KỶ NIỆM 135 NĂM NGÀY HY SINH CỦA “TỨ KIỆT” (14/2/1871 - 14/2/2006)
***
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VỀ “TỨ KIỆT”
ThS. Võ Phúc Châu
“Tứ Kiệt” hay “Bốn Ông” là cách gọi tôn kính của nhân dân dành cho 4 vị
anh hùng lãnh đạo nghĩa quân buổi đầu chống Pháp ở vùng Cái Bè, Cai Lậy:
ông Nguyễn Thanh Long, người xóm Cầu Ván, ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn,
huyện Cai Lậy; ông Trần Công Thận, tự Phượng, người xóm Võng, làng Mỹ
Trang, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy; ông Trương Văn Rộng, người xã Tân
Hiệp, Bến Tranh (nay là Tân Lý Đông, huyện Châu Thành) và ông Ngô Tấn
Đước, người xóm Vuông, xã Tân Hội, huyện Cai Lậy.
1. Cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt trở thành truyền thuyết dân gian
Định Tường xưa (tức Tiền Giang ngày nay) tự hào vì có bốn anh hùng người địa
phương dám vùng lên đánh Pháp.
Bốn Ông vốn là lính đồn điền, cần cù khai hoang mở đất. Khi giặc Pháp xâm
chiếm Nam Bộ, thù giặc ngất trời, Bốn Ông cùng theo Thiên Hộ Dương và Đốc Binh
Kiều khởi nghĩa. Sau nhiều trận đánh đầy quả cảm, Thiên Hộ Dương gặp nạn qua
đời, Đốc Binh Kiều hy sinh, lực lượng nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười tan rã. Bốn
Ông trở về quê nhà, tập hợp nghĩa quân, hoạt động xông xáo khắp vùng Cái Bè, Cai
Lậy.
Tương truyền, “Tứ Kiệt” người to lớn khác thường, nước da màu đồng đen. Ai
nấy đều có võ nghệ cao cường, tướng pháp lanh lẹ, râu rậm, tóc dài chấm gót. Các vị
có biệt tài chạy nhanh và nhảy cao. Có lần, để thoát vòng bố ráp của giặc, một trong
Bốn Ông đã cặp thêm bên nách một cháu nhỏ khoảng 10 tuổi, chạy vun vút như tên,
tóc xổ ra phất phới như lá cờ.
Buổi đầu, nghĩa quân “Tứ Kiệt” chỉ có vũ khí thô sơ, phần nhiều là giáo mác,
gậy gộc, nhưng họ đã biết áp dụng chiến thuật dân gian, đánh giặc theo lối của cha
1
ông “dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều”. Trên đường giặc hay càn quét, họ đào
hầm chông, gài ổ ong vò vẽ. Họ cưa gần đứt ván cầu, cắm chông dưới lòng kênh
hỏa hoạn mới được chấm dứt.
Về sau, dân chúng còn ngấm ngầm lập miếu thờ Bốn Ông tại ấp Mỹ Cần, xã Mỹ
Trang. Nhưng để che mắt thực dân, bà con tôn trí tượng Quan Công ở phía trước
(nhân vật tiêu biểu trung nghĩa), còn ở phía sau thì làm một cái khánh thờ “Tứ vị thần
hồn” và giải thích là “Chùa Ông” (Quan Công) hoặc “Miếu cô hồn”. Nhưng sâu kín
tận đáy lòng, không ai không biết đó là miếu thờ “Tứ Kiệt”.
Sau trận bão năm Thìn (1904), toàn bộ nhà cửa, dinh thự trong vùng “Miếu cô
hồn” bị sập. Chính quyền thời Pháp xây cất bệnh viện ở đây. Bà con không chịu để
Bốn Ông gần nơi ô uế nên đã dời dựng miếu về cạnh mộ, tại Hòa Sơn (trước là xã
Thạnh Hòa, nay là thị trấn Cai Lậy).
Từ đó đến nay, hàng năm, cứ đến ngày 25 tháng Chạp, người dân Cai Lậy luôn
thành kính tưởng niệm ngày “Tứ Kiệt” hy sinh.
2. Truyền thuyết dân gian về Tứ Kiệt – một phần diện mạo của truyền thuyết
dân gian Nam Bộ
Nhìn từ phương diện nghệ thuật, truyền thuyết dân gian về “Tứ Kiệt” đã phản
ánh những nét độc đáo của thể loại truyền thuyết nói chung và truyền thuyết dân gian
Nam Bộ nói riêng. Từ cái lõi lịch sử đầy bi tráng, nhân dân đã thêu dệt thêm nhiều
yếu tố hoang đường. Từ những sự kiện, tình tiết rời rạc, nhân dân xâu chuỗi chúng
thành tác phẩm tự sự dân gian, thông qua những motif
(*)
đặc sắc, mang diện mạo của
truyền thuyết dân gian Nam Bộ.
Dưới đây là một vài motif đặc sắc đã góp phần hình thành truyền thuyết dân gian
về “Tứ Kiệt”
2.1. Motif Ngoại hình khác lạ :
Truyền thuyết dân gian ở Nam Bộ hoàn toàn không có loại nhân vật xuất hiện
thần kỳ. Không có kiểu lớn nhanh như thổi, biến hình đội lốt,… như thường gặp
trong thần thoại hoặc cổ tích. Nguồn gốc của họ rất bình thường và rõ ràng: gia đình
nông dân, con nhà chài lưới, cảnh ngộ thanh bần,… Tuy nhiên, họ thường có ngoại
(
2.4. Motif Thắng trận
Trong truyền thuyết lịch sử, thử thách lớn nhất của nhân vật là quá trình chống
lại lực lượng phi nghĩa (thù trong, giặc ngoài). Dẫu biết vùng lên rồi chiến bại, những
người thất thế vẫn cứng cỏi, hiên ngang. Sức mạnh tập thể và tài trí cá nhân giúp họ
đôi phen thắng trận lẫy lừng. Dội vào truyền thuyết dân gian Nam Bộ, chiến công
chống ngoại xâm kết tụ thành motif thắng trận. Truyền thuyết về “Tứ Kiệt” đã tường
4
thuật sinh động, cụ thể chiến công đánh thành Định Tường và đồn Cai Lậy của các
anh hùng.
2.5. Motif Tự nguyện ra hàng
Motif này có lẽ chỉ hiện diện trong truyền thuyết dân gian Nam Bộ. Nó phản ánh
sự thâm độc của kẻ thù và đức hy sinh cao cả của những anh hùng kháng Pháp. Vì
sao truyền thuyết bấy giờ có nhiều nhân vật ra hàng đến vậy? Nào phải họ tham sanh
úy tử, nào phải họ thèm bả vinh hoa. Họ ra hàng chỉ vì muốn đổi mạng, cứu người
thân. Kẻ thù nham hiểm, biết rõ điểm yếu của người anh hùng: luôn hiếu thảo với cha
mẹ, yêu thương vợ con, chiến hữu. Không bắt được họ, chúng hèn hạ giam giữ, tra
tấn người thân của họ. Tình cảnh bi thảm ấy khiến Nguyễn Trung Trực, Quản Hớn,
rồi đến lượt “Tứ Kiệt” … lần lượt ra hàng. Họ thà chọn cái chết để cứu người thân.
Hình ảnh các anh hùng lần lượt sa vào tay giặc đã tạo ra một góc trời ảm đạm trong
truyền thuyết thời này.
2.6. Motif Bị hành quyết
Trải bốn nghìn năm chống kẻ thù xâm lược, có lẽ chưa bao giờ đất nước ta bị tổn
thất nhân tài nhiều như thời chống Pháp. Hàng loạt người con ưu tú của Nam Bộ
dựng cờ khởi nghĩa. Triều đình đớn hèn trở mặt, quay lưng. Giặc Pháp bạo tàn, ngang
ngược. Bọn tay sai mặc sức “cõng rắn cắn gà nhà”. Bè lũ cướp nước và bán nước ra
sức câu kết nhau, ruồng bố, thảm sát các phong trào khởi nghĩa. Bởi vậy, biết bao
phong trào kháng chiến bị kẻ thù tắm trong bể máu, biết bao dũng tướng chịu án tử
hình. Tình cảnh ấy là cơ sở xã hội hình thành nên motif anh hùng bị hành quyết.
Truyền thuyết về “Tứ Kiệt” cũng xuất hiện motif này, qua cảnh tượng Bốn Ông
bị kẻ thù xử chém và bêu đầu ngày 25 tháng Chạp.
Mảng truyện này nằm trong nhóm truyện về cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương.
Chính hình tượng sống động của những anh hùng nông dân trên đất Tiền Giang đã
tiếp thêm âm vang cho khúc tráng ca của những người thất thế.
Về phương diện nghệ thuật, truyền thuyết về Tứ Kiệt là một trong những tự sự
dân gian thể hiện khá đầy đủ, đậm nét những đặc điểm, diện mạo của truyền thuyết
dân gian Nam Bộ.
6
Truyền thuyết dân gian về Tứ Kiệt xứng đáng là một trong những viên đá quý
làm nên xâu chuỗi truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa buổi đầu chống Pháp ở
đất phương Nam.
Mỹ Tho, tháng 12 năm 2005
VPC
7