Sự tương tác giữa mã của
người gửi và mã của người
nhận trong tiếp nhận văn học Như thế, các hình thái văn học (nói riêng và nghệ thuật nói chung) phân biệt nhau
trước hết bởi chúng đã sử dụng những bộ mã khác nhau để mã hoá các thông tin về đời
sống. Theo đó, mỗi hình thái văn học đều có độc giả của mình cùng với “chìa khóa” riêng
cho sự giải mã. Điều đó cũng nói lên rằng, sự không tương thích giữa mã của người gửi với
mã của người nhận không phải là hiện tượng hi hữu, thậm chí còn là một tất yếu trong tiến
trình vận động, đổi mới của văn học ở những thời điểm có sự thay đổi bước ngoặt.
2. Trường hợp có sự tương thích giữa mã của người gửi với mã của người nhận
Do trong khi mã hoá thông tin, người phát tin tất yếu phải hướng đến đối tượng
người nhận tin, phải tính đến khả năng giải mã của đối tượng này để lựa chọn “bộ mã” cho
phù hợp, nên tình huống thông thường, phổ biến, và cũng là điều kiện tất yếu để hoạt động
tiếp nhận văn học được diễn ra “xuôi chèo mát mái”, là khi có sự tương thích giữa mã của
người gửi với mã của người nhận.
Theo nhà kí hiệu học Iu.M. Lotman, “mọi văn bản nghệ thuật chỉ thực hiện chức
năng xã hội của mình khi có thông tin thẩm mỹ trong cái tập thể đồng thời với nó. Bởi vì sự
giao tiếp kí hiệu yêu cầu không chỉ văn bản mà cả ngôn ngữ, nên tác phẩm nghệ thuật được
tiếp nhận chỉ riêng mỗi nó, không có bối cảnh văn hóa xác định, không có một hệ thống
nhất định của các mã văn hóa, thì cũng giống như thứ “văn bia bằng ngôn ngữ không hiểu
được”
(7)
.
Tuy nhiên, tính chất và mức độ của sự tương thích này sẽ thay đổi trong quá trình
tương tác giữa văn bản với người đọc qua các thời đại, trong những bối cảnh xã hội và văn
hóa khác nhau. Trong trường hợp văn bản và người đọc ở trong cùng một thời đại, sự tương
mình xuất hiện như một sự “thách thức”trước cảm quan thẩm mỹ của người đọc đương
thời, tức là nó cần phải “xúc phạm” đến cách nhìn và chuẩn mực đánh giá thông thường của
người đọc, làm thay đổi tầm đón nhận của họ. Theo đó, một văn bản có giá trị thẩm mỹ
không phải chỉ ở khả năng gây hứng thú cho người đọc bằng việc vừa gợi lên những sự chờ
đợi quen thuộc của họ, mà vượt lên điều đó, nó còn phải biết “phủ định” những gì đang có
xu hướng trở thành quen cũ, sáo mòn.
Ngoài các nguyên nhân từ phía người gửi và người nhận, trong vai trò là phương tiện
chuyển tải thông tin, văn bản văn học như là một “cấu trúc ngôn từ động” cũng góp phần
quan trọng khiến cho thông tin đi từ người gửi đến người nhận không phải là một đường
thẳng mà còn nhiều khúc quanh, lắm lối rẽ. Sự lệch pha trong giao tiếp văn học, do đó, là
một tất yếu. Điều này đã được chứng minh một cách thuyết phục qua những thành tựu
nghiên cứu về bản chất của tác phẩm văn học từ các góc nhìn của ngôn ngữ học, cấu trúc
luận, hiện tượng luận.
Ý nghĩa toát ra từ văn bản, do đó, là ý nghĩa siêu ngôn ngữ, nó sẽ phong phú hơn hẳn
ý định ban đầu của chủ thể phát ngôn, so với những gì tác giả có thể ý thức được. Bởi vậy,
là hiển nhiên khi, bên ngoài sự chủ ý của nhà văn, ngôn ngữ luôn luôn nảy sinh những vấn
đề khác. Chính do tính bấp bênh, “không xác quyết” của ngôn ngữ văn chương mà các nhà
phê bình thuộc trường phái hình thức Nga ví ngôn ngữ như là “con tắc kè hoa”. Còn nhà
văn thiên tài V. Hugo thì cũng từng phải thừa nhận sự bất lực trước ngôn ngữ, khi ông viết
trong Lời tựa vở kịch Cromwell rằng: “Ngôn ngữ cũng như biển cả, chúng không ngừng
biến động. Có những lúc chúng rời bỏ một bờ này của thế giới tư duy và tràn sang một bến
khác”
(8)
. Đó cũng là lý do để mỹ học phương Đông khi nói về ngôn từ trong văn bản văn
học thường hay dùng các cụm từ như: “ý tại ngôn ngoại”, “thư bất tận ngôn, ngôn bất tận
ý”, “ý tuy sở tuỳ giả, bất khả ngôn truyền giả” (cái mà ý theo đến, không thể dùng lời
truyền đạt hết được),“ngôn hữu tận, nhi ý vô cùng” (lời có hạn mà ý vô cùng)
(9)
.
Cùng với tính “cơ động”, “mềm dẻo” của ngôn từ, xét về phương diện kết cấu, như
đích, bởi đó là con đường ngắn nhất để văn học tự triệt tiêu chính mình. Như thế, điều
kiện tối ưu cho tiếp nhận văn học là khi mã tiếp nhận và mã truyền đạt vừa tương đồng lại
vừa khác biệt, khiến cho văn bản văn học vừa “khả giải” lại vừa “bất khả giải”; đó đồng
thời cũng là điều kiện để duy trì mối quan hệ giao tiếp, đối thoại giữa văn bản và người đọc,
bởi nếu “không giải thích được thì thơ vô vị, mà giải thích được thì hết vị”.
Những căn cứ khoa học trên đây đã cho thấy, điều mà quan niệm tiếp nhận truyền
thống gọi là hiện tượng “tri âm” trong nghệ thuật và cũng là lý tưởng của tiếp nhận, là mục
đích đạt tới của một sáng tác nghệ thuật có giá trị, thực ra chỉ là ảo tưởng.Quan niệm này xuất
phát từ niềm tin giản đơn rằng, ngôn ngữ và các phương tiện nghệ thuật là những công cụ chỉ
biết phục tùng tuyệt đối ý đồ của người sáng tạo; theo đó, tiếp nhận văn học được quan niệm
như một hoạt động chỉ diễn ra đơn phương, độc hướng, những nội dung thông tin được
truyền thẳng từ nơi phát đến nơi nhận, trong đó người đọc chỉ đóng vai trò tiếp nhận một
cách thụ động. Đó cũng là lý do để lý luận phê bình văn học truyền thống coi việc tìm hiểu,
khai thác ý đồ sáng tạo của nhà văn là mục đích của tiếp nhận văn học.
Tóm lại, là một sản phẩm của sự chủ ý và cả không chủ ý, nên trong mọi tình huống
tiếp nhận, ngay cả trong điều kiện tối ưu nhất thì vẫn luôn luôn có một “khoảng cách thẩm
mỹ” giữa mã của người gửi với mã của người nhận, giữa tầm đón nhận của độc giả với
những thông điệp đã được mã hóa trong văn bản. Khoảng cách này qui định giá trị thẩm mỹ
của tác phẩm, được thể hiện ra bằng phản ứng của công chúng và thái độ đánh giá của giới
phê bình. Theo H.R. Jauss, khoảng cách thẩm mỹ càng lớn thì giá trị nghệ thuật của tác
phẩm càng cao, ngược lại, nếu khoảng cách này càng nhỏ thì có nghĩa là tác phẩm đó đã
tiến gần tới lĩnh vực của “nghệ thuật nấu ăn”, của sự giải trí đơn thuần
(11)
. Tuy nhiên, theo
chúng tôi, dù tỉ lệ thuận với giá trị nghệ thuật của tác phẩm, nhưng khoảng cách thẩm mỹ
không được vượt quá “ngưỡng” tiếp nhận của người đọc, bởi nếu giữa mã của người gửi và
mã của người nhận không duy trì được mức độ tương thích cần thiết thì tác phẩm sẽ không
gây được hiệu ứng thẩm mỹ, thậm chí sẽ bị người đọc chối từ.
Nếu trong một thời đại, sự trùng hợp hoàn toàn giữa mã của người gửi và mã của
người nhận đã không thể xẩy ra, thì khi văn bản và người đọc khác nhau về thời đại,
(12)
.
Phụ thuộc “điểm nhìn di động”, với tính đa mã của tiếp nhận, người đọc đã đem lại ý nghĩa,
giá trị và quyết định số phận lịch sử của tác phẩm qua các thời đại.
Nghiên cứu bản chất của tác phẩm văn học từ mối quan hệ giữa văn bản và người
đọc có thể thấy, tác phẩm văn học là sản phẩm của sự tương tác, đối thoại giữa mã của
người gửi với mã của người nhận. Theo đó, nếu lý giải yếu tố quyết định phương thức tồn
tại và đời sống lịch sử của tác phẩm văn học mà chỉ nghiêng về một trong hai phía, hoặc
văn bản, hoặc người đọc thì đều phiến diện và cực đoan như nhau. Khi văn bản được đặt
trong tương quan với người đọc, mặc dù tính đa nghĩa của tác phẩm có cơ sở từ đặc
trưng cấu trúc mở của văn bản, song nó đã được nhân lên nhiều, và nhiều hơn nữa do tính
chất đa mã của tiếp nhận. Và như vậy, sẽ mãi mãi còn lại với thời gian những tác phẩm văn
học chưa hình thành trong cuộc hành trình của văn bản đến với thế giới bất tận của người
đọc