Truyền thuyết dân
gian xứ Bắc về các
thần tự nhiên 2. Truyền thuyết về thần Núi (Sơn thần)
Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới
(11)
: Núi vừa tượng trưng cho chiều
cao, vừa là điểm trung tâm. Với những đặc điểm: cao, thẳng đứng, gần trời, núi tham
gia vào biểu tượng của các siêu tại, siêu phàm với tính cách là trung tâm của những
hiện tượng hiển linh trong khí quyển và rất nhiều sự tích thần hiện, núi thuộc là biểu
tượng của cái bản thể biểu hiện…
Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh khi nói về các Sơn thần được thờ là thành
hoàng ở Việt Nam đã lý giải: “Sơn thần nước ta thể hiện thành một hệ tương đối thống
nhất. Đó là hệ Sơn Tinh tức là hệ Tản Viên”
(12)
. Rồi ông cho rằng: Sự tích về Sơn thần
ban đầu được ghi chép lại trong Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký
toàn thư. Đến khi Nguyễn Bính biên soạn lại thần tích trên cơ sở lời khai của dân địa
phương đã xuất hiện nhiều tình tiết khác về hệ Sơn thần. Bên cạnh Tản Viên sơn thánh
ở ngôi tối cao, còn có Cao Sơn thống lĩnh tả bộ Sơn thần, Quý Minh thống lĩnh hữu bộ
sơn thần. Ba vị Sơn thần này gắn với ba đỉnh núi Ba Vì. Lấy núi Ba Vì làm trung tâm
thì Sơn thần phát triển theo hướng tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng. Nhánh hữu ngạn
lại chia làm hai hướng từ Sơn Tây – Hà Đông – Hà Nam – Nam Định – Thái Bình –
Ninh Bình, hướng thứ hai từ Sơn Tây – Thanh Hoá - Nghệ An. Nhánh tả ngạn cũng
chia làm hai hướng, thứ nhất từ Sơn Tây – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, hướng thứ hai từ
Sơn Tây - Bắc Ninh - Bắc Giang – Hưng Yên - Lạng Sơn – Cao Bằng – Tuyên Quang.
Dựa trên bản đồ phân bố các vị thành hoàng ở Bắc Ninh của Nguyễn Văn Huyên,
Nguyễn Duy Hinh đưa ra nhận định: Ở Bắc Ninh có 7 Sơn thần, còn ở Bắc Giang thì
số Sơn thần không nhiều lắm.
luôn cầu mong sự phù hộ của các thần tự nhiên và Sơn thần là một dạng thức đó.
Trên cả một vùng xứ Bắc rộng lớn có rất nhiều núi và nơi nào có núi thường có
di tích thờ Cao Sơn, Quý Minh. Bên cạnh đó còn có một vệt thờ hai nhân vật này nằm
rải rác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ở xứ Bắc, tục thờ Thần núi mang đặc trưng riêng,
không còn là một hệ thần núi bao gồm bộ ba Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý
Minh, mà chỉ gồm có Cao Sơn, Quý Minh. Trên thực tế Cao Sơn, Quý Minh được các
thần tích ghi chép lại và được truyền thuyết hoá rất nhiều nơi với những dạng thức
khác nhau như được ghi chép dưới dạng thần tích theo kết cấu hoàn chỉnh: sự ra đời,
chiến công và hoá thân, cũng có khi họ hiện lên dưới báo mộng, phù trợ giúp các tướng
lĩnh đời sau đánh giặc ngoại xâm.
3. Truyền thuyết về thần Đá (Thạch thần)
Xứ Bắc có rất nhiều nơi thờ thần Đá và gắn liền với nó là các truyền thuyết và
sinh hoạt tín ngưỡng dân gian. Theo số liệu thống kê của Trần Đình Luyện trong
chuyên khảo Luy Lâu lịch sử và văn hóa
(14)
có những dạng đá thiêng như sau: Trụ đá
Thạch Biểu hay Biểu Nương Phật - vị tướng của Hai Bà Trưng ở thôn Thanh
Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh; Hòn đá dấu chân của Thánh Gióng và cột đá
dùng để buộc ngựa của Thánh Gióng ở thôn Thượng, xã Vạn Linh, huyện Gia Lương,
Bắc Ninh; Bia đá “Lý Gia Linh Thạch” ở xã Tương Giang, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
Ninh; Cột đá chạm rồng và Bàn cờ đá (bàn cờ tiên) ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ
(nay thuộc thành phố Bắc Ninh ); Bàn đá (Điện kính thiên) ở xã Đức Long, huyện
Quế Võ, Bắc Ninh; Tảng đá nguyên khối Thần Cao Sơn, tướng của Hùng Vương ở
Xã Vân Tương, huyện Việt Yên, Bắc Giang; Tảng đá nguyên khối Thạch Linh thần
tướng, tướng của Hùng Vương ở xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, Bắc Giang; tảng đá
(gọi là ve đá dựng: Thần Quý Minh tướng của Hùng Vương) ở xã Đại Đồng, huyện
Tiên Du, Bắc Ninh.
Ngoài ra còn có rất nhiều nơi thờ thần đá ở xứ Bắc hiện chưa được đề cập đến,
như: Ba pho tượng đá ở chùa Khám, làng Ngọc Khám, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh; Ba ông bụt bằng đá thờ ở chùa Bụt Mọc, thôn Sơn Đông, xã Nam Sơn, huyện
chuyển mình thành một người cao lớn, xin nhà vua cấp cho vũ khí để giết giặc. Sau khi
ra trận giết hết lũ giặc, quay về đến trang Tiên Lát, xuống voi vào lạy chào cha mẹ
nuôi rồi lên núi Phượng Hoàng bay lên trời. Dấu tích thờ tự hiện vẫn còn ở Tiên Lát,
Việt Yên, Bắc Giang. Nhưng bên cạnh đó cũng có những nét khác biệt, nếu như Thánh
Dóng sinh ra do người mẹ ướm phải vết chân lạ, rồi xin nhà vua đúc ngựa sắt, áo giáp
sắt, một cây gậy sắt để ra trận thì trong truyền thuyết về Thạch Tướng Quân, Thạch
Tướng Quân sinh ra từ đá, khi ra trận xin nhà vua đúc cho các vũ khí bằng đá, như: voi
đá, cờ lệnh đá, kiếm đá.
Truyền thuyết thứ ba mang đậm tính chất thần thoại đó là câu chuyện về ông
Đổng ở vùng Bắc sông Đuống thuộc thôn Đổng Viên, xã Phù Đổng ngày nay. Ở thôn
Đổng Viên có một tảng đá, in hằn dấu chân lớn, tương truyền đó là dấu chân ông Đổng
để lại, bà mẹ Gióng ra ướm thử rồi về sinh ra Gióng. Vì thế dân gian gọi ông Gióng là
ông Đổng con.
Bản khác kể rằng ông Đổng là sư, tu ở núi Phả Lại. Ông đúc một chiếc chuông
đồng đen cực lớn, đánh lên tiếng kêu vang lừng Bắc Quốc, trâu vàng Trung Quốc nghe
thấy chạy sang. Lo sợ sẽ có binh đao nên ông Đổng đã đạp đổ cái chuông xuống sông
Lục Đầu, chỗ ấy gọi là Vực Chuông.
Ông Đổng là hình tượng người khổng lồ, đây cũng là một motif quen thuộc
trong truyện kể dân gian Việt Nam, đặc biệt là trong thần thoại. Hình tượng ông Đổng
là một trường hợp độc đáo, bởi nó là một minh chứng sống động phản ánh về một vùng
đất cổ, đồng thời biểu hiện dấu ấn tư duy huyền thoại của người dân xứ Bắc.