ĐỀ: CMR: Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp
điệu, giàu hình ảnh, thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về tự nhiên vào lao
động sản xuất.
BÀI LÀM:
Trong đời sống, lao động học tập, ông cha ta – những thế hệ đi trước đã có
những kinh nghiệm, những đúc kết lâu đời mà nó đã được khẳng định, liên hệ với
thực tế qua nhiều thế hệ. Những đúc kết, kinh nghiệm đó đã được thể hiện dưới
những câu nói hằng ngày, mang tính chất đơn giản. Qua thời gian, nhờ sự sáng tạo
của nhân dân, những câu nói thường ngày đó đã được thể hiện, bộc lộ dưới những
câu từ vần điệu, âm sắc, ngắn gọn, giàu hình ảnh và có tính biểu trưng cao, phổ
biến trong nhân gian. Đó là “kho báu văn học dân gian: Tục ngữ”, giúp chúng ta
vận dụng trong đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói ở mọi lúc, mọi nơi. Chúng như
lời gợi ý, sự trợ giúp giúp chúng ta có thể định hướng được con đường đúng đắn,
hợp lí nhất. Tục ngữ dân gian Việt Nam chia làm nhiều nhóm như tục ngữ về thiên
nhiên, lao động sản xuất ; tục ngữ về con người xã hội Và nội dung rất nhiều câu
tục ngữ thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về tự nhiên vào lao động sản
xuất.
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, có vần
điệu, có hình ảnh, dễ nhớ, dễ thuộc. Mỗi câu tục ngữ đều dùng hình ảnh, sự việc,
hiện tượng cụ thể để nói lên ý niệm trừu tượng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ
biến vì vậy ở mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen (nghĩa hẹp) và nghĩa
bóng (nghĩa rộng). Cái cụ thể, cá biệt tạo nên nghĩa đen; cái trừu tượng, phổ biến
tạo nên nghĩa bóng. Đặc biệt là ở những câu tục ngữ nói về quan niệm, lối sống và
đạo đức của nhân dân: "Môi hở răng lạnh", "Chó cắn áo rách", "Đục nước béo cò",
"Năng nhặt chặt bị"
Hình ảnh trong tục ngữ là những hình ảnh từ cuộc sống phong phú nhiều
màu, nhiều vẻ được nhân cách hóa rất linh hoạt và sinh động: "Đũa mốc chòi mâm
son", "Khố son bòn khố nâu" hầu hết các câu tục ngữ đều có vần, nhiều nhất là
vần lưng nên nhịp điệu nhanh, mạnh, vững chắc : "Được làm vua, thua làm giặc",
"Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu", "Chê thằng một chai, lấy thằng hai
nậm", "Gái một con trông mòn con mắt" còn những câu không vần thường giữ
cày cấy, gặt hái,… phải chủ động, phải dự đoán, dự báo được thời tiết. “Nhiều sao
thì nắng, vắng sao thì mưa”. Chỉ có tám chữ, với cách nói vần vè mà nêu lên một
kinh nghiệm quý báu. Về mùa hè, nhìn lên bầu trời đêm, thấy sao chi chít lấp lánh
sáng. Trời có trong, đêm có thanh mới có hiện tượng “nhiều sao”, ta có thể biết
ngày mai, ngày kia sẽ nắng. Nếu trái lại, không có sao, “vắng sao”, chỉ lưa thưa sao
thì có thể ngày mai, ngày kia sẽ mưa. Đó là kinh nghiêm nhìn sao mùa hè mà đoán
mưa, nắng. Còn về mùa đông, thì trái lại, ngược lại: “Nhiều sao thì mưa, thưa sao
thì nắng”. Mây, ráng, cây cỏ, chim muông, con người… đều có mối “liên hệ” tự
nhiên với hiện tượng mưa nắng: “Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”, “Ráng
vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa”, “Mùa hè đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa”. Có
lúc nhân dân ta lại nhìn chim để dự đoán thời tiết. Câu tục ngữ: “Quạ tắm thì ráo,
sáo tắm thì mưa”. Chim thì bay, cá thì nhảy. Cũng có lúc chim tắm, quy tắm, sáo
tắm. Chim xòe cánh ra, chúc đầu xuống nước, cánh vỗ làm nước bắn tung tóe lên,
lấy mỏ rỉa lông, rỉa cánh. “Ráo” nghĩa là khô ráo, nắng ráo. Hẽ nhìn thấy : quạ tắm
thì biết là trời còn nắng dài ngày; và nhìn thấy sáo tắm biết được trời mưa. Đó là
kinh nghiêm của bà con ờ vùng trung du và đồng bằng.
Ở miền Duyên hải, ngư dân lại có nhiều kinh nghiệm khác về thời tiết. Ra
khơi đánh cá cần có biển lặng, sóng êm, may mắn gặp luồng cá. Chuẩn bị thuyền
lưới, thức ăn nước uống, đi khơi đi lộng, ngư dân phải quan sát mây gió, sắc trời.
Câu tục ngữ:
“Thâm đông, hồng tây, dựng may,
Ai ơi đợi đến ba ngày hãỵ đi”
một kinh nghiệm quý báu của bà con đánh cá. Nhìn về phía đông, thấy mây, hay
sắc trời đen lại, thâm đi; nhìn về phía tây có ráng đỏ, sắc trời hồng lên, đồng thời
gió may thoảng lên, nổi lên, dựng lên là trời sắp có bão, không thể ra khơi được.
Phải “đợi đến ba ngày” rồi mới được ra khơi, mới “hãy đi”. Có thế mới an toàn.
Con chuồn chuồn là “cái máy” dự báo thời tiết linh nghiệm. Tháng 7 ở miền
Bắc nước ta mưa bão, lũ lụt nhiều. Nhìn thấy chuồn chuồn bay cao hay thấp, bay ít
hay nhiều đều có thể cảm nhận được thời tiết. Những ngày tháng bảy âm lịch, gió
heo may nổi lên, chuồn chuồn động tổ bay ra nhiều, bay rối rít loạn xạ cả lên, vậy
đất đai: “Nhất thì, nhì thục”, “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, “Nhất canh
trì, nhị canh viên, tam canh điền”, “Đầu năm sương muối, cuối năm mua vôi”,
“Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”. Hoặc là những kinh nghiệm trong chăn nuôi,
đánh bắt: “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”, “Tôm đi chạng vạng, cá
đi rạng đông”.
Tóm lại, như Gorki nói : "Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động". Tục ngữ thể hiện một
phần quan trọng của tư liệu khoa học dân gian và triết lý dân gian. Gắn với lao
động, với tự nhiên và những thăng trầm của lịch sử, xã hội, nhân dân đã bộc lộ một
cách sâu sắc kinh nghiệm sống của mình. Tục ngữ luôn được trau chuốt mà vẫn
giữ được cái hồn, cái hình mặc dù có thay đổi một vài từ khi đến "cư trú" ở các địa
phương khác nhau nên nội dung và hình thức ngắn gọn, ổn định, có vần, giàu hình
ảnh, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế
hệ. Tục ngữ cũng cho ta thấy ngoài việc ông cha ta có một óc nhận xét, phán đoán
tinh tế về thế giới tự nhiên thì họ cũng có một đời sống tinh phần phong phú, kín
đáo và ý nhị.