Tài liệu Một Hướng Dẫn Nhỏ Về Tư Duy Bình Phẩm - phần 2 - Pdf 97

Một Hướng Dẫn Nhỏ Về Tư Duy Bình Phẩm

Joe Lau
6. Những Khái Niệm Logic Cơ Bản

Tính Kiên Định (Consistency)

Hai (hay nhiều hơn) những câu nói không kiên định với mỗi câu khác khi mà một
cách logic không thể nào tất cả chúng đều đúng vào cùng một lúc. Ví dụ, "trái đất
thì phẳng" và "trái đất hình cầu" là những câu nói không kiên định vì không có thứ
gì mà có thể vừa phẳng và vừa hình cầu. Nói cách khác, nếu bạn có 2 câu nói mà
cả hai đều đúng thì chúng chắc chắn không kiên định.
Sự Kế Thừa Theo Thứ Tự (Entailment)
Một câu X dẫn đến Y nếu Y theo sau X một cách logic. Nói cách khác, nếu X là
đúng thì Y cũng phải đúng, ví dụ: "30 người vừa mới chết trong các cuộc nổi loạn"
dẫn đến "hơn 20 người đã chết trong các cuộc nổi loạn", nhưng không thể suy
ngược lại. (TQ hiệu đính: X > Y khác với Y ==> X. Có X rồi mới có Y thì chưa
chắc đồng nghĩa với có Y rồi mới có X).
Nếu X dẫn đến Y và chúng ta tìm ra rằng Y sai thì chúng ta sẽ kết luận rằng X
cũng sai. Nhưng dĩ nhiên, nếu X dẫn đến Y và chúng ta tìm ra rằng X sai thì không
được suy ra rằng Y cũng sai.
Nếu X dẫn đến Y nhưng Y không dẫn đến X, thì chúng ta nói rằng X là một yêu
cầu mạnh hơn Y (hay "Y thì yếu hơn X"). Ví dụ, "tất cả những con chim thì có thể
bay" mạnh hơn là "hầu hết những con chim thì có thể bay", mà câu này thì lại
mạnh hơn câu "một số con chim thì có thể bay".
Một yêu cầu mạnh hơn thì dĩ nhiên nó có thể dễ sai hơn. Để sử dụng một ví dụ
tiêu biểu, giả sử chúng ta ca ngợi X nhưng không chắc rằng X có phải là tốt nhất
hay không, chúng ta có thể sử dụng một yêu cầu yếu hơn "X là một trong những
cái tốt nhất" hơn là sử dụng một yêu cầu mạnh hơn "X là tốt nhất". Vì vậy chúng
ta cần không bị buộc tội là nói sai ngay cả khi nếu X có trở thành cái tốt nhất. (TQ
hiệu đính: xem Lý Luận Kinh Tế căn bản, phần "nói khoát" có ít mà xít ra to).

là do". Tuy nhiên đôi khi thì những kết luận của một lý lẽ có thể không được viết
ra một cách rõ ràng. Ví dụ nó có thể được thể hiện bởi một câu hỏi tu từ:
· Làm sao bạn có thể tin rằng sự sửa đổi đó thì có thể chấp nhận được? Nó không
công bằng cũng không hợp pháp!
Chúng ta có thể xây dựng lại lý lẽ một cách rõ ràng như sau:
· Sự sửa đổi thì không công bằng và nó cũng không hợp pháp.
· Vì vậy, sự sửa đổi thì không thể chấp nhận được.
Kỹ năng đọc tốt bao gồm khả năng xây dựng lại các lý lẽ mà nó được thể hiện một
cách không mạch lạc, và kỹ năng viết và diễn đạt tốt bao gồm khả năng thể hiện
những lý lẽ một cách có hệ thống và rõ ràng.
8. Giá Trị (Validity) Và Tính Hợp Lý (Soundness)
Ý của một LÝ LẼ CÓ GIÁ TRỊ (Valid) là một trong những khái niệm quan trọng
nhất trong tư duy bình phẩm, vì vậy bạn nên chắc chắn rằng bạn hoàn toàn hiểu rõ
chủ đề này. Một cách cơ bản, một lý lẽ có giá trị là cái mà khi các tiền đề dẫn đến
kết luận. Nói cách khác, một lý lẽ có giá trị, một cách cần thiết, là trường hợp mà
kết luận đúng nếu những tiền đề đều đúng.Vậy đây là một lý lẽ có giá trị:
· Barbie thì đã trên 90 tuổi. Vì vậy Barbie trên 20 tuổi .
Một cách hiển nhiên, nếu tiền đề đúng thì không thể nào mà kết luận lại sai. Vì
vậy lý lẽ thực sự có giá trị. Chú ý rằng giá trị của lý lẽ không phụ thuộc vào việc
tiền đề thực sự có đúng hay không. Ngay cả nếu Barbie thực sự chỉ 10 tuổi, lý lẽ
cũng vẫn có giá trị. Sự giá trị (validity) chỉ yêu cầu rằng khi những tiền đề
đúng thì kết luận cũng vậy. Nó tùy vào mối quan hệ logic giữa các tiền đề và kết
luận. Nó không phụ thuộc vào việc nó thực sự sai hay đúng. Một lý lẽ có giá trị có
thể có những tiền đề sai và một kết luận sai. Một lý lẽ có giá trị có thể có tiền đề
sai nhưng có một kết luận đúng, như khi Barbie là trên 30 tuổi.
Tuy nhiên, đây không phải là một lý lẽ có giá trị. Nó không có giá trị:
· Barbie thì trên 20 tuổi. Vì vậy Barbie thì trên 90 tuổi.
Lý lẽ không có giá trị vì có thể là tiền đề đúng và kết luận thì sai, như khi Barbie
thì 30 tuổi, hay 80 tuổi. Gọi cách phản chứng này là Ví Dụ Phản Chứng với lý lẽ.
Một cách cơ bản, chúng ta đang định nghĩa rằng một lý lẽ có giá trị khi không có

· Đồng tính là sai trái vì nó không tự nhiên.
Lý lẽ này không có giá trị. Một số người đưa ra một lý lẽ như vậy thì có thể đoán
chừng ở trong đầu một giả định ẩn rằng bất cứ cái gì không tự nhiên là sai. Trừ khi
giả định này được cộng thêm thì lý lẽ trên mới có giá trị.
Một khi điều này được chỉ ra, chúng ta có thể hỏi rằng nó có đúng hay không.
Chúng ta có thể đưa ra ví dụ, rằng có rất nhiều thứ mà nó "không tự nhiên" nhưng
thường thì không bị xem là sai trái (ví dụ: chơi
game trên máy truyền hình, một ca
mổ, phương pháp tránh thụ thai). Như ví dụ minh họa, chỉ ra được một giả định ẩn
trong một lý lẽ có thể giúp chúng ta giải quyết lại hay làm sáng tỏ những vấn đề
liên quan trong cuộc tranh luận.
Trong cuộc sống hằng ngày, những lý lẽ chúng ta thường bắt gặp là những lý lẽ
khi mà những giả định quan trọng không được nói thẳng. Nó là một phần quan
trọng của tư duy bình phẩm mà chúng ta sẽ có thể nhận ra những giả định ẩn hay
những giả định ngầm như vậy. Cái cách để làm điều này là nhìn xem sự giả định
thêm nào để làm nó có giá trị. (TQ hiệu đính: để trở thành con người có tư duy
bình phẩm tốt, chúng ta nên lắng nghe và tìm ra những giả định ngầm của người
khác, và đồng thời xem xét coi các giả định ngầm đó đúng hay sai.)
9. Những Mẫu Lý Lẽ Có Giá Trị
Một cách hiển nhiên những lý lẽ có giá trị thể hiện một vai trò rất quan trọng trong
sự tranh luận, bởi vì nếu chúng ta bắt đầu với những giả định đúng, và chỉ sử dụng
những lý lẽ có giá trị để thiết lập những kết luận mới, thì những kết luận của
chúng ta cũng phải đúng. Nhưng làm cách nào chúng ta quyết định là một lý lẽ có
giá trị hay không" Đây là chỗ để thể hiện hình thức logic. Bằng cách sử dụng
những biểu tượng đặc biệt chúng ta có thể diễn tả những mẫu lý lẽ có giá trị, và
trình bày rõ ràng những nguyên tắc để đánh giá giá trị của một lý lẽ. Chúng tôi
giới thiệu một ít những mẫu lý lẽ có giá trị ở bên dưới. Bạn nên học để có thể nhận
ra những mẫu đó và sử dụng chúng trong cuộc tranh luận.
Modus ponens
Xem xét những lý lẽ sau:

Ở đây là một số những mẫu lý lẽ có giá trị khác:
Modus Tollens
· Nếu P thì Q. Không Q. Do đó, không P.
Ở đây, "không-Q" đơn giản có nghĩa là phủ nhận Q. Vì vậy nếu Q là "Hôm nay thì
nóng" thì "không-Q" có thể được sử dụng như là "không phải là trường hợp hôm
nay trời nóng", hay "hôm nay không nóng."
· Nếu Norah Jones sẽ tới Hồng Kông ngày hôm nay, báo chí sẽ báo cáo về điều
này. Nhưng không có báo cáo nào như vậy ở trên báo, vì vậy Norah Jones sẽ
không đến Hồng Kông ngày hôm nay.
Nhưng hãy phân biệt Modus Tollens với mẫu lý lẽ sai sau đây:
· Phủ nhận tiền đề - Nếu P thì Q, không-P. Do đó, không-Q.
· Nếu Elsie có trình độ, cô ấy sẽ tìm được một việc làm tốt. Nhưng Elsie không có
trình độ. Vì vậy cô ta sẽ không có được một việc làm tốt. (TQ hiệu đính: Elsie
không có trình độ, nhưng cô ta may mắn có công việc tốt thì sao?)
Suy Luận Giả Thuyết (Hypothetical Syllogism)
· Nếu P thì Q, nếu Q thì R. Do đó, nếu P thì R.
· Nếu Chúa tạo ra vũ trụ thì vũ trũ sẽ hoàn hảo. Nếu vũ trụ là hoàn hảo thì sẽ
không có cái ác. Vậy nếu Chúa tạo ra vũ trụ thì sẽ không có cái ác.
Suy Luận Phân Biệt (Disjunctive Syllogism)
· P hay Q. Không-P. Do đó, Q; P hay Q, không-Q. Do đó, P.
· Hoặc là chính phủ đưa ra những cải cách giáo dục mà có thể thấy được nhiều hơn
nữa, hoặc những trường tốt sẽ chỉ là truờng tư nhân cho những học sinh giàu có.
Chính phủ thì không dự định thực hiện cải tạo giáo dục trong những ngày gần đây.
Vì vậy những trường tốt sẽ chỉ là những trường tư nhân cho những học sinh giàu
có.
Song Đề (Dilemma)
· P hay Q. Nếu P thì R. Nếu Q thì S. Do đó, R hay S.
Khi R thì tương tự như S, chúng ta có một cấu tạo đơn giản: P hay Q. Nếu P thì R.
Nếu Q thì R. Do đó, R.
· Chúng ta gia tăng thuế suất hoặc không. Nếu chúng ta tăng thuế suất, người dân

Giả sử những sự kiện A thì liên quan trực tiếp với những sự kiện B. Một sai lầm
chung trong nguyên nhân tranh luận là nhảy vọt đến kết luận rằng A là do B. Điều
này sẽ là một kết luận hấp tấp bởi vì có những sự giải thích có thể khác mà nó bị
bác bỏ từ đầu:
Trật Tự Nhân Quả Bị Đảo Ngược
Giả sử chúng ta tìm thấy rằng ai mà sử dụng sổ điện tử và sổ địa chỉ điện toán có
khuynh hướng là trí nhớ họ kém hơn. Tự nhiên chúng ta nghĩ rằng giảm trí nhớ là
do quá dựa dẫm vào những dịch vụ điện toán. Nhưng nó có thể là một cách khác.
Có lẽ có một sự tương quan như vậy là do ai mà không có trí nhớ tốt (do di truyền
hay những nguyên nhân khác) thì có thể dựa dẫm vào những dịch vụ như thế nhiều
hơn.
Những Sự Kiện Liên Quan Có Chung Một Nguyên Nhân
Giả sử một nghiên cứu cho thấy rằng những cặp kết hôn có quan hệ tình dục nhiều
hơn thì có thể là ít ly hôn hơn. Có phải một người quan hệ tình dục nhiều hơn thì
sẽ tránh được việc ly hôn không? Trước khi đưa ra một kết luận như vậy, chúng ta
phải xem xét khả năng là có thể có một nguyên nhân chung bên dưới những sự
kiện liên quan. Trong trường hợp đặc biệt này, lý do cho sự tượng quan có lẽ là
nếu 2 người yêu thương lẫn nhau, họ có quan hệ nhiều hơn và ít có thể tách rời
nhau. Vì vậy tình yêu là nguyên nhân chung đằng sau những sự kiện liên quan.
Một cách đơn giản thì quan hệ tình dục nhiều hơn vẫn có thể dẫn đến ly hôn. Nó
có thể có hiệu quả ngược lại.
Sự Tương Quan Là Một Sự Trùng Hợp Ngẫu Nhiên
Một sự tương quan cung cấp bằng chứng cho mối quan hệ nhân quả chỉ khi sự
tương quan mạnh và có thể quan sát được nhiều lần. Chỉ vì tôi mất vật gì đó 2 lần
vào một ngày thứ sáu xui xẻo không thể chứng thực rằng là có ma quỷ. Một cách
tương tự, một người đàn ông hết bị bệnh đầy bụng mỗi lần anh ta uống một viên
thuốc Trung Quốc nào đó sẽ không đưa tới kết luận rằng thuốc làm cho anh ta cảm
thấy tốt hơn. Có lẽ chứng đầy bụng của anh ta không liên quan nhiều và chúng sẽ
hết nhanh chóng cho dù anh ta có làm gì đi nữa. Vì vậy anh ta thấy có vẻ tốt hơn
chỉ là một sự ngẫu nhiên và thuốc không cung cấp bất kỳ lợi ích nào cả. Để thấy

vọt từ những yêu cầu miêu tả
Mơ Hồ đến những kết luận được tiêu chuẩn hóa. Chỉ
vì chuyện nào đó xảy ra khá nhiều không có nghĩa nó phải như vậy. Một số con
vật giết những con yếu và già, hay để cho chúng chết một cách đau đớn, nhưng
không có nghĩa là chúng ta cũng sẽ làm như vậy. Để suy luận một câu nói được
tiêu chuẩn hóa, bạn cần tạo những giả định về các giá trị hay về việc cái nào là
đúng, cái nào là sai. Nó là một sai lầm để cố gắng đưa ra những câu nói được tiêu
chuẩn hóa độc nhất trên những cơ sở của những câu nói miêu tả. Một sai lầm như
vậy được biết như là
Sai Lầm Tự Nhiên (The Naturalistic Fallacy).
12. Những Ý Kiến Sai Lầm
Những ý kiến sai lầm là những lỗi của cuộc tranh luận, vì tạo ra lỗi mà nó thuộc
một bản chất tự nhiên. Nếu tôi đếm 20 người trong phòng khi mà thực sự có 21
người, thì tôi đã tạo ra một sai lầm thực sự. Nói cách khác, nếu tôi tin rằng có
những hình vuông tròn, tôi đang tin vào cái mà nó mâu thuẫn. Đó là một lỗi của
của tranh luận, và một ý kiến sai lầm, vì tôi sẽ không tin những chuyện mâu thuẫn
nếu cuộc tranh luận của tôi tốt.
Nói chung, chúng ta có thể chia những sai lầm thành 4 loại:
1. Những sai lầm của sự mâu thuẫn là những trường hợp khi mà một cái gì đó mâu
thuẫn hay bản thân nó thất bại được đưa ra hay chấp nhận, như khi tin vào sự tồn
tại của hình vuông tròn.
2. Kế tiếp chúng ta có sai lầm của những sự phỏng đoán không thích hợp. Đây là
những trường hợp khi chúng ta có một sự giả định hay một câu hỏi giả định một
cái gì đó mà nó không hợp lý để mà chấp nhận trong ngữ cảnh nói chuyện thích
hợp. Hỏi rằng có phải bản chất con người là tốt hay xấu không, giả định rằng có
một số thứ như là bản chất của con người và nó thì phải hoặc tốt hoặc xấu. Nhưng
những giả định này không thể chính xác, và nếu không có lý do chính đáng thì câu
hỏi có thể không hợp lý.
3. Những sai lầm của sự thích đáng (relevance) là những trường hợp khi một giả
định không thích đáng (irrelevance) được sử dụng để ngụy biện cho một kết luận.

những nguồn thông tin này:
· Patrick Hurley (2003).
A Concise Introduce to Logic, Wadsworth xuất bản lần
thứ 8.
· Anthony Weston (2001).
A Rulebook for Arguments, Hackett xuất bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status