Đánh giá sự tương quan giữa tính bền cấu trúc và các đặc tính đất trồng rau màu ở Đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 20

MỞ ĐẦU
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tồn và
phát triển. Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc thù bởi
tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được – đó là độ phì nhiêu (Lê Văn
Khoa, 2004).
Đất được hình thành, phát triển và thoái hóa theo thời gian dưới tác động của điều
kiện tự nhiên và các hoạt động của con người (Wada, 2000).
Ngoài ra do dân số tăng nhanh do đó để đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước và
xuất khẩu thì việc áp dụng mô hình thâm canh tăng vụ ngày càng tăng dần trong khi
nguồn dưỡng chất trong đất thì có hạn.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lương thực trọng điểm của cả nước. Là
nơi được xem là có mức độ đa dạng hóa cao trong sản xuất nông nghiệp với diện tích
3.993.132 ha, sản xuất khoảng 50% tổng sản lượng lúa của cả nước. và đóng góp
khoảng 85% lượng gạo xuất khẩu của cả nước (Tôn Thất chiểu, 1991).
Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng
trọng khá mạnh. Do đó, ngày càng có nhiều mô hình thâm canh tăng vụ để đáp ứng nhu
cầu lương thực trong nước và xuất khẩu.
Các mô hình thâm canh tăng vụ trên đất trồng lúa, đất trồng lúa kết hợp trồng màu
hoặc chuyên canh cây màu và việc không sử dụng phân hữu cơ cũng làm cho đất ngày
càng bị thoái hóa nghiêm trọng. Đất bị chai cứng, mất cấu trúc, trở nên nén dẽ dẫn đến
hạn chế sự phát triển của rễ cây trồng cạn, giảm lượng nước hữu dụng, giảm sự thoáng
khí trong đất từ đó ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Brady, 2002).
Các nghiên cứu về sự thoái hóa đất về vật lý, hóa học, sinh học ở Đồng bằng sông
Cửu Long cho thấy các vùng đất thâm canh 2-3vụ lúa /năm, trên đất chuyên màu và trên
các vườn cây ăn trái nhiều năm tuổi bước đầu nghiên cứu cho thấy sự giảm hàm lượng
chất hữu cơ, độ nén dẽ cao, hệ số thấm của nước thấp (Võ Thị Gương, 2004).
Theo Foley (1994), đối với các loại đất bị thoái hóa về mặt lý học, hoá học, mất cấu
trúc do hoạt động canh tác thì dưới tác động của mưa và việc tưới tiêu làm cho tập hợp
đất bị phân rã thành nhiều phần tử nhỏ hơn làm đóng váng và kết cứng bề mặt canh tác
khi đất khô. Từ đó làm tăng sự xói mòn, giảm tính thấm gây chảy tràn và rửa trôi dinh
dưỡng....

công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng loại rau màu. Nhìn chung, cây rau, màu có
thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do đó làm tăng sản
lượng trên đơn vị diện tích.
- Rau là loại cây lương thực. Như khoai tây được coi là một trong năm cây lương
thực trên thế giới sau lúa, ngô, mỳ, mạch. Khoai tây là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều
nước. Một vài loài cây trồng có hàm lượng cao cũng được sử dụng như lương thực:
khoai, củ từ...
- Rau là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao. Đây là mặt hàng xuất khẩu quan
trọng, thu ngoại tệ mạnh của nhiều nước trên thế giới.
- Rau là nguyên liệu chế biến thực phẩm phong phú và quan trọng.

a. Giá trị y học
Rau chẳng những có giá trị dinh dưỡng mà chúng còn được sử dụng như những
cây dược liệu quý như: tỏi, hành hoa, gừng...
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và phát hiện
ra những khả năng kỳ diệu của một số loại rau trong phòng ngừa và trị một số bệnh nan
y. Trước hết là tỏi sau đó là các loại hành tây...

b. Giá trị xã hội
Khi ngành sản xuất rau màu được phát triển nhanh chóng và vững chắc sẽ góp
phần làm tăng thu nhập cho người lao động, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng. Đồng thời đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước.
Khi sản xuất rau màu được coi là một nghề, những khu chuyên canh rau màu
được mở rộng sẽ có điều kiện để sắp xếp lao động một cách hợp lý, giải quyết việc làm
cho nông dân trong những lúc nông nhàn.
Phát triển ngành sản xuất rau màu còn có điều kiện để hỗ trợ đối với ngành
khác trong nông nghiệp như cung cấp thức ăn và chất xanh cho chăn nuôi... (Tạ Thu
Cúc, 2005).
1.2. Kỷ thuật canh tác rau màu
Muốn trồng rau đạt năng suất cao, sản phẩm có giá trị hàng hóa cao, người trồng

chế độ ánh sáng thích hợp để cây rau sinh trưởng (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).
Theo Trần Thị Ba và ctv, 1999 ở Đồng bằng sông Cửu Long có bốn vụ gieo trồng
chính:
- Đông Xuân gieo trồng từ tháng 10- tháng 11 dương lịch thu hoạch vào tháng 12-
tháng 1 dương lịch.
- Xuân Hè gieo trồng từ tháng 12- tháng 1 dương lịch thu hoạch vào tháng 4-tháng
5 dương lịch.
- Hè Thu gieo trồng từ tháng 4- tháng 5 dương lịch thu hoạch vào tháng 7 dương
lịch.
- Thu Đông gieo trồng từ tháng 8- tháng 9 dương lịch thu hoạch vào tháng 12-
tháng 1 dương lịch.

1.2.3. Làm đất
Bộ rễ các loài rau nói chung là ăn nông ở tầng mặt trong phạm vi 25-30 cm, do vậy
tính chịu hạn, chịu úng rất kém và lại dễ bị nhiễm sâu bệnh (Mai Thị Phương Anh và
ctv, 1996).
Mặc dù đất nào cũng có thể trồng được rau, nhưng tốt nhất là chọn những chân đất
cát pha thịt nhẹ hoặc thịt trung bình có tầng canh tác 20-30cm (Trịnh Thị Thu Hương,
2003).
Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), đất trồng rau màu phải có lý – hóa tính tốt: Đất tơi
xốp, nhiều mùn, pH thích hợp (5,5-7), đất thịt nhẹ, thịt pha cát. Nếu là đất cát rời rạc,
giữ nước kém cần bón thêm sét, bùn ao, phơi ải kết hợp với phân hữu cơ. Nếu là đất sét
nặng khó thoát nước khó cày bừa cần bón thêm phân hữu cơ.
Tuy nhiên, tuỳ theo loại đất mà cách làm đất khác nhau; cày sâu, bừa kỹ giúp rễ
phát triển, nhưng không nên làm đất quá nhuyễn vì đất dễ bị lèn mặt sau này (Nguyễn
Bảo Vệ và ctv, 2005).
Theo Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996 thì có hai cách làm đất:
a. Làm đất vườn ươm:
Vườn ươm là nơi cây con sinh trưởng đầu tiên, nó có vai trò quan trọng quyết định
chất lượng giống do đó ảnh hưởng đến năng suất phẩm chất sau này.

/ha).
H: độ sâu (m).
A: tỷ trọng đất (tấn/m
3
).
B: độ ẩm đồng ruộng (% đất khô tuyệt đối).
R: độ ẩm đất (% đất khô tuyệt đối khi tưới).
1.2.5. Nhu cầu phân bón
Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn nhưng lại cho một
khối lượng sản phẩm (năng suất, sản lượng) rất cao, từ 20-60 tấn/ha. Do vậy cây rau
màu đòi hỏi phải được bón nhiều phân và đất trồng rau phải là đất tương đối tốt (Mai
Thị Phương Anh, 1999).
Nguyên tắc chung khi bón phân cho rau là cần bón phối hợp phân hữu cơ và vô cơ,
bón đúng liều lượng, cân đối và đúng thời kì.

Bón phân hóa học vào đất sẽ làm thay đổi tính chất lý- hóa học của đất, đặc biệt
làm thay đổi hóa tính của đất (Tạ Thu Cúc, 2005).
Tất cả các loại rau màu đều cần dinh dưỡng rất lớn, do vậy nó cần phải cung cấp
đầy đủ dinh dưỡng trong quá trình sinh trưởng, sự cung cấp này phụ thuộc vào lượng
dinh dưỡng có trong đất và nguồn phân bón bổ sung (Nguyễn Văn Hòa, 2006).
Ngoài ra, đối với loại đất nhẹ, tơi xốp thì có thể tăng cường bón đạm vô cơ, giảm
khối lượng phân hữu cơ. Đối với đất nặng, chặt thì cần tăng cường bón phân hữu cơ
giàu đạm là chủ yếu, đồng thời kết hợp với phân vô cơ để tăng hiệu quả của phân bón.
Khi xác định liều lượng phân bón cần phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế, chú ý đến
lượng NO
3
-
trong sản phẩm khi bón các dạng đạm từng chủng loại, hàm lượng N, P, K
trong sản phẩm và trong đất, chất dinh dưỡng bị giữ lại trong đất hoặc bị rửa trôi (Tạ
Thu Cúc, 2005).

Cà chua
Dưa chuột
120
60
60
120
150
100
100
3,5
2,2
3,6
3,2
2,6
1,7
3,0
1,3
0,8
1,8
1,3
0,4
1,4
1,2
4,3
5,0
5,2
5,0
3,6
2,6
4,0

hạt giống, cải thiện môi trường, luân canh, xen canh, sử dụng giống kháng, sử dụng
thiên địch, tạo hình và dùng thuốc hóa học.
1.2.7. Thu hoạch
Rau là loại cây trồng ngắn ngày lại có hàm lượng nước cao, sử dụng chủ yếu là sản
phẩm tươi. Do vậy thu hoạch rau màu phải đúng lứa, đúng kỳ mới đảm bảo chất lượng.
Không nên thu hoạch quá non hay quá già, nếu thu non giảm năng suất sản phẩm từ 20-
30% đối với các loại rau ăn quả chín nếu thu quá già hàm lượng chất dinh dưỡng hay
chất lượng sản phẩm giảm (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).

1.3. Ảnh hưởng của việc canh tác rau màu đến môi trường
1.3.1. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích đất nông nghiệp trên 2 triệu ha,
hàng năm cung cấp trên hai phần ba tổng sản lượng lương thực. Do đó, để sản xuất sản
lượng lương thực lớn cho cả nước nông dân đã sử dụng một phần lớn thuốc bảo vệ thực
vật, không chỉ riêng trên cây lương thực mà tất cả các loại cây trồng tại ĐBSCL đều sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật với liều lượng cao (Nguyễn Thị Thu Cúc, 1998).
Trong thực tế, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học một cách
tùy tiện, liên tục, quá liều đã gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con
người, môi trường nước, không khí, đặc biệt là môi trường đất (Hoàng Xuân Thực,
2005).
Mặt khác, việc thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng thì nó đòi hỏi một
lượng lớn phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Nếu sử dụng đúng liều và đúng cách
thì ít ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Thuốc bảo vệ thực vật là chế
phẩm có nguồn gốc từ hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác
dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Đặc điểm của thuốc bảo vệ thực
vật là chúng đều có khả năng gây ô nhiễm cho đất và hoạt tính của chúng sẽ là chất độc
cho con người và động vật (Lê Huy Bá, 2000).
Thuốc bảo vệ thực vật gồm thuốc trừ sâu, trừ nấm, côn trùng, tuyến trùng, diệt cỏ,
kích thích..., là các hợp chất hóa học hữu cơ hay vô cơ. Trong đất nó làm cho cơ lý tính
đất giảm sút, khả năng diệt khuẩn cao nên đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có ích

1.4. Các tính chất vật lý đất trên đất trồng rau màu
1.4.1 Thành phần cơ giới
Thành phần cơ giới là tỷ lệ giữa các cấp hạt cát, thịt, sét trong đất (Henry D.Foth,
1990).
Theo Trần Kông Tấu (2005), thành phần cơ giới (còn gọi là thành phần cấp hạt)
của đất là hàm lượng phần trăm (%) của những nguyên tố cơ học có kích thước khác
nhau khi đoàn lạp đất ở trong trạng thái bị phá hủy.
Thành phần cơ giới khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau về tỷ trọng, dung trọng đất,
tính kết dính, khả năng hấp phụ trao đổi ion và khả năng dự trữ dinh dưỡng trong đất
(Mai văn Quyền và ctv, 2005).
Đất có thành phần cơ giới nặng, giàu cấp hạt sét làm cho khả năng giữ nước của
đất tốt, hấp phụ được nhiều chất dinh dưỡng, có khả năng chống rửa trôi. Ngược lại, đối
với những loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo cấp hạt sét, chủ yếu là cấp hạt thô,

khả năng giữ nước, hấp thu những chất dinh dưỡng kém, độ thấm cao, các chất dinh
dưỡng dễ bị rửa trôi...có thể nói thành phần cơ giới là một trong những yếu tố quyết
định độ phì nhiêu của đất (Trần Kông Tấu, 2005).
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cấp hạt nhỏ nhiều nên đất sét tốt hơn đất cát.
Ở đất có tỉ lệ hạt nhỏ, về cơ bản là giàu dinh dưỡng là do khả năng giữ dinh dưỡng của
nó tốt hơn đất có tỉ lệ cát cao. Tuy nhiên, nếu đất sét không được bổ sung dinh dưỡng và
không có biện pháp bảo vệ thì vẫn bị thoái hóa (Trần Trọng Nghĩa, 2004).
Về tính chất vật lý nước và cơ lý đất cho thấy khi kích thước hạt giảm đã làm
giảm tốc độ thấm nước, tăng tính mao dẫn, tăng tính trương co, tăng lượng hút ẩm lớn
nhất và tăng sức dính cực đại. Thành phần và tính chất hóa lý của các cấp hạt khác nhau
thì khác nhau đã dẫn đến sự thay đổi quan trọng về tính chất trong đất khi có các tỉ lệ
cấp hạt khác nhau (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).
Theo Lê Văn Khoa (2004), thì sự suy thoái về cấu trúc thường xảy ra ở các vùng có
vũ lượng cao, thường hay ngập lũ, bơm tưới nhiều trong canh tác, đất dễ bị gley giả và
hệ thống thoát nước kém.
Đối với đất có tỷ lệ sét cao, hàm lượng chất hữu cơ thấp và thời gian canh tác càng

10-20
0-5
5-10
10-25
100-95
95-90
90-80
100-95
95-90
90-80
100-95
95-90
90-85
Đất thịt nhẹ
Đất thịt trung bình
Đất thịt nặng
20-30
30-40
40-50
20-30
30-45
45-60
15-20
20-30
30-40
80-70
70-60
60-50
80-70
70-55

Cát
2-0.02mm
Bụi
0.02-0.002mm
Sét
0.002-0.0002mm
Cát 1.Đất cát 85-100 0-5 0-15
Thịt 1. Đất cát pha
2. Đất thị pha cát
3. Đất thịt nhẹ
55-85
40-54
0-55
0-45
30-45
45-100
0-15
0-15
0-15
Thịt nặng 5.Đất thịt trung bình
6.Đất thịt nặng
7.Đất sét nặng
55-85
30-55
0-40
0-30
20-45
45-75
15-25
15-25

Tên
Do có cấp hạt cát chiếm đa số nên đất cát có tính chất đặc trưng sau:
- Thành phần cơ giới thô (nhẹ), khe hở giữa các hạt lớn nên thoát nước dễ, thấm
nước nhanh nhưng giữ nước kém (dễ bị khô hạn).
- Thoáng khí, vi sinh vật háo khí hoạt động mạnh làm cho quá trình khoáng hóa
chất hữu cơ và mùn xảy ra mãnh liệt. Vì vậy đất cát thường nghèo mùn.
- Đất cát nóng nhanh, lạnh nhanh gây bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật.
- Đất cát khi khô rời rạc nên dễ cày bừa, ít tốn công, rễ cây phát triển dễ nhưng cỏ
mọc cũng nhanh. Khi đất cát gặp mưa to hay do nước tưới sẽ bị bí chặt.
- Đất cát chứa ít keo, dung tích hấp thu thấp, làm cho khả năng giữ nước kém. Khi
bón phân quá nhiều sẽ làm cây bị lốp đổ và mất dinh dưỡng do rửa trôi.
Do đặc điểm như vậy nên khi sử dụng đất cần hết sức lưu ý, như nên bón phân chia
làm nhiều lần, vùi sâu. Đất cát nên ưu tiên trồng cây lấy củ như: khoai lang, khoai tây,
lạc...
Để cải tạo đất cát cần tăng lượng sét trong đất bằng biện pháp cày sâu lật sét, bón
bùn ao, tưới nước phù sa mịn và bón phân hữu cơ.
 Đất sét:
Hình 3. Sự sắp xếp các hạt sét
Đặc trưng của đất sét thể hiện ở các mặt sau:
- Đất sét khó thấm nước nhưng giữ nước tốt. Biên độ nhiệt độ đất sét thấp hơn đất
cát.
- Đất sét kém thoáng khí, hay bị glây. Chất hữu cơ phân giải chậm nên đất sét tích
lũy mùn nhiều hơn đất cát. Mặt khác, sét - mùn là phức chất bền vững nên cũng tăng
khả năng tích lũy.
- Đất sét mà nghèo chất hữu cơ thì có sức cản lớn, cứng chặt, làm đất khó và khi bị
hạn thì sẽ nứt nẻ làm đứt rễ cây trong đất.

- Đất sét chứa nhiều keo nên về cơ bản có dung tích hấp thu lớn, giữ nước, giữ
phân tốt nên ít bị rửa trôi (nhìn chung đất sét chứa nhiều dinh dưỡng hơn đất cát).
Nhưng nhiều khi đất sét giữ quá chặt dinh dưỡng nên cây trồng không hút được.

%. Đất xám bạc màu phát triển trên phù sa cổ có độ bền trong nước kém nhất, chỉ 5 %.
Đất nâu đỏ trên bazan (Ferralsols) có tính chất cấu trúc tốt nhất, chúng có quan hệ chặt
chẽ với hàm lượng sắt tổng số và sắt di động, có hàm lượng mùn cao (4,8 %) và dung
tích hấp hấp phụ của đất Ferralsols cũng cao hơn cả (14 mgdl/100g đất) (Trần Kông Tấu
và ctv, 2000).
Ở những vùng trồng lúa có thể rất hữu ích khi xác định sức bền cơ học của đất đa
cấu trúc và đất chưa thành thục vì các loại đất đó thường có tính chống chịu rất kém.
Sức bền cơ học không chỉ thay đổi theo độ xốp mà còn theo lượng chất hữu cơ, hàm
lượng sét và các tác nhân ximăng hoá hiện diện (Trần Kim Tính, 2003).
1.4.4.2. Nguồn gốc phát sinh cấu trúc đất
 Sự lắng kết tương hỗ của những chất keo:
Những phần tử keo đất trong dung dịch phần lớn các trường hợp đều mang điện
tích và có thế hiệu giữa những điện tích trái dấu của lớp ion cố định (lớp mây mixen bên
trong) và những lớp ion bù gây nên thế điện động hoặc còn gọi là thế vị dzeta (ξ) của
những phần tử hạt (Trần Kông Tấu, 2005).
 Keo tụ của những chất keo dưới ảnh hưởng của chất điện ly:
Nhiều tác giả cho rằng khi có những cấu tử của chất hữu cơ dạng axit humic,
với sự tham gia của các cation canxi, sắt (Fe
3+
) vào quá trình keo tụ thì sẽ hình thành tạo
được những cấu trúc rất tốt. Chúng có độ bền cơ học, độ bền trong nước và có một độ
xốp thích hợp, ở những mẫu tốt nhất độ xốp của đoàn lạp đạt đến 50%. Đây là những
cấu trúc có chất lượng cao và rất quí về phương diện sản xuất nông nghiệp (Trần Kông
Tấu, 2005).
 Vai trò của các quá trình hóa học, lý học, sinh học trong việc tạo và nâng cao độ
bền cơ học, độ bền trong nước của những đoàn lạp:

a .Về phương diện hóa học
Ở một số khu vực có chế độ nước thay đổi, khi thì bị khô hạn, khi thì bị ngập ướt,
quá trình khử phát triển và xuất hiện ở những khu vực đất bị ngập nước. Sắt có hóa trị

Hoặc Ca(HCO
3
)
2
+CaO 2CaCO
3
+H
2
O (Trần Kông Tấu, 2006).
b. Về phương diện lý học
Khi đất có độ ẩm thích hợp thì lực mao dẫn (lực mặt cong) và nước liên kết của
đất chiếm một vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc đất.
Khi đất bị khô dần và giảm độ ẩm, vai trò của nước thể hiện rõ rệt. Trong trường
hợp như vậy những mặt cong và nước hấp phụ có khả năng thu hẹp những mao quản
làm cho những nguyên tố cơ học xích lại gần nhau, sau đó xuất hiện càng mạnh những
lực nguyên tử và phân tử giữa những nguyên tố cơ học đất.
c. Vai trò của sinh học
Độ bền nước, độ bền cơ học của đoàn lạp xuất hiện và phát triển nhờ những nêm
dịch của những loài vi khuẩn khác nhau.
Những đoàn lạp, cấu trúc đất được hình thành khi có sự tham gia của các quá
trình sinh học có độ bền trong nước, độ bền hóa học khá cao và có một độ xốp thích hợp
(Trần Kông Tấu, 2005).

1.4.4.3. Ảnh hưởng của cấu trúc đất lên đất trồng
Trên các vùng đất trồng rau- màu cấu trúc đất sẽ có tác động rất mạnh mẽ. Nó
quyết định trực tiếp đến tính thấm của đất, độ dẻo, dính, khả năng trữ nước và cung cấp
dinh dưỡng cho sự phát triển của cây trồng (Pedro A.Sanchez, 1990).
Chế độ nước, không khí và nhiệt ở đất có cấu trúc, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ
những quá trình sinh học, khả năng nitrat hóa và có khả năng chuyển hóa các hợp chất
hữu cơ. Đất có cấu trúc tốt sẽ ít dính, do đó thuận lợi cho việc cày bừa và chăm sóc

2
), rễ cây
mọc rất khó, phần lớn chỉ ở trên mặt, sản lượng thu hoạch kém (Trần Kông Tấu, 2005).
Áp suất tối đa có thể sinh ra ở rễ cho hầu hết các cây trồng khoảng 3MPa. Điều này
muốn nói rằng, rễ thì không thể tăng dài được ở đất có sức bền cơ học lớn hơn 3MPa,
trừ khi đất có chứa tế khổng có đường kính lớn hơn đường kính của rễ (Trần Kim Tính,
2003).
Việc canh tác làm phá huỷ cấu trúc đất sẽ làm giảm lượng tế khổng lớn trong đất
và tăng các tế khổng nhỏ ở bề mặt của tầng canh tác ảnh hưởng đến tính thấm của đất
(S.S Prihar et al, 1985).
Ở đất sét sức bền cơ học tuỳ vào ẩm độ đất vì các loại đất này cứng khi khô và dẻo
khi ướt. Đối với các đồng ruộng lúa sét nặng, rễ đậu nành không thể xuyên qua tầng đế
cày có sét chặt do việc trục đất ở vụ trước (Trần Kim Tính, 2003).
Sự kết cứng của đất tác động trực tiếp đến sự nẩy mầm của hạt giống, sự tăng
trưởng của cây trồng, khả năng thoáng khí và thoát nước của đất. Tuy nhiên, ở một số
loại đất ở Châu Âu điều này có thể được thay đổi bởi sự thêm vào một lượng các
hydroxide sắt, nhôm vào trong đất như là tác nhân liên kết (Lê Văn Khoa, 2003).
Môi trường tốt nhất cho sự tăng trưởng của cây trồng là đất có 50% tế khổng chứa
đầy không khí và 50% tế khổng chứa đầy nước (Trần Kim Tính, 2003).
Hình 7: Sự đóng váng kết cứng bề
mặt khi đất khô
Hình 8: Ảnh hưởng của độ chặt đối với
sự phát triển của rễ
Hình 6: Ảnh hưởng của việc làm đất lên
cấu trúc đất
Hình 5. Sự hình thành lớp váng
do sự phá huỷ cấu trúc đất

Nhiều chất hữu cơ
Nhiều chất kết dính
Vô cơ
Nhiều cát
Các chất gắn kết hoá học
Nhiều sét
Hình 9. Lớp vỏ đất cứng trong mối quan hệ với tính chất khác nhau của đất
Bảng 4: Thang đánh giá độ chua hiện tại cho đất trồng màu
pH
(H20)
Phân loại
<5,0
5,0 –7,5
> 7,5
Thấp (low)
Tối hảo (option)
Cao (high)
(Washington State University – Tree Fruit Reasearch &
Extension Center, 2001)(tỷ lệ đất: nước=1:2,5)
Bảng 5: Thang đánh giá độ chua pH
(KCl)
pH
(KCl)
Đánh giá
<3,0
3,0 – 4,5
4,6 – 5,5
5,6 – 6,4
>6,5
Rất chua

Trong đất hàm lượng chất hữu cơ cao làm tăng ẩm độ đất, cải thiện cấu trúc đất
tăng khả năng đệm của đất (Charles A. Black, 1993).
Tốc độ phân hủy chất hữu cơ và khoáng hóa của các thành phần hữu cơ trong đất
có cấu trúc thô nhanh hơn đất có cấu trúc mịn (VanVeen và Kuikman, 1990). Chất hữu
cơ trong đất có liên quan chặt với N tổng số trong đất (Stevenson, 1982) nhưng đạm
hữu dụng lại tương quan không cao với chất hữu cơ hoặc đạm tổng số trong đất (Sim et
al, 1967; Cassman, 1996).
1.5.2.2. Quá trình chuyển hoá chất hữu cơ trong đất
Sự biến đổi và chuyển hoá các xác hữu cơ trong đất là một quá trình sinh thái
phức tạp, được thực hiện với sự tham gia trực tiếp của vi sinh vật đất và của động vật,
oxy không khí và nước.
Như vậy, xác hữu cơ trong đất chịu sự tác động của hai quá trình song song tồn
tại, tuỳ thuộc điều kiện ngoại cảnh, hệ vi sinh vật và loại xác hữu cơ mà quá trình này
hay quá trình kia chiếm ưu thế. Hai quá trình đó là: quá trình khoáng hoá chất hữu cơ
và quá trình mùn hoá chất hữu cơ (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).
1.5.2.3 Ảnh hưởng của chất mùn trên các tiến trình vật lý đất

Khoáng hoá nhanh
Xác hữu cơ
Các hợp chất khoáng
Các hợp chất mùn
Khoáng hoá
từ từ
Mùn hoá
Hình 10: Sự chuyển hoá chất hữu cơ trong đất
 Cải thiện cấu trúc đất
- Ảnh hưởng trực tiếp do làm mất độ cứng của đất, chất mùn trong phân hữu cơ có
tác dụng gắn kết các hạt keo nhỏ lại với nhau, tạo nên cấu trúc bền vững, làm cải thiện
độ xốp của đất, hạn chế sự rửa trôi, xói mòn đất, làm cho cây thu hút các ion dinh dưỡng
dễ dàng hơn.

Trích đoạn Tính chất đất trồng rau màu tại các vị trí nghiên cứu 1 Tính chất hóa học đất Tính bền cấu trúc đất KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 4.1 KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status