17
VI đã chủ trương đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế và chỉ ra thực chất của cơ chế
mới đó là: "Cơ chế kế hoạch hoá theo hướng phương thức hạch toán kinh doanh xã
hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ"(1)
Trên cơ sở đánh giá những vấn đề thực tiễn trong đổi mới cơ chế quản lý ở nước ta
từ năm 1986 đến nay, trong các kỳ Đại hội Đảng ta tiếp tục làm rõ nội dung và
phương thức đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng "xóa bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN" (2). Điều đó thực chất là quá trình đổi mới cả hệ thống các
công cụ, chính sách quản lý và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước.
(1). Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VI, trang 46
(2) Đảng cộng sản Việt Nam, trang 98
3. Những thành tựu sau 20 năm đổi mới
3.1. Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm có tốc độ cao
Trong suốt thời kỳ đổi mới từ năm 1986 cho đến nay nền kinh tế Việt Nam luôn có
nhịp độ tăng trưởng dương, đặc biệt đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh và liên
tục trong suốt thời gian từ 1986-1997.
Trong 5 năm đầu đổi mới (1986-1990), khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần, các doanh
nghiệp Nhà nước và các hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, khu vực kinh tế tư nhân và
cá thể chưa phát triển nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn định, bình quân chỉ đạt
3,9%/năm (riêng năm 1986 đạt 0,3%) và lạm phát cao kéo dài. Nhưng đầu thập kỷ
90, nền kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng ổn định và đạt đến đỉnh cao là 9,5% vào
năm 1995. Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (1991-1995), lần đầu tiên ta đã hoàn
thành vượt mức nhiều chỉ tiêu của kế hoạch này. Đại hội VIII của Đảng (năm 1996)
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
18
đã nhận định: "Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội nhưng một số mặt
17,7%; rau quả tăng 10,8%; hạt tiêu tăng 24,8%; hạt điều tăng 37,5%. Tổng giá trị
nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 40% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Một nền
nông nghiệp hàng hoá đã hình thành gắn với thị trường quốc tế.
• Sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ 2 con số. Bình quân thời kỳ
1991-1995 tăng 13,7%, thời kỳ 1996-2000 tăng 13,2%. Mức bình quân đầu người
của nhiều sản phẩm công nghiệp nhưu điện, than, vải, thép, xi măng… tăng nhanh
trong những năm đổi mới và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất, đời sống nhân
dân và xuất khẩu.
Thời kỳ này đã hoàn thành một số công trình lớn: thuỷ điện Hoà Bình, Trị An,
Yaly, đường dây 500 KV Bắc - Nam, nhiệt điện Phả Lại, Phú Mỹ… Sản lượng điện
đã tăng từ 5,7 tỷ KWh năm 1986 lên 26,6 tỷ KWh năm 2000. Nhờ đó điện lưới
quốc gia đã phủ tới 98% số huyện 70% số xã, 90% số hộ thành thị, 60% số hộ nông
dân.
• Hệ thống đường giao thông, bưu điện được xây dựng mới và nâng cấp đang vươn
tới mọi miền của đất nước, kể cả vùng sâu, vùng xa. Hoạt động thương mại có
nhiều khởi sắc, cơ chế cung cấp theo tem phiếu và thu mua theo nghĩa vụ bị bãi bỏ
thay thế vào đó là tự do lưu thông, thống nhất một giá. Thị trường đầy ắp hàng hoá
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
20
và dịch vụ, giá cả ổn định, chất lượng ngày càng cao, phương thức mua bán thuận
tiện.
3.2. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ
• Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhưng tỉ trọng đã
giảm xuống, trong khi đó tỉ trọng của khu vực II (gồm công nghiệp và xây dựng cơ
bản) và khu vực II (các ngành dịch vụ đã tăng lên).
• Cơ cấu các thành phần kinh tế
1 con số. Năm 1986: 774,7%; năm 1990: 67,4%; năm 1995: 12,7%; năm 1997:
3,7%; năm 1999: 0,1%. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao.
3.4. Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh
Quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta ngày càng được mở rộng. Sau nhiều năm bị bao
vây cấm vận, ngày 11/7/1995, Mỹ tuyên bố bình thường hoá uan hệ và ngày
12/7/1994 đã thiết lập quan hệ kinh tế với Việt Nam. Và từ đó đến nay, chúng ta đã
mở rộng quan hệ hợp tác với 150 nước và vùng lãnh thổ vào năm 2000.
Hoạt động xuất nhập khẩu có sự tiến bộ vượt bậc. Năm 2001, Việt Nam đạt kim
ngạch xuất khẩu 15,027 tỷ USD, nhập khẩu là 16,162 tỷ USD so với 822,9 triệu
USD và gần 221,6 tỷ USD năm 1986. Kim ngạch XNK tăng bình quân hàng năm
trên 20%. Sở dĩ kim ngạch XNK tăng nhanh như vậy là do nước ta thực hiện chính
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
22
sách mở cửa, có những cơ chế xuất nhập khẩu đổi mới và có chính sách tỷ giá hối
đoái linh hoạt.
Nhập siêu giảm 3,8 tỷ USD năm 1996 còn 900 triệu USD năm 2000 và 1,135 tỷ
USD. Ta đã có một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô, than đá, gạo, dệt
may, giày dép, thuỷ sản, cao su, cà phê với số lượng lớn và chất lượng ngày càng
tăng. Sản xuất hướng về xuất khẩu là một nét mới gắn với đường lối đổi mới và mở
cửa nền kinh tế Việt Nam, làm cho các ngnàh sản xuất thoát ra khỏi tình trạng tự
cấp tự túc, tăng dần tích luỹ.
3.5. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh
thần đã được cải thiện một bước rõ rệt. Số lượng lao động có việc làm trong nền
kinh tế đã tăng nhanh, trong những năm 1995-2000 trung bình đã tạo ra 1,3 triệu
việc làm mới. Thu nhập của dân cư tăng bình quân 10% trong 16 năm đổi mới.
GDP bình quân đầu người đạt gần 400USD/năm (năm 2000) và đến năm 2005 là
gần 650USD/năm. Số hộ giàu tăng lên và đến nay đã đạt trên 10%, số hộ nghèo