; phù : hiện
lên, bơi, vượt quá; các : tránh được). Hoa quyền của Lưu Vónh Thụy coi trọng kình lực, nhấn
mạnh đến “lực cương (cứng) khí thô”; Hoa quyền của Hầu Ân Tứ yêu cầu “khinh linh tế
xảo” (nhẹ nhàng khéo léo), tiến lui rõ ràng; Còn của Như Tu Đại Hòa Thượng thì lại lấy Thiền
công của họ Thích kết hợp làm một với quyền pháp của Hoa quyền, sáng chế theo một cách
riêng biệt, biến thể phát triển thành “La Hán quyền”, cách luyện của nó là “lấy khí làm chủ, lấy
hình làm phụ”, gọi là “Thiếu lâm tâm pháp”. Tất cả các môn này đều là trên cơ sở kế thừa của
Hoa quyền đã có sự phát triển đổi mới thêm.
2) Kỹ thuật cơ bản của Hoa quyền :
Hình thức múa tập luyện của môn Hoa quyền có khá nhiều bài bản, nội dung có: đánh tay
không, khí giới (đao, thương, kiếm, côn), đơn luyện, đối luyện. Bài bản quyền thuật có 3 cấp là
sơ, trung và cao cấp, với 18 bài sơ, trung cấp quyền thuật và12 bài cao cấp (tức các đường quyền
từ 1 ~ 12). Đây là những bài có tính đại biểu cho môn phái, đa số lấy nội dung từ các động tác
chiến đấu và thế thức tấn công phòng thủ như : đá, đánh, quật, bắt, sắp xếp theo quy luật vận
động tiến công phòng thủ cất lên phục xuống, quặt chuyển, tiến lên lùi xuống, chuyển động hay
tónh lặng, lúc nhanh lúc chậm, khi cứng hay mềm, lúc giả và thật, khi trầm bổng ngừng ngắt để
tạo thành. Đặc điểm chủ yếu của những bài này là : vừa có thể tập múa một người, lại có thể đối
luyện hai người với nhau, qua đó nắm bắt và lý giải được ý nghóa kỹ thuật chiến đấu của mỗi

thể”, “ngũ cốt”, “ngũ cân”, cho rằng mỗi động tác và thế thức của đường quyền đều do 5 mạch
tuyến này tạo thành. Nếu kết cấu tổ hợp của 5 mạch tuyến không cân xứng, không ngay ngắn,
sẽ không thể coi là đã đầy đủ hình thể của quyền pháp. Trong “Hoa quyền bí phổ” có nói: “Ngũ
thể cân xứng mới có thể gọi là hoàn bò về hình”. Nhân đó mới chủ trương “hình ấy phải vuông
đúng như ê ke, tròn đúng như vẽ com pa, thi triển từ trong sự cân bằng, thu gom ôm lấy nhau,
ngó nhìn qua trái và phải, tám mặt hướng về một tâm”. Mỗi động tác, tư thế đều chú ý đến
không gian trước sau trái phải, trên dưới cao thấp, làm cho không bò thiên lệch, ngay ngắn yên
ổn, tư thế chính xác chiêu thức tròn tròa, hình thể ngay ngắn. Thế thức yêu cầu ngay ngắn
cân xứng, nghiêm chỉnh.
‚ Gân cốt mạnh khỏe, cứng mạnh có lực : Hoa quyền cho rằng quyền pháp nếu chỉ làm cho ngũ
thể cân xứng, hình thể ngay ngắn, thì cũng chưa đủ, mà còn yêu cầu có “chất”. Chỉ có cách làm
cho “ngũ thể” tạo thành động tác quyền pháp và thế thức đầy đủ sức mạnh, làm cho gân cốt của
hình thể cứng mạnh có lực, thì mới coi là đạt đến yêu cầu về “chất”. “Hoa quyền bí phổ” nói :
“gân cốt mạnh mẽ mới có thể gọi là chất lượng tốt”. Bởi vậy, Hoa quyền mới gọi “ngũ thể” là
“ngũ cân”, “ngũ cốt”, “cốt pháp” được chú trọng rất nhiều, mỗi động tác và thế thức đều cần
“dồn lực vào trong chân tay”, làm cho tứ chi và thân mình thường ở dưới trạng thái có sức căng.
Như vậy, gân cốt của “ngũ thể” mới đầy đủ sức mạnh. “Hình thể cân xứng, kình lực mạnh mẽ”,
như vậy mới có được “hình chất hoàn thiện” trong quyền pháp. Động tác, thế thức chú ý vận
dụng “cốt pháp” (cách vận dụng gân cốt) là “xanh (chống), bạt (ưỡn), trương (dương), triển
(duỗi), câu (câu móc), khấu (ghìm giữ), kiều (cất lên), tướng (giúp nhau), băng (nhẩy vọt lên),
đỉnh (đẩy), tháp(sụp xuống), thu (thu về), trầm (chìm xuống). Cũng tức là “ngũ thể” (thân mình
và tứ chi) cần cốt có cốt cách cường tráng, mạnh mẽ chắc chắn.
ƒ Tâm động hình tuân theo : trong “Hoa quyền bí phổ” có nói : “Tâm điều khiển tính tình, là
chúa tể của toàn thân”. “ Cái tâm ấy lấy sự chắc thật để hoạt động thì chi tiết ắt có lực; cái tâm
ấy lấy lòng nghi ngờ để hoạt động, thì chi tiết ắt không theo ý”, “tâm chính rồi sau đó thân mới
chính”, “tâm chính ở bên trong, thì sau đó sự động tónh mới không bừa bãi”. Bất kể sự vận động
nào của hình thể cũng đều chòu sự chi phối của hoạt động tâm chí. Nếu chỉ có hình thể động tác
ở bên ngoài, mà không có hoạt động tâm chí ở bên trong, thì quyền pháp sẽ vẫn chưa đủ mức độ
cao về “chất”. “Tâm kiên cường thì tinh mạnh”, “nếu tâm không kiên cường thì hình hài không
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (13 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM

“khí quán (dồn vào) Đan điền”, thường xuyên chú ý “bình tâm tónh khí” (giữ tâm bình yên, khí
tónh lặng).
‡ Liên miên phụ thuộc nhau (Các thế thông liền nhau) : Hoa quyền coi trọng sự liền suốt một
mạch, không xuất hiện gián đoạn trong thế thức động tác của một đường quyền. “Hoa quyền bí
phổ” nói: “Các thế quyền pháp, phải liên hệ liên tục với nhau, lưu chuyển không ngừng”. Cho
rằng “khí thông mới sinh”, kỵ nhất là chữ “đoạn” (đứt). Nhưng nói là “liên tục”, cũng không
phải là không để cho giữa các thế có khoảng trống gián cách ngưng nghỉ, mà là chú trọng vào
việc cần phải đạt đến “hình đoạn ý vẫn đi liền”, “thế đoạn khí vẫn đi liền” trong thời gian nghỉ
giữa các thế, giỏi vận dụng hoạt động tâm chí ở bên trong, thông qua cái thần của con mắt (ánh
mắt) mà đem ý hướng của động tác trước và sau trở nên liên tiếp, làm cho thế quyền tiếp nối
nhau, liền lạc một mạch. Trong cách luyện, nhấn mạnh tới sự “liên miên tiếp nối theo nhau, khí
mạch không ngừng”. Nói rằng “liên” (liền), là giữa khoảng mỗi chiêu mỗi thế cần phải đạt tới
“hình đoạn ý liên, thế đoạn khí liên” (ngoại hình tuy bò đứt đoạn nhưng ý vẫn liền lạc, thế có bò
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (14 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
ngắt nhưng khí vẫn đi liền), vận dụng hoạt động tâm trí ở bên trong và cái thần của mắt để làm
cho ý hướng trước sau của động tác trở nên liên tiếp, các thế tiếp liền nhau, liền mạch thông
suốt.
ˆ Hai mặt tạo nên công dụng (Phân rõ âm dương): “Hoa quyền bí phổ” viết : “Một vật có hai
thể, ấy là khí vậy”. “Âm dương, cương nhu, thuận nghòch, hướng tới hay quay ngược trở lại, lẻ
và chẵn, . . . đều là hai cả, không phải là một vậy.” “Hai mặt để tạo nên công”, cho rằng
“không tạo lập hai mặt thì không thấy được một mặt, một mặt đã không thấy thì cái dụng của
hai mặt cũng chấm dứt”, có “hai mặt” đối lập và thống nhất của âm với dương, thì mới có sự
vận động, có biến hóa, mới sản sinh ra được công dụng. “Song trọng thì trệ” : nếu như hai phía
trong cùng một sự vật đều là âm hoặc đều là dương, dùng âm đối âm, dùng dương đối dương, đó
đều gọi là “song trọng”. Phạm phải song trọng “âm – âm” hoặc “dương – dương”, thì tất cả đều
sẽ bò ngưng trệ. Bởi vì “dương không thể đứng độc lập, có được âm thì sau đó mới thành; âm
không thể tự chuyên trách được, nhờ có dương rồi sau đó mới vận hành”. Nếu là âm – âm thì
đều là âm, dương – dương thì đều là dương, chúng chỉ có một khí, mà không có hai khí, “dương

quyết”, yêu cầu đạt đến “nhất lang, nhò độc, tam cấp, tứ trí, ngũ thuận, lục cơ, thất dật, bát
vô” (1 là hiểm, 2 là độc ác, 3 là cấp tốc, 4 là mưu trí, 5 là nương theo, 6 là thời cơ, 7 là an nhàn,
8 là không).
“Đắc thời”, là “thấy lợi không để mất vậy”. Lúc đánh lộn với nhau, khi đối phương có sơ hở, là
thời cơ có lợi cho ta, không nên hồ nghi do dự. Bởi vì “thời cơ khó được mà dễ mất”, do dự thì trì
hoãn, trì hoãn thì mất thời, mất thời thì không thắng. Ấy gọi là “sau lúc thất lợi, lại còn gặp tai
ương”. Bởi vậy, Hoa quyền nhấn mạnh việc “Lúc đắc thời không để chậm trễ, thời cơ không
quay trở lại”. Cho rằng mấu chốt của thắng bại là “đạt được do ở thời cơ, không ở sự tranh đấu”,
cần phải “thấy lợi không để mất, gặp thời chẳng nghi ngại”.
“Đắc cơ”, là “quan sát hướng chuyển động, thừa lúc họ chưa ổn đònh, đánh lúc họ vô ý”. Hoa
quyền cho rằng lúc đánh nhau chẳng gì “thần kỳ bằng việc đắc cơ”, cần khéo quan sát hướng
chuyển động của đối phương, thừa lúc họ muốn động mà chưa động hoặc chuyển động mà chưa
ổn đònh, để cấp tốc tấn công. Nhưng mà cái cơ hội này, trên không gian và thời gian là “lúc
trước sau không để xê xích một giây, khoảng xa gần không cho cách một phân, đi trước nó một
khắc thì vượt quá lớn, sau nó một khắc thì mất thời”, “không để chút chậm trễ”, phải cho vừa
khít thích hợp, mới gọi là “đắc cơ”. Người giỏi “đắc cơ” thì thắng, không giỏi “đắc cơ” thì thua.
“Đắc thế”, là “thuận theo cái thế ấy”. “Cái thế ấy, đều gọi là thuận mà không phải là nghòch”.
Khi đánh nhau, Hoa quyền chủ trương “dựa theo thế mà tìm ra lối đi có lợi”, không cản trở
ngược lại nhau. Bởi vì “trở ngược thì mất thế”, mất thế thì không thắng.
Có được “tứ đức” (4 đức) là khí, thời, cơ, thế này mới có thể nắm chắc được thắng lợi trong
chiến đấu.
Lý luận cơ bản của thuật chiến đấu trong môn Hoa quyền còn có thuyết “hư thực tương
sinh” (thật giả sinh ra nhau). Hoa quyền xem sự hữu hình của kỹ thuật chiến đấu là thực, vô hình
được coi là hư. “Hoa quyền bí phổ” nói : “Hữu hình là thực, vô hình là hư”. Khi đánh nhau, “hư
thì khó công, thực thì dễ phá”. Bởi vì “vô hình thì khó thấy tình hình của nó”, sự dối lừa động
tónh mạnh yếu khôn lường; hữu hình thì có thể phân biệt được tình hình của nó. Cho nên, chủ
trương “chiến đấu quý ở chỗ vô hình”, làm cho bản thân thường ở vào đòa vò ẩn giấu hình tích.
Chữ “hư” cũng có nghóa là sự giả dạng, để làm cho đối phương từ “vô hình” bộc lộ qua “hữu
hình”, ta cần phải “biểu hiện bằng cái hư, nghênh đón bằng cái thực”, cung cấp cho đối phương
nhiều hình tượng giả để dẫn dụ họ. Khi đối phương đã bộc lộ hình tích, thì lấy lực lượng thật sự

tính chiến đấu rõ ràng. Khi tập luyện yêu cầu mau lẹ có lực, mức độ trồi lên sụp xuống ngoặt
chuyển khá lớn. Phong cách kỹ thuật thì dũng mãnh uy nghiêm đi kèm với sự trầm tónh, tiến tới
mức độ “động như điện chớp, phát ra mau như gió mưa, một mình ra vào, không gì ngăn cản
nổi”. Trong kỹ thuật động tác, có hàm ẩn khá nhiều phương pháp kỹ thuật của Thập lộ đàn
thoái. Có thể nói kết cấu trong Tam lộ pháo quyền là lấy cơ sở kỹ thuật của thập lộ đàn thoái.
Mọi người chẳng khó khăn gì để nhìn ra quan hệ kế thừa gắn bó mật thiết giữa hai môn này.
Tuy nói Pháo quyền cũng có Thập lộ (10 đường), nhưng qua sửa đổi chỉnh lý chỉ có 3 bài là tam
lộ, lục lộ và cửu lộ được lưu truyền. Trong số đó, Tam lộ pháo quyền được lưu hành rộng rãi
nhất, ảnh hưởng lớn nhất và có tính đại biểu hơn cả. Người ta quen gọi nó đơn giản là “Tam lộ
pháo”. Nhìn chung, trong môn Pháo quyền được tryền dạy qua 30 đời các vò quyền sư nổi tiếng
trong người Hồi cho đến các vùng trên khắp lãnh thổ Trung hoa, đều lấy Tam lộ pháo làm chủ
yếu. Giống như trong 10 đường Tra quyền cũng có Ngũ lộ Tra quyền và Tứ lộ Tra quyền có ảnh
hưởng khá lớn vậy.
Động tác toàn bài Tam lộ pháo quyền chia ra 8 đoạn, cũng tức là đi về 8 lượt trong cả bài. Tổng
cộng có 70 động tác.
Kết cấu đường đi của bài là:

Đoạn thứ nhất: từ Thượng bộ dẫn thủ khiêu chưởng cho đến động tác thứ 8 là “Phiên thân
phách quyền Mã bộ bổng quyền” là đi xéo qua góc trái, bước tới hướng tây nam.

Đoạn thứ hai: bắt đầu từ động tác thứ 16 là “Tính bộ chấn đóa bổng chưởng” là bước tới góc
đông bắc.

Đoạn thứ ba: vẫn hướng về góc tây nam.

Đoạn thứ tư: bắt đầu từ động tác “Phiên thân phó bộ xuyên chưởng” là chạy
thẳng; sau khi đến động tác thứ 8 là “Yết bộ bão chưởng” là bật đá về hướng bắc.

Đoạn thứ năm: từ “Song thôi chưởng” là đi tới theo hình tam giác sau đó lại đi xéo về góc
tây nam.

súc tích hay phát ra đều đầy đủ kình lực cứng mạnh, có tính chiến đấu cao. Ngạn ngữ võ thuật
nói “Chùy đánh chữ thập, phóng qua trái phải, phía trước đánh vào sườn, đằng sau đánh vào
ngực”. Qua đó đã tỏ rõ đầy đủ đặc điểm kỹ thuật của môn Pháo quyền. Luyện Pháo quyền có 5
yêu cầu như sau :
1)
Khí chìm xuống cần tụ lại
2)
Lực ở gốc cần mạnh.
3)
Hổ khẩu và cổ tay cần ưỡn ra.
4)
Eo và mắt cần linh hoạt
5)
Tâm trí cần hoạt bát.
Pháo quyền vốn có 12 bài, hiện tại chỉ còn có 7 bài. Phương pháp cơ bản của Pháo chùy có Thập
nhò pháo tức: Khai môn pháo ; Phách sơn pháo ; Liên hoàn pháo ; Chuyển giác pháo ; Thập tự
pháo ; Não hậu pháo ; Tiết đỗ pháo ; Xung thiên pháo ; Liêu âm pháo ; Trát đòa pháo ; Oa tâm
pháo và Thất tinh pháo.
Khí giới diễn luyện thường dùng của Pháo quyền có : thương, kiếm, đao, côn.
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (18 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
Sau khi nước cộng hòa nhân dân Trung hoa thành lập, Pháo chùy được chọn là tiết mục biểu
diễn và thi đấu của võ thuật toàn quốc.
Đường thảo thứ 2 của Thái cực quyền Trần gia cũng được gọi là Pháo chùy, ngoài ra còn có môn
Pháo quyền, nhưng cả hai đều khác với môn Tam hoàng pháo chùy này.
5. ĐỊA CHI PHÁO QUYỀN :
Thuộc hệ thống Bát môn quyền. Môn võ này tương ứng với Thập nhò đòa chi là tý, sửu, dần,
mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Lối đánh quyền mãnh liệt, như pháo nổ sấm kêu,
cho nên có tên là Pháo quyền. Nghe nói môn này do một người tên là Thường Ba Ba sáng chế

lấy đòn dài làm chủ. Đòn chân có cao, có thấp. Lấy đòn đá thấp làm sở trường, lại mượn thêm
sơ hỗ trợ của Nội công, nên tính chiến đấu khá cao.
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (19 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
7. BÁT CỰC QUYỀN
Tên đầy đủ là “Khai môn bát cực quyền”, còn gọi là “Nhạc Sơn bát cực quyền”. Gọi là “Khai
môn”, là lấy ý dùng “Lục lộ khai pháp” (tức “lục đại khai” – 6 cách mở rộng) làm kỹ thuật hạch
tâm, phá tung cửa nẻo (tư thế phòng thủ) của đối phương. Gọi là “Bát cực”, là sử dụng theo câu
nói quen dùng đời cổ: “ngoài cửu châu có bát dần, ngoài bát dần có bát hoằng, ngoài bát hoằng
có bát cực”, ẩn ý “8 phương cực kỳ xa”. Gọi là “Nhạc Sơn”, nghe nói bát cực xuất phát từ chùa
Nhạc Sơn ở huyện Hà Nam, cho nên có tên là “Nhạc Sơn”.
Bát cực quyền do người nào sáng chế ra, thấy trong ghi chép để lại có hai cách nói: một thuyết
nói do đạo só họ Lại tên là Ngô Chung, người thôn Hậu Trang Khoa, huyện Kháng Vân, tỉnh Hà
Bắc sáng chế nên;
Một thuyết nói do Trương Nhạc Sơn, người huyện Hà Nam truyền cho Ngô Chung. Hai thuyết
này đều cần khảo chứng lại. Ngô Chung truyền nghề cho con gái là Ngô Vinh. Về sau nhà họ
Ngô di cư về trấn Mạnh Thôn, huyện Thương, tỉnh Hà Bắc. Từ đó Mạnh Thôn bèn trở thành
vùng đất truyền bá môn Bát cực quyền.
Đặc điểm kỹ thuật đánh của Bát cực quyền: tư thế nhỏ ngắn, sắc sảo, động tác mau mạnh, kình
lực cứng chắc; chuyển đổi các cách đổ xuống, xô ra, chèn ép, bất chợt lay động bắn đánh ra;
phát lực cứng giòn, dùng khí thúc lực, lấy âm thanh hỗ trợ thế đánh, làm cho người kinh sợ. Ra
đòn như tên bắn, sấn bước như xuyên vào đá, vọt lên mạnh, rơi xuống cứng, từng đoạn ngắn với
thế hiểm. Lúc diễn luyện, uy nghi như hổ, vững vàng ổn đònh như gấu, mạnh mẽ như chim ưng,
xoay chuyển như rắn.
Bài bản chủ yếu có: “Bát cực tiểu giá”, “Bát cực quyền” (còn gọi là “Bát cực đối tiếp”), “Lục
trửu đầu”, “Bát cực tân giá”, “Cương kình bát cực”, “Bát cực song quỹ”, “Bát trận quyền”. Binh
khí chủ yếu lấy :“Lục hợp đại thương”, “Đối trát lục hợp” làm chủ.
8. PHÊ QUẢI và BÁT CỰC
Hai môn này không biết có từ đời nào, do ai sáng tạo. Môn Phê quải rất linh hoạt, có khá nhiều

Bài bản chủ yếu của Phiên tử quyền có: “Trạm trang phiên”, “Tụ thủ phiên”, “Khinh thủ
phiên”, “Lỗ thủ phiên”, “Kiện trung phiên”. Ở dải Hà Bắc lưu truyền
“Lục thủ phiên”, “Yến thanh phiên”; vùng đất Tây bắc ở Cam Túc lưu truyền “Mã gia phiên”,
“Ưng trảo phiên”. Vùng đất Đông bắc lưu truyền “Long hình phiên”, “Ngư dược phiên”. Trong
môn Phiên tử, “Ưng trảo liên quyền” là cơ bản.
Khí giới có: “Bát bộ liên hoàn tiến thủ đao”, “Miên chiến đao”.
Đặc điểm: thế thức động tác ngắn gọn mà hay, phát lực nhanh mạnh, lối ra đòn tập trung, tư thế
phủ phục lách tránh, động tác thành một đường liền lạc, cho nên ngạn ngữ võ gọi là “Phiên tử
nhất quải tiên”. Phương pháp tấn công phòng thủ chú trọng: miên (liên miên), nhuyễn (mềm
dẻo), tùng (thả lỏng), thúy(dứt khoát), nội tàng hảo (ẩn giấu ở bên trong cho tốt).
Đòn chân thường đá tầm trung và thấp, chú trọng huấn luyện công phu eo, vai, hông và chân.
Yêu cầu công phu của chân luyện cho linh hoạt đầy biến hóa giống như cánh tay, vận dụng như
mong muốn.
10. YẾN THANH QUYỀN (hay BÍ TÔNG QUYỀN)
Bí Tông quyền là một môn võ của T.quốc, là quyền pháp
truyền thống nổi tiếng của võ thuật Thiếu lâm, có hệ thống và
phong cách độc đáo về nội dung lẫn kỹ thuật. Từ xưa đến nay,
do mỗi người truyền dậy tự lấy hoặc bỏ theo ý mình và sự
khác biệt của khu vực đòa lý, cho nên lại chia thành rất nhiều
lưu phái nhỏ khác, các lưu phái này đều có chỗ độc đáo và
chú trọng đặc điểm kỹ thuật riêng biệt nhưng đều là Thiếu
lâm ngoại gia, thuộc loại Trường quyền. Có khá nhiều truyền
thuyết xung quang nguồn gốc của Bí tông quyền. Tên gọi của
môn võ nhân đó cũng có nhiều cách nói khác nhau, như gọi là
“Mê Lộ quyền”, “Mê Tông Nghệ” hoặc “Nghê Tông (con sư
tử) quyền”, “Bí tông quyền”. Mượn danh nghóa do nhân vật
Yến Thanh trong “Thủy hử” truyền dậy lại. Những tên gọi
này có liên quan tới sự phát sinh ra nó. Ví như :
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (21 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM

phải đợi sự khảo chứng xem xét lại.
Tình hình truyền bá Bí tông quyền đời cận đại :

Môn này được Tôn Thông, người ở Đại Nhạc, tỉnh Sơn Đông truyền bá ra vào cuối năm Khang
Hy (hoặc khoảng năm Ung Chính) đời Thanh. Một phái gọi là “ Bí tông quyền” do đệ tử của ông
là Trần Thiện người ở huyện Thương (Thương Châu) làm trung tâm. Bài quyền có : Luyện thủ
quyền, Tiểu tiến quyền, Đại, Tiểu ngũ hổ quyền, Báo quyền, Miên chưởng quyền, Bát chiết
quyền, Bát đả quyền, Bí tông trường quyền, Sáo hoàn quyền, Hợp chiến quyền.
Bài bản binh khí có : Tứ môn đao, Song đao, Đại đao, Nhò lang côn, Tam lộ điều, Lục lộ điều,
Đơn quải, Song quải, Thập bát câu, Bát quái kỳ môn thương.

Từ huyện Thương, có một gia tộc họ Hoắc chuyển đến sống ở huyện Tónh Hải, tỉnh Hà Bắc,
file:///C|/Documents%20and%20Settings/nguyenma g/My%20Documents/GTHL%20TRUONG%20QUYEN%201.htm (22 of 197)7/5/2007 9:17:07 PM
WWW.MAISONLAM.COM
TRƯỜNG QUYỀN
gọi môn võ này là “Mê tông quyền” hoặc “Mê tông nghệ”, con cháu các đời truyền nối cho
nhau. Bài bản quyền cước và binh khí có Đơn luyện quyền và Hoắc thò liên quyền, nội dung gần
giống với phái của Trần Thiện. Sau khi trong gia tộc đó có người tên Hoắc Nguyên Giáp xuất
hiện, danh tiếng của Mê Tông Nghệ mới dần trở nên vang dội và phát triển rực rỡ.

Môn “Yến Thanh quyền” cổ xưa được Trương Diệu Đình, người ở Thương Châu, tỉnh Hà Bắc
truyền bá. Môn này về sau truyền đến Tôn Thông vào đời Thanh. Tôn Thông là người ở Đại
Nhạc, tỉnh Sơn Đông. Ban đầu ông theo họ Trương ở Diễn Châu học môn võ này, sau đó du lòch
qua các nơi, về già, sống ẩn cư dậy võ ở huyện Thương, tỉnh Hà Bắc. Tiếp nối sau Tôn Thông,
môn võ này do các nhà võ thuật Trần Thiện, Dương Hồng Tân, Trần Quảng Trí, Liên Khoát hoà
thượng, Lý Nguyên Trí, Hoắc Nguyên Giáp, Dương Côn Sơn, Lư Chấn Phong, Lưu Chí Thanh ra
sức truyền bá. Các tỉnh ở phía Bắc Trung quốc như Sơn Đông, Hà Bắc đều lưu truyền rộng rãi
môn này. Bài bản có : Yến Thanh đệ nhất lộ và Yến Thanh đệ nhò lộ.

Ngoài ra, môn võ này được truyền từ tỉnh Hà Bắc đến huyện Thanh Châu, tỉnh Sơn Đông, lại

WWW.MAISONLAM.COM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status