Sự tương tác giữa mã của người gửi và mã của người nhận trong tiếp nhận văn học_2 - Pdf 19

Sự tương tác giữa mã của
người gửi và mã của người
nhận trong tiếp nhận văn học Có thể nói, cuộc cách mạng trên lĩnh vực lý luận phê bình văn học diễn ra ở phương
Tây, kéo dài gần suốt thế kỉ XX,thực chất là tiến trình chuyển dịch trung tâm chú ý từ tác
giả sang văn bản đến người đọc. Trong quá trình đó, tư duy lý luận văn học đã soi sáng bản
chất của tác phẩm từ nhiều góc nhìn khác nhau, qua đó, ngày càng tiếp cận sâu hơn vào bản
chất của nó. Trên nền tảng những thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại và các
khoa học lân cận như cấu trúc - kí hiệu học, lý thuyết thông tin, triết học Hiện tượng luận ,
lý luận văn học từ hiện đại đến hậu hiện đại đã phát hiện ra bản chất đối thoại của tác phẩm
văn học, từ đó khai mở một hướng tiếp cận mới để khám phá bản chất và phương thức tồn
tại của tác phẩm văn họctrong mối quan hệ với người đọc, với hoạt động tiếp nhận.
Từ góc nhìn của lý thuyết thông tin, có thể thấy, bản chất của văn bản văn học là một
hệ thống kí hiệu; bởi vậy, để có tác phẩm văn học, không chỉ cần đến văn bản với đầy đủ
các đặc trưng văn học mà còn phụ thuộc vào người đọc - người giải mã kí hiệu văn bản
nữa. Việc nghiên cứu bản chất của tác phẩm trong mối quan hệ với người đọc cũng như sự
tương tác giữa lập mãvà giải mã sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề quan trọng trong bản
chất và phương thức tồn tại của tác phẩm mà lý luận từ phía sáng tác không giải thích được,
giúp soi sáng những yếu tố gây nên tính khả biến của tác phẩm trong tiếp nhận văn học.
Trong giới hạn của bài biết này, chúng tôi sẽ nghiên cứu bản chất của tiếp nhận văn
học trong mối quan hệ tương tác, đối thoại giữa mã của người gửi với mã của người nhận.
Trong sự tương tác này, văn bản là sự mã hoá thông tin thẩm mỹ của nhà văn; đến lượt
mình, người đọc thực hiện một qui trình ngược lại: giải mã văn bản để tiếp nhận thông điệp
thẩm mỹ.
Theo lẽ thông thường, sự hiểu nhau là mục đích cuối cùng và là cứu cánh của mọi
hình thức thông tin - giao tiếp. Theo đó, một hành vi giao tiếp chỉ có thể đạt được hiệu quả

tiếp nhận cũng từng diễn ra ở thời phong kiến, khi xu thế tiếp nhận phổ biến đều ca ngợi
trinh tiết, phẩm hạnh và tấm lòng hiếu nghĩa của Kiều thì Nguyễn Công Trứ lại mạt sát, kết
tội Kiều là kẻ mượn danh chữ hiếu để làm điều tà dâm. Cách hiểu này hiển nhiên là nằm
ngoài mong muốn của Nguyễn Du, khi có nhiều bằng chứng cho thấy ông đã dành những
tình cảm trân trọng cho nàng Kiều.
Như vậy, phản tiếp nhận không chỉ là hiện tượng tiếp nhận ngược lại với chủ ý của
tác giả, mà còn là sự tiếp nhận đi ngược lại với sự cắt nghĩa đã trở thành truyền thống phổ
biến ở những người đi trước. Trong đời sống văn học của chúng ta những năm gần đây,
hiện tượng này cũng xẩy ra ngay với những tác phẩm quen thuộc được giảng dạy trong nhà
trường. Nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận cho biết, có giáo viên kể rằng, khi học về tác
phẩm Tắt đèn, có học sinh đánh giá chị Dậu thấp hơn cô Kiều về mặt đạo đức, vì cô Kiều là
cô gái còn trinh tiết mà dám bán mình chuộc cha, trong khi chị Dậu vì quá câu nệ về thân
xác mà không dám hy sinh vì chồng con. Tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao cũng được hiểu
với nhiều khía cạnh khác lạ so với cách hiểuđã từng phổ biến và quen thuộc. Nếu trước đây,
Hoàng được coi là nhân vật phản diện, một trí thức chợ đen sống ích kỷ, hưởng lạc, xa rời
cách mạng, thì giờ đây có ý kiến lại chiêu tuyết cho Hoàng với lập luận rằng: “Có tường
hoa, có chó dữ, có nhà riêng, có vợ đẹp con ngoan với nếp sống sang trọng nhiều hương vị,
nhiều thú vui thì có gì đáng trách?”. Thậm chí, có người còn triết lý táo bạo hơn về lý
tưởng: “Hoàng không thích cách mạng, không thích đi với cộng sản nên không chịu hợp tác
và tự sống tách biệt theo lý tưởng sống của anh ta thì sao nhỉ? Vẫn có thể là một người
lương thiện, một người dân bình thường, ta quá thiên vị về ý thức hệ trong việc đánh giá”.
Có em học sinh còn nhận xét rằng Hoàng nhìn người nông dân có phần đúng; hoặc phát
biểu rằng “thích cả Hoàng lẫn Độ”
(3)
.
Những cách cảm nhận, đánh giá khác lạ về những tác phẩm quen thuộc trên đây đã
cho thấy, các tác phẩm này đã được nhìn nhận, đánh giá lại bằng một bảng giá trị văn hóa,
đạo đức, thẩm mỹ khác với những tiêu chí, chuẩn mực đã trở thành quen thuộc một thời.
Lý giải nguyên nhân của hiện tượng phản tiếp nhận, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
cho rằng đây là một hiện tượng văn hóa, “thường xẩy ra khi thời đại có bước ngoặt lịch sử

mới lạ, buộc họ phải thay đổi, điều chỉnh cái “phông” tri thức thẩm mỹ của mình cho thích
hợp để có thể thâm nhập vào cái “mê hồn trận” của Chủ nghĩa hậu hiện đại. Ly khai triệt để
với truyền thống tôn ti, trật tự khép kín và ổn định của Chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX, chối
từ vai trò là “người thư kí trung thành” của thời đại, đoạn tuyệt với tôn chỉ phản ánh cuộc
sống một cách chân thực “với toàn bộ các hình thức của đối tượng”, nhà vănhậu hiện đại đã
không mời mọc người đọc một món ăn đã được dọn sẵn, mà chỉ cung cấp những nguyên
liệu còn thô mộc,“sống sít”, có vẻ như chưa từng được “sơ chế”, để buộc người đọc tự chế
biến lấy theo khẩu vị của mình. Sự cách tân toàn diện và triệt để về thi pháp sáng tạo của
văn chương hậu hiện đại thực sự là một thách đố to lớn đối với kinh nghiệm thẩm mỹ của
đại đa số công chúng vốn đã quá quen với bộ mã của văn chương hiện thực chủ nghĩa.
Hiện nay, khi trên thế giới, người đọc đã thích nghi với khẩu vị nghệ thuật của Chủ
nghĩa hậu hiện đại, thì phần đông công chúng bạn đọc Việt Nam vẫn chưa hết “dị ứng” với
món ăn tinh thần mới mẻ này. Những tác phẩm mang hơi hướng của Chủ nghĩa hậu hiện
đại xuất hiện trên văn đàn Việt Nam vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX, khởi đầu từ các
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu (Bức tranh; Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành; Bến quê; Phiên chợ Giát,…) với các nhân vật được coi là “lạ lẫm”, “dị biệt”, “khó
hiểu”, không giống với đời thường đã khiến cho nhiều nhà văn và nhà phê bình - những độc
giả bậc cao cũng “không biết ông nói cái gì”. Sau đó là sự xuất hiện của Phạm Thị Hoài, và
đặc biệt là Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn như Không có vua; Kiếm sắc;
Vàng lửa; Phẩm tiết; Con gái Thủy thần; Cún,… Mỗi tác phẩm của ông là một sự kiện làm
xôn xao dư luận công chúng người đọc, thậm chí gây tranh luận gay gắt trong giới chuyên
môn, khi họ nhìn thấy trong đó những chi tiết “tự nhiên chủ nghĩa”, “xuyên tạc lịch sử”, “hạ
bệ thần tượng”… Đến nhà phê bình lão luyện như Nguyễn Đăng Mạnh còn cảm thấy bất
lực khi thừa nhận: “Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp lắm lúc cảm thấy thật sự hoang mang.
Vì chẳng hiểu anh định nói gì - đúng là chủ đề không rõ ràng. Nhiều truyện của Nguyễn
Huy Thiệp, thật tình không biết giảng giải thế nào”
(5)
. Nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn
cũng cảm thấy căng thẳng vì “đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng giống như
cuộc vật lộn với chính bản thân mình. Rất khó tìm thấy nơi để tâm hồn có thể nghỉ ngơi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status