Giáo trình - Tâm lý học y học - chương 8 - Pdf 19

TÂM LÝ HỌC VÀ BỆNH LÝ Mục tiêu học tập
1.Xác định được mối quan hệ giữa tâm lý và bệnh lý
2.Trình bày được mối quan hệ giữa tâm lý và bệnh lý

I.KHÁI NIỆM
1.Tâm lý học và y học có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Phải chăng sự phát hiện vi khuẩn gây loét và dùng thuốc hợp lý sẽ miễn cho Bác
sĩ quan tâm đến tâm lý của bệnh nhân. Cắt hết cơn đau dạ dày là thầy thuốc đã làm hết
nhiệm vụ hay chưa?
Có thể nói rằng nếu thầy thuốc chỉ biết nắm vững các yếu tố sinh bệnh lý, dược lý
mà không hề nghĩ đến những yếu tố tâm lý xã hội cũng là lạc hậu vì đã bỏ qua những yếu
tố quan trọng giúp việc chữa trị một cách tối ưu.
Y học ngày nay rất phát triển :
+Sự phát triển về kỹ thuật y học để tìm ra yếu tố sinh bệnh lý
+Hướng tiến bộ thứ hai là chăm sóc và phòng ngừa ngoài phạm vi cơ thể bằng cách tìm
hiểu những tác động nhiều mặt trong cuộc sống con người.
Đi sâu vào sinh lý đồng thời cũng phải điều tra kỷ về tâm lý xã hội giúp cho việc chữa trị
tốt nhất cho người bệnh.
2.Các mặt cần tìm hiểu ở một con người
Tìm hiểu một con người cần nhìn về 3 mặt:
- Sinh lý (S): Con người là một sinh vật cần tìm hiểu về sinh lý : ăn uống, không khí, vận
động, tính dục và giao tiếp với người khác. Tuổi tác và giới tính, quá trình trưởng thành
qua các lứa tuổi
- Xã hội(X): Con người là mối tổng hòa các quan hệ xã hội, thành phần vị trí , vai trò
trong xã hội quyết định nhiều đặc điểm. Cần tìm hiểu nhiều mặt như những hoạt động cơ
bản: Lao động, học tập, vui chơi
- Xuất xứ và sinh sống trong môi trường tự nhiên nào, môi trường xã hội nào, Giai cấp,
dân tộc, tôn giáo, quan hệ quốc tế, những sự di chuyển môi trường. Gia

tác động trực tiếp lên con người, cần có một cách nhìn toàn diện, nếu không sẽ không
tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc.
Có thể phát họa mối quan hệ S,X.T như sau: S

X T Ba mặt có quan hệ tác động qua lại.Khi chữa bệnh nên nghĩ đến cả 3 mặt. Có khi
chỉ tác động lên S là chủ yếu, chưa cần chú ý T và X, trong trường hợp khác phải chú ý
cả 3 mặt.
Ví dụ:
- Một ca loét dạ dày thủng, phải mỗ cấp cứu, lúc ấy đảm bảo điều kiện S là chủ yếu ( gây
mê, vô trùng ) nhưng sau đó cần X và T. Chẳng hạn bệnh nhân này vì hoàn cảnh làm
việc không phù hợp, mâu thuẫn cơ quan, gia đình Cần được giúp đỡ để giải tỏa tâm lý
ấy.
-Khi đưa ra những chương trình tiêm chủng, sinh đẻ có kế hoạch cần phải tìm hiểu đặc
điểm tâm lý dân cư từng địa phương, nếu không kết quả sẽ rất hạn chế.
Tóm lại thầy thuốc cần tìm hiểu không chỉ những ca bệnh mà phải tìm hiểu những
người bệnh.
+Tìm hiểu người bệnh đang mong ước gì, chờ đợi gì ở thầy thuốc và bệnh viện giúp đỡ
họ, trong cuộc sống có vấp váp gì, khổ tâm gì?
+Thầy thuốc và cán bộ y tế có nhiệm vụ góp phần với gia đình và xã hội để tạo điều kiện
tối ưu cho cuộc sống của người bệnh chứ không đơn giản chỉ kê đơn hay làm phẫu thuật
xong là hết bổn phận.

+Hoặc cho là bệnh tưởng tượng, bệnh chức năng, không chết ai.
Trong y học xuất hiện từ
bệnh thần kinh (neurosis) đây là một khái niệm mơ hồ,
chỉ những cái gì không rõ.
"Neurosis" trở thành một cái sọt để chứa mọi hiện tượng bệnh lý không có tổn
thương thực thể, và từ đó thầy thuốc không cần quan tâm đến. Điển hình là những ca
hysteria: Liệt tay chân, triệu chứng không ăn khớp với một khu vực nhất định liên quan
đến một dây thần kinh nào, tiến triển bất thường, trong chốc lát có thể lành hẳn.
Trong những năm qua Y học cũng như tâm lý học có những tiến bộ đáng kể, tạo
điều kiện để hiểu rõ thêm hiện tượng tâm và thể làm cho y học có thể bao hàm được cả
những tri thức sinh lý và tâm lý thành một khoa học thống nhất về con người.
Những phương pháp phân tích tâm lý nhờ các test, phân tâm học, nhân chủng học
kết hợp với toán học thống kê làm cho tâm lý học ngày càng xích gần các khoa học thực
nghiệm.
Trên cơ sở ấy y học ngày nay không chỉ khẳng định chung mối quan hệ tâm - thể
mà tìm cách xác định trong mỗi bệnh chứng, mỗi ca bệnh, phần nào thuộc về thể chất,
phần nào thuộc về tâm lý, lúc nào cần tác động lên thể chất hay tâm lý.
2.Mối quan hệ tâm- thể
Tác động sinh lý của những cảm xúc làm chấn động hệ thần kinh thực vật và nội
tiết đã được phân tích rõ: Nhịp tim và thở nhanh, tăng huyết áp, dạ dày ruột ngừng co
bóp Đối chiếu với những phản ứng của động vật , ví dụ con mèo khi gặp con chó thù
địch, con vật hoặc chiến đấu hoặc bỏ chạy ( To fight or to flight) tức là có những hoạt
động dùng sức, vận dụng cơ bắp ở cường độ cao. Chiến đấu xong hoặc chạy thoát nguy
cơ, các hoạt động sinh lý, tim phổi trở lại bình thường sau một thời gian ngắn. Trong thời
cổ xưa con người cũng tương tự như vậy. Nhưng trong xã hội văn minh thì khác, trong
những tình huống như vậy do nhiều nguyên nhân tâm lý xã hội gây ra, thường ít đấm đá
hay chạy trôïn mà ngược lại nhiều khi bên trong sục sôi mà bên ngoài thơn thớt nói cười.
Huyết áp tăng, co mạch, trương lực cơ tăng lên nhưng không cần dùng đến, phải nén lại.
Tình huống gây ra cảm xúc qua rồi nhưng hậu quả sinh lý vẫn kéo dài một thời gian lâu
mới ổn định lại được.

mình đừng quá lạm dụng thuốc men, xét nghiệm hiện đại mà cần ám thị cho bệnh nhân,
nhưng không thể xem thường bảo bệnh nhân là bệnh tưởng và hắt hủi người bệnh.
3.Tâm lý học và bệnh lý
Trên cơ sở 2 phần tách biệt của con người "thể " và "tâm" . Có thể nói sau một
thời gian dài có xu hướng xem nhẹ cái tâm, thì cuối thế kỷ 20, y học hiện đại quay về với
luận điểm thể v
ới tâm là một, con người là một khối toàn vẹn, phải quan tâm đến những
yếu tố tâm lý trong lý luận y học cũng như trong thực tiễn. Có xu hướng người thầy thuốc
tương lai không những nắm vững kiến thức y học hiện đại mà phải nắm vững kiến thức
tâm lý. Điều trị bệnh tật dựa vào tâm lý, sinh lý như thế nào là vấn đề được bàn cãi gay
gắt khi đặt ra những câu hỏi:
- Có thật những bệnh tật chỉ do những căn nguyên tâm lý gây ra không? Dựa trên tiêu
chuẩn
nào để xác định?
- Những yếu tố tâm lý tác động như thế nào để gây bệnh, cơ chế chữa bênh theo tâm lý
liệu pháp là gì?
Cuộc tranh cãi vẫn còn gay gắt vì những người đề xuất khái niệm y học tâm- thể
đều thuộc trường phái phân tâm học. Đối với các trường phái khác, thì phân tâm học có
những nhược điểm cơ bản:
+ Những khái niệm đưa ra đúc rút từ lâm sàng nhưng không có cơ sở thực nghiệm nào
cả.
+ Phân tâm học không chú ý hoàn cảnh xã hội hiện hữu của bệnh nhân, chỉ biết và mô tả
những cơ cấu và cơ chế nội tâm như là một cuộc sống tách rời xã hội và phân tâm học
cũng không gắn liền với những tiến bộ của khoa học khác.
- Một số tiêu chuẩn b
ệnh lý tâm - thể
+ Có căn nguyên tâm lý
+ Bệnh nhân thường có một tính cách nhất định, phân tích nhân cách có thể giúp cho
chẩn đoán.
+ Những phương pháp trị liệu tâm lý có tác dụng chữa bệnh.

hội đối với các đứa trẻ này. Nhiều công trình nghiên cứu của W.Thomas Boyce và cộng
sự (Đại học tổng hợp Bắc 1977), Heisel J.S và cộng sự 1973, cuối cùng đưa ra kết luận
rằng:
- Các đứa trẻ sống trong gia đình có lề thói nghiệt ngã thì dễ bị stress nếu xảy ra một
biến cố nghiêm trọng và trái lại cuộc sống hàng ngày thoải mái thì lại có tác dụng bảo vệ
khi có những biến cố khủng hoảng tiếp theo.Liệu có cơ chế nào hình thành giữa các biến
cố tâm lý học và quá trình phát sinh bệnh.
4.4 Bệnh đau đầu tái diễn tuổi thanh thiếu niên
Người ta ước lượng ở tuổi 15 có tới 75% số trẻ em sớm muộn cũng phải qua đau
đầu. Có nhiều giả thuyết giải thích cơ chế bệnh sinh đau đầu nhưng chưa có giả thuyết
nào hoàn toàn thuyết phục cả .
Trong bệnh sinh nhức đầu thì tiền sử gia đình nhức đầu, các yếu tố nội tiết và tiết
chế đóng vai trò ít hơn so với đau nữa đầu, mà các yếu tố tâm lý xã hội lại tỏ ra quan
trọng hơn. Sau khi loại trừ nguyên nhân thực thể ( U não, viêm xoang, ) thì việc đánh
giá đầy đủ các khía cạnh tâm lý xã hội, sẽ là một cố gắng đem lại kết quả. Một số yếu tố
liên quan có thể là vấn đề trong gia đình, lo hãi, trầm nhược Song quan trọng hơn vẫn là
tìm các tác nhân stress từ môi trường hay nội tâm. Một số trường hợp có thể chỉ định liệu
pháp tâm lý và tân dược, song đem lại hiệu quả
nhiều hơn là trị liệu tâm lý như thư giãn,
tự ám thị, kỹ năng ứng phó với stress.
III. MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ BỆNH LÝ
1.Sức khỏe và bệnh tật các nước phát triển và kém phát triển
Từ sau những năm 50 giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển có sự
khác biệt về sức khỏe và bệnh lý về số lượng cũng như chất lượng.

Đặc điểm tình hình sức khỏe nước phát triển kém phát triển
Tử vong chung 1% 2%
tử vong do tai nạn 80% 15-20%
Tử vong tim mạch 50% 10%
Tử vong nhiểm trùng và KST 1-3% 30%

ạo tiền đề để bệnh phát ra và tiến triển.
Cơ chế sinh bệnh sau stress là rối loạn nội tiết. Theo học thuyết Selye trước nhiều
loại kích thích khác nhau, cơ thể thích nghi tốt nhất hay mất cân bằng, trên cơ sở đó để
tìm ra các biện pháp điều trị và phòng bệnh, làm sao để giảm đi các stress. Selye cũng
khẳng định vai trò chủ yếu của hệ thần kinh, đặc biệt của thần kinh giao cảm trong các
phản ứng không đặc hiệu của cơ thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status