Tài liệu Một Hướng Dẫn Nhỏ Về Tư Duy Bình Phẩm - Phần 1 - Pdf 97

Một Hướng Dẫn Nhỏ Về Tư Duy Bình Phẩm
Joe Lau
1. Giới thiệu
Tư duy bình phẩm (critical thinking) là khả năng tiến hành những tư tưởng độc
lập, có suy nghĩ, và có thể suy nghĩ một cách rõ ràng và hợp lý.
Tư duy bình phẩm không có nghĩa là cải lý hay chỉ trích tư tưởng khác. Mặc dù
những kỹ năng tư duy bình phẩm có thể được sử dụng trong việc vạch trần những
sai lầm và các lý lẽ không đúng, chúng cũng có thể được sử dụng để ủng hộ những
quan điểm khác,và góp phần với những quan điểm khác trong việc giải quyết các
vấn đề và tiếp thu kiến thức có được.
Tư duy bình phẩm là những kỹ năng suy nghĩ chung mà nó hữu dụng đối với tất cả
các loại hoạt động và nghề nghiệp. Suy nghĩ rõ ràng và có hệ thống có thể cải
thiện được sự nhận thức và diễn đạt những ý tưởng, vì vậy khả năng tư duy bình
phẩm tốt có thể nâng cao được các kỹ năng ngôn ngữ và diễn đạt.
Đôi khi người ta có suy nghĩ rằng tư duy bình phẩm không thích hợp với tính sáng
tạo. Đây là một quan niệm sai lầm, vì sự sáng tạo không chỉ là một vấn đề được
nêu ra với những ý tưởng mới. Một con người sáng tạo là một người mà có thể tạo
những ý tưởng mới mà nó hữu dụng và thích hợp với nhiệm vụ mà họ đang thực
hiện. Tư duy bình phẩm thể hiện vai trò quyết định trong việc đánh giá sự có ích
của những ý tưởng mới, lựa chọn những ý tưởng tốt nhất và hổ trợ cho chúng nếu
cần thiết.
Tư duy bình phẩm cũng rất cần thiết cho việc tự phản ánh. Để sống một cuộc sống
có nghĩa và xây dựng cuộc sống của chúng ta một cách phù hợp, chúng ta cần điều
chỉnh và phản ánh trên những giá trị và quyết định của chúng ta. Tư duy bình
phẩm cung cấp những công cụ cho quy trình của sự tự đánh giá.
Chỉ dẫn nhỏ này bao gồm một thảo luận ngắn về những nền tảng của tư duy bình
phẩm. Nó không phải là một sự nghiên cứu toàn diện, cũng không phải là một
cuốn sách giáo khoa đầy đủ. Mục đích là để làm nổi bật một số các khái niệm và
nguyên tắc quan trọng hơn của tư duy bình phẩm để đưa ra một ấn tượng chung
của lĩnh vực này. Để nghiên cứu xa hơn, người đọc có thể tìm kiếm những cuốn
sách và những nguồn trực tuyến liệt kê ở cuối bài.

về việc Peter có thể tới hay không. Nhưng câu nói đó thì đủ nghĩa và đúng ngữ
pháp một cách hoàn hảo. Là một câu chính xác sẽ không diễn đạt những lời nói vô
nghĩa như vậy.
3. Những Định Nghĩa
Sự thiếu rõ ràng về nghĩa có thể cản trở những lập luận hay và gây trở ngại cho
hiệu quả truyền đạt thông tin. Một cách để làm cho nghĩa rõ ràng hơn là sử dụng
định nghĩa. Một định nghĩa được cấu thành bởi 2 phần - một DEFINIENDUM và
một DEFINIEN. Definiendum là một mục mà nó được định nghĩa, trái lại
Definien là một nhóm từ hay những khái niệm được sử dụng trong định nghĩa mà
nó được giả sử rằng nó cùng nghĩa như Definendum. Ví dụ, trong nghĩa của
"chàng độc thân", với nghĩa "một người đàn ông chưa có vợ", từ "chàng độc thân"
là Definiendum, và "một người đàn ông chưa có vợ" là Definien. Chúng ta có thể
chia các định nghĩa thành 4 loại:
Định Nghĩa Báo Cáo (Reportive Definition)
Một định nghĩa báo cáo đôi khi cũng đã biết như là một định nghĩa từ vựng. Nó
báo cáo ý nghĩa tồn tại của một từ. Điều này bao gồm từ "người đàn ông chưa có
vợ" như ví dụ ở trên, hay định nghĩa của "số nguyên" khi nhắc đến bất kỳ một số
nguyên nào lớn hơn 1 và có thể chia hết cho 1 và chính nó. Một định nghĩa báo
cáo diễn đạt từ chính xác mà nó định nghĩa.
Định Nghĩa Qui Định (Stipulative Definition)
Một định nghĩa qui định được sử dụng để giải thích ý nghĩa tồn tại của một từ. Nó
được sử dụng để ấn định một nghĩa mới cho một từ, bất luận một từ đó đã có nghĩa
hay không. Nếu định nghĩa qui định được chấp nhận, thì từ được sử dụng theo
cách mới mà nó được ra lệnh. Ví dụ, giả sử một định nghĩa qui định được đề nghị
định nghĩa "MBA" theo nghĩa "Đã có gia đình nhưng vẫn cập bồ". Chấp nhận một
định nghĩa như thế, chúng ta có thể đi theo sự biểu diễn những người khác là
MBA.
(TQ hiệu đính: MBA viết tắc cho Master of Business Administration, có nghĩa là
Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh. Nhưng MBA còn có nghĩa tiếng lóng là "Married
but Available", nghĩa là "Đã có gia đình nhưng vẫn cặp bồ". Nếu chúng ta quy

vị trí của ngôn từ. Theo cách như vậy, các hệ thống liên lạc của hầu hết những thú
vật sẽ không đủ khả năng là ngôn ngữ.
(TQ hiệu đính: khi tranh cải, những từ ngữ hay khái niệm chính cần phải được
định nghĩa cho chính sác. Ví dụ, "Việt kiều về Việt Nam trở thành người xấu".
Trong câu trên, chúng ta cần phải định nghĩa "xấu"; cái gì và như thế nào là xấu?
Có sự định nghĩa chính xác giúp 2 người tranh luận tránh trường hợp, ông nói gà
bà nói vịt. Thêm một ví dụ khác "người vô thần không có đạo đức". Chúng ta phải
định nghĩa, thế nào là "vô thần", và như thế nào là "đạo đức"?)
Định Nghĩa Thuyết Phục (Persuasive Definition)
Một định nghĩa thuyết phục là bất kỳ định nghĩa nào mà nó gắn với một xúc cảm,
xác thực hay làm giảm đi nghĩa của một từ khi nó không còn nữa. Ví dụ, nhiều
người phản đối việc nạo thai, có thể định nghĩa "nạo thai" là "sự giết hại những
đứa trẻ còn ngây thơ". Định nghĩa này mang một hàm ý chống đối vì mục "sự giết
hại" cho rằng nạo thai là giết người phi pháp, và nó cũng thừa nhận rằng phôi thai
mới cũng là một con người. Một định nghĩa như vậy thì chắc chắn không thích
hợp trong một cuộc tranh luận hợp lý trên tính nguyên tắc đạo đức của việc nạo
thai, mặc dù nó có thể hữu dụng như một công cụ hùng biện. (TQ hiệu đính: chúng
ta cần để ý tới định nghĩa thuyết phục, vì khi chúng ta chấp nhận định nghĩa thuyết
phục, thì chưa tranh cải, chúng ta đã thua. Theo ví dụ trên, nếu chúng ta chấp nhận
phôi thai là con người, thì tất nhiên "nạo thai" là "giết người". Vì thế, chúng ta cần
phải tìm hiểu trọng tâm của vấn đề "phôi thai có phải là con người hay chưa"?)
Định Nghĩa Ước Lượng (Evaluation Definition)
Tiêu chuẩn cho những định nghĩa ước lượng tùy thuộc vào loại định nghĩa mà
chúng ta đang xem xét. Với định nghĩa báo cáo, điều quan trọng là đưa ra định
nghĩa một cách chính xác có được mà cách sử dụng từ nó đã định nghĩa. Đặc biệt,
điều này có nghĩa là định nghĩa sẽ không quá rộng hoặc không quá hẹp.
Một định nghĩa QUÁ RỘNG (hay quá mênh mông) nếu Definien áp dụng những
thứ mà Definiendum không áp dụng. Ví dụ, định nghĩa một máy bay là một máy
móc có thể bay được, định nghĩa này quá rộng vì trực thăng thì cũng là một cái
máy có thể bay, nhưng chúng không phải là máy bay.

Ví dụ, khi chúng ta nói những câu như là "cuộc sống cần phải có oxigen", điều này
thì cũng tương tự như nói rằng oxigen là điều kiện cần thiết đối với việc tồn tại
của sự sống.
Một tình trạng nào đó của vấn đề có thể có nhiều hơn một điều kiện cần thiết. Ví
dụ, để là một người chơi piano hay trong buổi hòa nhạc, có kỹ thuật tốt về ngón
tay là một điều kiện cần. Nhưng điều này chưa đủ. Một điều kiện cần thiết khác là
giỏi biểu diễn nhiều bài nhạc bằng piano.
Kế tiếp, chúng ta nói đến những điều kiện đủ. Để nói rằng X là một ĐIỀU KIỆN
ĐỦ đối với Y thì nói rằng sự có mặt của X bảo đảm sự có mặt của Y. Nói cách
khác, không thể có X mà không có Y. Nếu X có mặt, thì Y cũng phải có mặt. Lặp
lại một số ví dụ:
· Là một hình vuông là điều kiện đủ để có 4 cạnh.
· Có thể chia hết cho 4 là điều kiện đủ để là một số chẵn.
Để thấy được rằng X không phải là điều kiện đủ đối với Y, chúng ta đưa ra trường
hợp khi X có mặt nhưng Y thì không. Ví dụ:
· Yêu một người không là điều kiện đủ để được yêu. Một người rất hèn hạ và xấu
xa yêu một người có thể không được người ta yêu.
· Trung thành thì không đủ để trở thành một người trung thực bởi vì hắn có thể nói
dối để bảo vệ người mà hắn trung thành.
Những biểu thức như là "Nếu X thì Y", hay "X thì đủ đối với Y", có thể cũng được
hiểu như khi nói rằng X là một điều kiện đủ đối với Y. Chú ý rằng một số tình
trạng của vấn đề có thể có nhiều hơn một điều kiện đủ. Xanh da trời là điều kiện
đủ để có màu sắc, nhưng dĩ nhiên xanh lá cây hay màu đỏ thì cũng là điều kiện đủ
để có màu sắc.
Cho 2 điều kiện bất kỳ X và Y, chúng có thể liên kết với nhau theo 4 cách:
· X thì cần nhưng không đủ cho Y.
· X thì đủ nhưng không cần đối với Y.
· X thì cần và đủ đối với Y. (hay "cùng chung cần và đủ")
· X thì không cần cũng không đủ đối với Y.
Sự phân loại này rất hữu dụng khi chúng ta muốn làm sáng tỏ 2 khái niệm liên kết

lộ". Thật ra, câu nói này ngụ ý rằng không có nhà chính trị nào mà không ăn hối
lộ. Nhưng dĩ nhiên chúng ta có thể phản chứng với nhiều ví dụ khác cho cách lập
luận như thế này. Vì vậy người ta nói "Tôi thật sự không có ý nói mỗi hay tất cả
các nhà chính trị." Nhưng sau đó thì chính xác ai là người được đề cập đến"
(TQ hiệu đính: tiếng Việt chúng ta cũng có những từ tương tự. "Quyền" như là cú
đấm hay là quyền hành. "Vô Thượng Sư" là vị sư không cao (nghĩa là lùn) hay là
vị sư không có ai cao hơn (tức là cao nhất). "Tôi có đạo" nghĩa là tôi làm đạo tặc,
hay tôi có theo một tôn giáo).
Sự Lưỡng Nghĩa Về Cú Pháp nghĩa là có nhiều hơn một nghĩa do có nhiều hơn
một cách để giải thích cấu trúc ngữ pháp. Điều này có thể xảy ra ngay cả khi nó
làm rõ cái nào là nghĩa của những từ riêng biệt. Xem xét câu "chúng ta sẽ thảo
luận về sự bạo lực trên ti-vi." Nó có thể có nghĩa là cuộc thảo luận sẽ được điều
khiển trong suốt một chương trình ti-vi, hay nó có thể có nghĩa là bạo lực trên TV
là chủ đề để thảo luận.
Khi có liên quan đến vấn đề ngôn ngữ Lưỡng Nghĩa, chúng ta nên làm rõ ngữ
cảnh nào đối với người nghe thì sự giải thích nào sẽ là chính xác. Khi chúng ta bắt
gặp sự Lưỡng Nghĩa, chúng ta có thể cố gắng làm sáng tỏ ý nghĩa một cách dứt
khoát bằng cách liệt kê ra danh sách tất cả những sự giải thích khác nhau có thể
có. Qui trình của sự thay đổi lại sự Lưỡng Nghĩa này được biết như là "sự rõ
ràng". Thông thường, tránh né sự Lưỡng Nghĩa chỉ ứng dụng đối với những tình
huống khi chúng ta muốn liên lạc một cách hoàn toàn và chính xác. Tuy nhiên,
trong các hoạt động văn chương, sự Lưỡng Nghĩa có thể thật sự là một nghệ thuật.
Sự Mơ Hồ (Vagueness)
Một từ là mơ hồ nếu nó có một ranh giới không chính xác. Khi mặt trời mọc thì
vùng xung quanh trở nên tối, nhưng không có biên giới rõ rệt khi mà vùng xung
quanh chuyển từ sáng sang tối. Vì vậy "tối" và "sáng" là những từ mơ hồ.
"Cao" thì cũng mơ hồ vì có những trường hợp khó mà nói được là một người có
cao hay không, nhưng sự do dự này không phải do thiếu hiểu biết về chiều cao của
con người. Bạn có thể biết một cách chính xác một người cao bao nhiêu, nhưng
bạn vẫn không thể quyết định rằng anh ta có cao hay không. Những từ này là do

quan trọng hơn tiền không? À, còn tùy. Nếu bạn thiếu ăn đến chết, thì tiền là quan
trọng hơn. Nhưng nếu bạn đang tìm kiếm một người nào đó cho cuộc đời bạn, thì
tình yêu có lẽ sẽ tốt hơn cho bạn. (TQ hiệu đính, nhất là khi bạn đã giàu có, thì
tình yêu trăm năm lại rất là quan trọng).
Do đó chỉ nói rằng cái gì đó thì hữu dụng hay quan trọng thì vô nghĩa trừ khi làm
rõ là nó hữu dụng hay quan trọng theo cách nào. Đây là 2 lời nói mẫu mà nghĩa
của chúng thì không đầy đủ:
· "Có phải bài thi cuối khóa năm nay sẽ tương tự như bài năm ngoái không"?
· "Đẹp thì tốt hơn là giỏi. Nhưng giỏi thì tốt hơn là xấu."- Oscar Wilde (1854 "
1900)
Sự Bóp Méo (Distortion)
Sự bóp méo là vấn đề sử dụng những từ với những liên tưởng ngữ nghĩa không
thích hợp, hay sử dụng những từ theo cái cách mà làm lệch đi so với nghĩa chuẩn
của nó mà không có các dấu hiệu rõ ràng.
Việc sử dụng những biểu lộ cảm xúc không thích hợp là một ví dụ tiêu biểu của sự
bóp méo. Nhiều sự biểu lộ trong ngôn ngữ là những diễn tả không trong sáng
nhưng mang theo những hàm ý tiêu cực hoặc tích cực. Xét lại sự liên tưởng về
việc nạo thai với tội giết người. Giả sử một người nào đó tranh luận, "nạo thai là
sự giết người của một đứa trẻ không ai mong muốn và do đó sẽ không được cho
phép." Từ "tội giết người" mang hàm ý là một hành động sai trái, vì tội giết người
thì thường là giết người phi pháp. Khi một lý lẽ phản đối việc nạo thai là vấn đề
này, thì không có gì để phải bàn luận vì người ta đã giả định trước nạo thai là sai
trái, việc nên cần được chứng minh một cách chính xác hơn. Tuy nhiên, người nào
đó mà không cẩn thận và bỏ qua việc phát hiện ra hàm ý tiêu cực có thể dễ dàng bị
thống trị bởi lý lẽ. (TQ hiệu đính: xem phần Lý Luận vòng vo tam quốc (circular
argument) trong phần Lý Luận Giỏi).
Sự Cụ Thể Hóa (Reification)
Sự cụ thể hóa xem một ý tưởng hoặc một tính chất trừu tượng như thể nó là một
đối tượng vật lý cụ thể. Ví dụ, một khẩu hiệu trên một chương trình truyền hình
nổi tiếng nói "Sự thật ở ngoài đó". Điều này xem sự thật như thể nó là một đối

"tôi là luật pháp" có ý là họ là chủ và mọi người nên nghe theo những gì mà họ ra lệnh.
Nhưng điều này trái ngược với ý tưởng của sự công bằng và nguyên tắc của luật pháp mà
nó là trung tâm đối với những nhóm người dân chủ hiện đại. Sinh viên luật nên biết nhiều
hơn những khẩu hiệu tuyên bố như thế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status