16
Dương tính Âm tính
ELISA
Dương tính (a)
201
(b)
98
(a+b)
299
Âm tính (c)
1
(d)
247
(c+d)
248
(a+c) (b+d) (a+b+c+d)
202 345 547
Nguồn: Courtney, C.H., Zeng, Q.Y. and Tonell, Q. 1990. Sensitivity and specificity of the CITE
heartworm antigen and a comparison with the Diro check heartworm antigen test. J. Am. Hosp.
Assoc. 26: 623-628.
a+d 201 + 247
Phù hợp quan sát được: = = 82 %
a+b+c+d 547
(a+b) x (a+c) 299 x 202
Phù hợp kỳ vọng ở a: = = 110
a+b+c+d 547
=
= 0,65
17
Bảng 7.9 Bảng 2x2 so sánh kết quả của 2 phương pháp xét nghiệm
Xét nghiệm 2 / người chẩn đoán 2
Dương tính Âm tính Tổng
Xét nghiệm 1
/ người chẩn
đoán 1
Dương tính
Âm tính
Tổng
a
c
a+c
b
d
b+d
a+b
c+d
N
Kappa (K) = (P
o
–P
e
)/(1–P
mèo và được chẩn đoán bằng phương pháp nghe trực tiếp trên lâm sàng. Kết quả ghi
nhận từ 2 bác sĩ thú y như sau: bác sĩ thú y 1 cho là 31 con bị viêm phổi (chỉ có 10 con
được bác sĩ thú y 2 đồng ý) và 89 con không bị viêm phổi (trong khi bác sĩ thú y 2 cho là
có 6 con viêm phổi). Xác định mức độ tương đồng của 2 nhận định từ 2 bác sĩ thú y trên.
Bảng 7.10 Bảng 2x2 so sánh kết quả chẩn đoán viêm phổi trên mèo của 2 Bác sĩ thú y
Bác sĩ thú y 2
bệnh không bệnh Tổng
Bác sĩ thú y 1 bệnh
không bệnh
Tổng
10
6
16
21
83
104
31
89
120
P
o
= (a+d)/n = (10+83)/120 = 0,775
P
e (+)
= (a+b)×(a+c)/n = 31×16/120 = 4,13
P
e (−)
= (c+d)×(b+d)/n = 104×89/120 = 77,13
P
niệm độ nhạy và độ chuyên biệt ở mức độ đàn (HSe và HSp). HSe là xác suất một đàn
thật sự nhiễm bệnh được phát hiện là dương tính bằng xét nghiệm. HSp là xác suất mà
một đàn không nhiễm bệnh được xác định là âm tính bằng xét nghiệm. Hai giá trị này
không chỉ phụ thuộc vào Se và Sp của xét nghiệm dùng mà còn phụ thuộc vào số lượng
thú đưa vào xét nghiệm ở mỗi đàn và giá trị thú dương tính ngưỡng để kết luận đàn
nhiễm bệnh (chẳng hạn như nếu kiểm tra 10% đàn mà có 5 con dương tính thì coi như
đàn nhiễm bệnh - thường thì người ta chọn là 1).
Nếu một đàn có tỷ lệ nhiễm thật sự dự đoán là P, AP là tỉ lệ bệnh biểu kiến dựa
xét nghiệm có độ nhạy và độ chuyên biệt là Se và Sp, “n” là số thú chọn xét nghiệm cho
đàn thì độ nhạy và độ chuyên biệt ở mức độ đàn được tính theo công thức sau.
19
HSp = Sp
n
HSe = 1 – (1-AP)
n
AP = Se×P + (1-Sp)×(1-P)
10. Sai lệch trong đánh giá các xét nghiệm
10.1 Tính tương đối và tuyệt đối của độ nhạy và độ chuyên biệt
Rất khó xác định tình trạng bệnh thật sự của những thú dùng trong việc chuẩn hoá
các xét nghiệm. Tuy nhiên, độ nhạy tương đối và độ chuyên biệt của một xét nghiệm có
thể được ước tính bằng cách so sánh kết quả của xét nghiệm này với kết quả của các xét
nghiệm đã được dùng như xét nghiệm 'chuẩn' trong nhiều năm. Cách này có thể được
dùng bởi các thú y viên để so sánh xét nghiệm huyết thanh và kỹ thuật Knott truyền
thống trong định bệnh giun tim chó. Khi không có xét nghiệm chuẩn, sự so sánh khả
năng của một xét nghiệm này với một xét nghiệm khác được xem như đo lường sự phù
20
tình trạng bệnh - hiện diện hay không hiện diện, không được xác định độc lập. Hai sai
lệch đầu xảy ra khi kết quả xét ngiệm đã có trước khi chẩn đoán được tiến hành.
Sai lệch gia công (work-up bias) xảy ra khi đã có kết quả xét nghiệm thì mới tiến
hành chẩn đoán. Như thế kết quả đã có sẽ ảnh hưởng đến khả năng chẩn đoán. Chẳng
hạn, khi đã biết kết quả trước đó là dương tính thì người ta cố gắng theo đuổi chẩn đoán
và như thế làm tăng khả năng phát hiện bệnh nếu có bệnh thật sự.
Sai lệch duyệt lại (review bias) xảy ra sau khi đã chẩn đoán và kết quả chẩn đoán
ảnh hưởng đến tiến trình xem xét số liệu. Chẳng hạn, kết quả huyết thanh học dương tính
có thể ảnh hưởng đến cách giải thích kết quả X quang lồng ngực thường được dùng để hỗ
trợ cho chẩn đoán tình trạng giun tim không rõ ràng.
Sai lệch phối hợp (incorporation bias) xuất hiện khi xét nghiệm được đánh giá
nhưng lại được dùng để chẩn đoán chính bệnh đó.
Tính đa dạng của bệnh, chẳng hạn phân bố của các giai đoạn bệnh trong quần thể
có thể ảnh hưởng đến sự đo lường độ nhạy và độ chuyên biệt của xét nghiệm.
11. Các xét nghiệm chẩn đoán khác Bệnh nhiễm trùng hay không nhiễm trùng có thể được chẩn đoán cho cá thể hoặc
quần thể. Chẩn đoán cho quần thể là một phần quan trọng trong dịch tễ học, đặc biệt khi
quần thể được kiểm tra sàng lọc. Ở đây, chúng ta thảo luận về chẩn đoán bệnh nhiễm
trùng bằng huyết thanh học, nhưng nhiều nguyên tắc và phương pháp có thể được mở
rộng cho các phương pháp chẩn đoán khác và các tình huống khác.
11.1 Dịch tễ huyết thanh học
Dịch tễ huyết thanh học chú trọng điều tra về tình trạng nhiễm trùng và bệnh
trong quần thể bằng cách đo lường các biến số của máu. Một trong những thành phần