81
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CAN THIỆP
1. Nguyên tắc
•
Là dựa trên nền tảng của hai nhóm cơ bản là thí
nghiệm và đối chứng, là sự so sánh giữa hai nhóm
gia súc mắc bệnh và khoẻ mạnh, là sự đánh giá
giữa một phương pháp điều trị mới với phương
pháp điều trị hiện hành, là sự so sánh giữa nhóm
gia súc được phòng bệnh và không phòng bệnh
•
Về mặt lâm sàng là sự so sánh giữa gia súc thí
nghiệm với gia súc khoẻ mạnh hoặc với các tài liệu
sách vở kinh điển.
2. Mục tiêu
•
Mục tiêu của nghiên cứu can thiệp không phải chỉ
đơn thuần trình bày, giải thích giả thuyết mà phải
có một sự so sánh đánh giá giữa hai nhóm nền tảng
từ đó chứng minh tính đúng đắn, rõ ràng nhất về
mối quan hệ nhân quả.
3. Can thiệp trong điều kiện không kiểm soát
•
Là loại nghiên cứu được tiến hành trên diện rộng,
đối tượng nghiên cứu là tất cả các động vật nuôi
trong một địa phương hay trong một vùng đều
được quan tâm, không kể là động vật có bệnh hay
không có bệnh.
•
Ta sẽ tiến hành đưa vào đối tượng này các yếu tố
về trị liệu, thuốc, vacxin… rồi theo dõi diễn biến hay
định khả năng giảm bớt triệu chứng, giảm nguy cơ
chết vì bệnh đó của một loại thuốc hay một phương
pháp điều trị.
•
VD: Đánh giá hiệu lực của vacxin, thuốc điều trị
mới, đặc hiệu đối với bệnh nào đó.
83
2.1. Th
ử
nghi
ệ
m phương pháp đi
ề
u tr
ị
•
Nhiều thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu hiệu quả
của các phương pháp điều trị.
•
VD: phương pháp phẫu thuật, cách quản lý chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng, hộ lý…
•
Thử nghiệm gây tê bằng phương pháp châm cứu
hoặc gây tê bằng phương pháp dùng thuốc tê khi
phẫu thuật.
2.2. Th
ử
nghi
ệ
m thu
phạm vi lớn
Sau khi xác định tính hiệu quả của thuốc, cần phải
so sánh với các phương pháp hiện đang được áp
dụng.
Giai đoạn này thực chất đồng nghĩa với khái niệm
“thử nghiệm lâm sàng”, là một phương pháp khoa
học và chính xác nghiên cứu tác dụng lâm sàng của
một thuốc điều trị mới.
Giai đoạn 4: Giám sát thuốc trên thị trường
Giai đoạn này nhằm giám sát các ảnh hưởng phụ
của thuốc, nghiên cứu bổ sung lâu dài trên phạm vi
lớn về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, sự quan tâm chú
ý của những người hoạt động về lĩnh vực thú y.
2.3. Th
ử
nghi
ệ
m phòng b
ệ
nh
•
Thử nghiệm các biện pháp phòng bệnh có liên quan
đến việc đánh giá tác dụng của một tác nhân hay
một phương pháp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh
ở những quần thể động vật có nguy cơ mắc bệnh.
phương pháp điều trị, phòng bệnh.
•
Do đó, họ phải cân nhắc các khía cạnh đạo đức,
khả năng thực hiện và giá thành của nghiên cứu.
86
1. Đạo đức
•
Sự cân nhắc về đạo đức đã loại bỏ nhiều nghiên
cứu đánh giá các thuốc, vacxin hay phương pháp
điều trị trong nghiên cứu can thiệp.
•
Người nghiên cứu không được phép chỉ định nghiên
cứu những chất được biết là độc hại. Tương tự,
những liệu pháp điều trị được biết là có hiệu quả
phải được áp dụng cho tất cả các cá thể bị bệnh.
3. Giá thành
•
Trước đây, việc thực hiện các nghiên cứu can thiệp
thường tốn kém hơn so với các nghiên cứu quan
sát. Do từng đối tượng nghiên được thử nghiệm
thuốc, vacxin, phương pháp điều trị và đánh giá,
nên giá thành thường cao.
•
Gần đây, người ta bắt đầu tiến hành các thử
nghiệm lớn với quy trình hợp lý được thiết kế cận
thận để giảm giá thành và thời gian nghiên cứu.
V. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
•
Phương pháp phân tích kết quả trong nghiên cứu
can thiệp tương tự như đối với nghiên cứu thuần
Một khi những đối tượng tham gia nghiên cứu được
chọn ngẫu nhiên vào nhóm thử nghiệm thì diễn
biến sức khoẻ của chúng phải được đánh giá và
phân tích cùng với những đối tượng ở nhóm so
sánh. Điều này nhấn mạnh đến sự cần thiết phải
duy trì sự tuân thủ cao chế độ nghiên cứu ở tất cả
các đối tượng tham gia.
•
Về mặt thực hành, không nên thực hiện những thử
nghiệm mà chế độ nghiên cứu quá phức tạp và
không thuận tiện cho dù thử nghiệm đó có hiệu quả
đến đâu đi chăng nữa.
•
Trong khi phân tích số liệu từ các thử nghiệm, bên
cạnh sự tuân thủ chế độ nghiên cứu, người ta còn
so sánh ngẫu nhiên những nhóm nhỏ dựa trên
những đặc trưng khác nhau.
88
VI. KẾT LUẬN
•
Nghiên cứu can thiệp là một loại nghiên cứu dịch tễ
học khó thiết kế và khó thực hiện so với các nghiên
cứu dịch tễ học khác, do các vấn đề về đạo đức,
khả năng thực hiện và giá thành.
•
Tuy nhiên, nếu các thử nghiệm này có cỡ mẫu đủ
lớn, chế độ thử nghiệm được chỉ định ngẫu nhiên,
được thiết kế, thực hiện và phân tích cẩn thận sẽ
cung cấp những bằng chứng dịch tễ học trực tiếp
nhất và mạnh nhất chứng minh sự tồn tại của mối
thể và mầm bệnh) diễn ra trong những điều kiện
nhất định của ngoại cảnh nên nó còn chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khác.
•
Ảnh hưởng của các loại yếu tố đó dẫn đến kết
quả là xảy ra hiện tượng nhiễm trùng.
•
Đây là một khái niệm cơ bản quán triệt mọi mặt
của công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm cho
gia súc.
2. Điều kiện để mầm bệnh gây được nhiễm trùng
2.1.Tính gây b
ệ
nh
•
Một trong những tính chất cơ bản của mầm bệnh
thể hiện qua tính gây bệnh của chúng. Đây là điều
kiện đầu tiên, cơ bản nhất để mầm bệnh gây được
nhiễm trùng.
•
Mầm bệnh thu được khả năng này qua quá trình
tiến hoá thích nghi của nó trên cơ thể. Khả năng
này gắn liền với đặc tính ký sinh của mầm bệnh và
có tính chất chuyên biệt: một loại mầm bệnh chỉ
gây được một bệnh nhất định.
90
•
Mầm bệnh trong thiên nhiên có nhiều loại:
Loại hoại sinh
c
•
Mầm bệnh tuy đã có tính gây bệnh nhưng muốn
gây được nhiễm trùng cần phải có độc lực.
•
Độc lực biểu hiện mức độ cụ thể của tính gây bệnh.
Nhưng khái niệm độc lực không chỉ nói về đặc tính
của mầm bệnh, mà còn nói lên sự chống đỡ của cơ
thể, vì một mầm bệnh có thể có độc lực đối với cá
thể này, loài này nhưng lại không có độc lực đối với
cá thể khác, loài khác.
91
•
Một mầm bệnh có độc lực là do nó có khả năng
xâm nhập và phát triển trong cơ thể, trong quá
trình đó nó tiết ra những chất độc, những chất
ngăn cản cơ năng bảo vệ của cơ thể hoặc phá huỷ
tổ chức của cơ thể.
•
Độc lực của mầm bệnh không cố định mà rất dễ bị
biến đổi do tác động của cơ thể và ngoại cảnh. Độc
lực của mầm bệnh cũng có thể được làm tăng hoặc
giảm hoặc mất hoàn toàn bằng phương pháp nhân
tạo hoặc bị biến đổi trong tự nhiên. Người ta đã lợi
dụng tính chất này trong việc phòng chống bệnh
như tiêu độc, chế các loại vacxin…
•
Trong phòng thí nhiệm người ta có quy ước để tính
độc lực của mầm bệnh, đó là liều gây chết ít nhất
(DLM), tức là dùng số lượng mầm bệnh ít nhất nuôi
•
Súc vật thường xuyên tiếp xúc với môi trường xung
quanh chứa mầm bệnh, nên có nhiều điều kiện và
nhiều cách để mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể.
•
Những đường xâm nhập đó được xác lập qua quá
trình tiến hoá lâu dài của chúng để thích nghi với
đời sống ký sinh, tạo điều kiện thích hợp nhất để
chúng gây bệnh và bảo tồn nòi giống.
•
Vì vậy, mỗi loại mầm bệnh đã chọn lọc một con
đường thích hợp nhất để vào cơ thể. Những loại
mầm bệnh khác nhau có những đường xâm nhập
khác nhau. Tuy nhiên một loại mầm bệnh có thể có
một hoặc nhiều đường xâm nhập, nhưng trong đó
vẫn có một đường xâm nhập chính.
•
Đường xâm nhập có ý nghĩa quan trọng trong hiện
tượng nhiễm trùng:
Nếu đường xâm nhập thích hợp thì mầm bệnh dễ
dàng gây bệnh và bệnh thể hiện điển hình.
Nếu đường xâm nhập không thích hợp thì có thể
không gây bệnh hoặc gây bệnh nhẹ và cho miễn
dịch hoặc cần số lượng nhiều gấp nhiều lần mới
gây được bệnh.
Ngoài ra, cùng một đường xâm nhập nhưng ở
những vị trí khác nhau trên cơ thể thì có thể gây
Thứ hai tác động bằng những chất tiết ra như: độc
tố, giáp mô, yếu tố lan truyền hay khuyếch tán,
công kích tố, các loại men… VD: vi khuẩn gây bệnh
Uốn ván (Clostridium tetani)
3.1. Đ
ộ
c t
ố
•
Độc tố của vi khuẩn có 2 loại:
Ngoại độc tố: do vi khuẩn gây bệnh tiết ra môi
trường xung quanh, các mô bào của cơ thể hút vào
và gây nên triệu chứng ngộ độc.
Ngoại độc tố rất độc, tác động với một lượng rất ít,
thường có đặc tính hướng thần kinh.
VD: độc tố của vi khuẩn Uốn ván lan truyền vào
thần kinh trung ương gây kích thích trung tâm vận
động làm bắp thịt bị co giật.
94
Nội độc tố: là sản phẩm của nhiều loại vi khuẩn
(chủ yếu là vk Gram âm).
Nội độc tố gắn liền với tế bào vi khuẩn, khi vi
khuẩn bị dung giải nội độc tố mới được giải
phóng.
95
3.4. Y
ế
u t
ố
lan truy
ề
n hay khuy
ế
ch tán
•
Tính chất ký sinh của mầm bệnh có liên quan đến
khả năng xuyên vào mô bào của cơ thể, tính chất
này phụ thuộc vào mức độ độc lực của mầm bệnh
và khả năng ngăn cản sự xâm nhập của chúng vào
mô bào của cơ thể.
•
Như vậy yếu tố lan truyền hay khuyếch tán là chất
có khả năng làm tăng sức thẩm thấu của mô bào,
làm tăng sức gây bệnh của nhiều loại mầm bệnh:
VK Uốn ván, liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn…
•
Trong các mô liên kết của cơ thể có axit Hyaluronic
có khả năng ngăn chặn các vật lạ và mầm bệnh lan
tràn trong mô bào.
•
Bản chất tác động của yếu tố lan truyền là do mầm
bệnh có khả năng sản sinh men Hyaluronidaza phân
huỷ axit Hialuronic, làm tăng sức thẩm thấu của
mầm bệnh và độc tố của chúng vào mô bào.
•
Sau khi vào cơ thể mầm bệnh có thể gây tác hại tại
chỗ: viêm, thủy thũng, hoại tử ngay chỗ xâm nhập.
Có loại mầm bệnh không phát triển xa hơn mà chỉ
nằm tại chỗ những vẫn có tác hại đến toàn thân do
chất tiết của nó được dẫn đi khắp cơ thể thông qua
cơ chế phản xạ.
Có loại cùng với chất tiết của nó đi khắp cơ thể theo
phương thức lan dần do phơi nhiễm hoặc theo mạch
máu, mạch lâm ba gây nên những trạng thái nghiêm
trọng như bại huyết, nhiễm trùng huyết…
Hoặc theo đường thần kinh gây nên những rối loạn
toàn thân phá hoại hoạt động bình thường của cơ thể.
•
Do có nhiều phương thức tác động khác nhau nên
mầm bệnh có thể gây ra hiện tượng rối loạn toàn
thân và rối loạn cục bộ.
Triệu chứng toàn thân: sốt, ủ rũ, bỏ ăn, ỉa chảy… là
triệu chứng chung của nhiều bệnh truyền nhiễm.
Triệu chứng cục bộ do tính phản ứng của cơ thể
quyết định và có ảnh hưởng đến toàn thân.
Có thể là tiên phát nếu bệnh phát ra ở cơ thể khoẻ
mạnh hoặc thứ phát khi bệnh đang giảm. Những
triệu chứng này điển hình riêng cho từng bệnh