TS. Lê Kim Châu
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.1
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.
1. Sự tác động của khoa học đối với sự phát triển của triết học
Mối quan hệ giữa triết học và các khoa học, đương nhiên là mối quan hệ
hai chiều, nghĩa là triết học và các khoa học đều có tác động đến nhau. Nếu
như sự tác động của triết học đến khoa học có thể chia thành những giai
đoạn và mỗi giai đoạn có những hình thức nhất định, thì ngược lại, sự tác
động của các khoa học đến sự phát triển của triết học không phải khi nào
cũng rõ ràng và có khuynh hướng rõ rệt. Từ chỗ lúc đầu là một sự hòa trộn
đan xen nhau giữa những tri thức khoa học và triết học, dần dần là sự tách
ra của các khoa học và bắt đầu ảnh hưởng của các khoa học đến sự phát
triển của triết học.
Trước khi triết học và khoa học xuất hiện, thế giới xung quanh được
phản ánh trong ý thức của người nguyên thủy dưới hình thức thần thoại.
Trong thần thoại bên cạnh niềm tin hư ảo vào các lực lượng thần thánh,
siêu tự nhiên, thì các vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới có một vị
trí đáng kể. Triết học ra đời trong cuộc đấu tranh với thần thoại, như một
nỗ lực nhằm giải thích thế giới. Thực chất triết học cũng tìm cách trả lời
cho các vấn đề mà trước đó đã được đạt ra trong thần thoại, nhưng bằng
một phương thức khác. Triết học là sự phân tích lý luận các vấn đề ấy dựa
trên logic, các tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn. Về mặt lịch sử,
sự ra đời của triết học là trùng hợp với sự xuất hiện những mần mống đầu
tiên của tri thức khoa học, với sự hình thành nhu cầu nghiên cứu lý luận.
Chúng ta có thể thấy rõ điều này ở Hy-lạp cổ đại. Triết học Hy-lạp cổ đại
khi mới hình thành không hề độc lập với các tri thức khoa học, mà thực
chất là đồng nhất với chúng để hình thành trên thực tế là môn khoa học
dần mất đi vai trò lịch sử của mình. Số phận của triết học thật trớ trêu,
chẳng khác gì King Lear, - nhân vật văn học của Shakespeare, - người chia
TS. Lê Kim Châu
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.3
toàn bộ vương quốc và tài sản to lớn của mình cho các con đã trưởng thành
để rồi trở thành trắng tay và bị đuổi ra đường.
Không nghi ngờ gì nữa, ảnh hưởng của khoa học đến triết học càng
ngày càng rõ rệt hơn. Theo dõi sự phát triển của khoa học trong thời kỳ
này, chúng ta thấy rằng quá trình phân ngành diễn ra nhanh chóng: Cơ học,
Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, Địa lý, Thiên văn học, …, lần lượt trở
thành các khoa học độc lập. Mỗi một khoa học tự xác định cho mình đối
tượng nghiên cứu riêng. Giới tự nhiên được chia thành nhiều lĩnh vực khác
nhau và trở thành đối tượng của những nghiên cứu độc lập. Việc này là cần
thiết, đặc biệt trong giai đoạn phát triển đầu tiên của khoa học, khi mà
nhiệm vụ chủ yếu là phải sưu tập, tích lũy các tài liệu. Nhưng phương pháp
được coi là cần thiết và chính đáng ấy của khoa học tự nhiên cũng đã ảnh
hưởng đến và in dấu lên tư duy triết học đương thời, - phương pháp tư duy
siêu hình. Mặt khác, trong các khoa học tự nhiên thời bấy giờ, chỉ có cơ
học là môn khoa học được coi là đạt đến mức độ hoàn thiện nhất định và vì
thế tư duy cơ học máy móc cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến triết học.
Chúng ta có thể nói rằng trong thời kỳ Phục hưng và cận đại, khoa học tự
nhiên đã có ảnh hưởng quyết định sự phát triển của triết học. Từ đó ảnh
hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học càng ngày càng rõ hơn.
Mỗi bước tiến mới của khoa học đều bằng cách này hay cách khác tác
động lên xu hướng phát triển và tư duy của triết học.
Như đã biết, một trong các tiền đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng
tư tưởng thiên tài, dự đoán trước được nhiều phát hiện sau này đồng thời
cũng đưa ra nhiều điều vô lý, nhưng không thể nào khác được. Ngày nay
thì khác. Những những thành tựu của khoa học tự nhiên càng ngày càng
nhiều hơn đã và đang tiếp tục cung cấp cho chúng ta những bằng chứng
chứng minh rằng giới tự nhiên là thống nhất. Ngày nay, một bức tranh bao
quát về những mối liên hệ không những trong các lĩnh vực riêng biệt, mà
còn giữa các lĩnh vực hầu như của toàn bộ giới tự nhiên, được rút ra chủ
TS. Lê Kim Châu
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.5
yếu là từ những kết quả nghiên cứu do các khoa học tự nhiên đem lại.
Trong những điều kiện như vậy, thì một thứ triết học tự nhiên đứng ngoài
và đứng trên các khoa học là hoàn toàn không cần thiết nữa. Mọi mưu toan
khôi phục triết học tự nhiên, theo Engels thậm chí phải coi là những bước
thụt lùi.
Tác động của khoa học lên sự phát triển của triết học không phải là
trực tiếp và theo một con đường thẳng, mà thường là gián tiếp tạo ra bầu
không khí tinh thần cho phép hình thành một kiểu tư duy, một cái nhìn
tương ứng với trạng thái đạt được của khoa học về thế giới. Thông qua
những tri thức, những phát minh khoa học các khái niệm, các phạm trù
triết học có thêm những nội dung mới. Chẳng hạn, thuyết nhật tâm của
Copernicus khi khẳng định rằng trái đất không là trung tâm của vũ trụ, thì
rõ ràng nó đã giáng một đòn chí mạng vào Kyto giáo, mở đầu cho một thời
kỳ mới của khoa học tách khỏi tôn giáo và thần học. Thuyết tiến hóa của
Darwin tự nó đưa đến kết luận rằng các loài động vật, thực vật không phải
ngẫu nhiên, được sự sáng tạo bởi những lực lượng thần thánh siêu tự nhiên
nào, mà là kết quả của một quá trình hoàn toàn do các lực lượng tự nhiên
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, tư tưởng khái quát của con
người về thế giới nói chung bao gồm cả con người trong đó, về quan hệ
của con người đối với thế giới. Thế giới quan phản ánh hiện thực bên ngoài
gián tiếp qua các nhu cầu, lợi ích, các lý tưởng mang tính cá nhân hay xã
hội. Tùy thuộc vào tính chất và phương thức biểu hiện có thể có nhiều loại
thế giới quan khác nhau: thần thoại, tôn giáo, khoa học, đạo đức, mỹ thuật,
chính trị, triết học… Xét về phương thức biểu hiện, triết học là thế giới
quan lý luận, là hệ thống các tư tưởng được xây dựng trên cơ sở tổng kết
thực tiễn và nhận thức. Xét về tính chất, triết học là sự khái quát chung
nhất, là tư duy tổng hợp.
TS. Lê Kim Châu
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.7
Những quan điểm, tư tưởng khi trở thành niềm tin của con người, sẽ
tích cực tham gia vào định hướng thái độ của con người đối với với các
hiện tượng, các sự kiện quan trọng trong hiện thực và trong cuộc sống, xác
định “chỗ đứng của con người trong thế giới”. Đối với triết học, những
quan điểm tư tưởng ấy còn giúp hình thành nên các nguyên tắc cơ bản chỉ
đạo con người trong các hoạt động của mình để đạt được mục đích hay nói
cách khác là chúng thực hiện chức năng phương pháp luận. Phương pháp
luận triết học, do xuất phát từ những quan điểm, quan niệm chung nhất,
nên cũng chỉ là phương pháp luận chung nhất. Nó chỉ nêu lên những điều
kiện chung cần thiết để giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ cụ thể, chứ
không phải trực tiếp giải quyết chúng.
2.2. Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối
với sự phát triển khoa học
Chức năng thế giới quan và phương pháp luận chung của triết học đối với
Tiếp theo, chức năng thế giới quan - phương pháp luận của triết học
đối với các khoa học là ở sự tổng kết các thành tựu đã đạt được của khoa
học và làm sáng tỏ các nguyên lý chúng của chúng. Tất nhiên, trong mỗi
một khoa học đều có sự tổng kết, khái quát các tri thức thành các nguyên
lý, các quy luật nhất định. Nhưng những tổng kết, khái quát trong mỗi một
khoa học cụ thể chỉ giới hạn trong lĩnh vực mà nó nghiên cứu. Đặc điểm
của khái quát triết học là những khái quát chung nhất, có liên quan đến tất
cả các hiện tượng và các quá trình của tự nhiên, xã hội và tinh thần.
Triết học là công cụ tổng hợp tri thức. Thực tế cho thấy trong sự
phát triển của tri thức hiện đại cùng với xu hướng xuất hiện của những
chuyên ngành mới chuyên sâu là xu hướng ngược lại, xu hướng liên ngành
kết hợp nhiều khoa học thành một hệ thống thống nhất. Tính chất tổng
TS. Lê Kim Châu
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.9
hợp, liên ngành của khoa học hiện đại không chỉ thể hiện ở sự kết hợp của
các ngành khoa học truyền thống thành các khoa học mới như lý hóa, hóa
lý, sinh hóa, sinh tâm lý, sinh vật lý, địa vật lý…, mà còn sự xích lại gần
nhau của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học nhân
văn. Chính xu hướng liên kết này của các khoa học cho phép đưa ra một
bức tranh khoa học chung về thế giới, tìm kiếm một cơ sở phương pháp
luận chung thống nhất, khắc phục tính chất phân tán manh mún của các
khoa học chuyên ngành, đem lại cơ sở cho sự hợp tác trong nghiên cứu
khoa học. Ở đây triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận kết nối các ngành
khoa học, là trung tâm phương pháp luận đem lại khả năng thâm nhập vào
các quá trình này một cách chủ động và tích cực.
Cuối cùng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và vai trò ngày
Sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đem đến một quan điểm
mới, tích cực về mối quan hệ giữa triết học và khoa học. Bản chất của quan
niệm mới đó là biện chứng. Triết học và các khoa học là những lĩnh vực
nhận thức khác nhau. Chúng có đặc điểm và đối tượng nghiên cứu riêng.
Quan hệ giữa chúng không phải là hoàn toàn đồng nhất thay thế lẫn cho
nhau, nhưng cũng không đối lập loại trừ nhau một cách tuyệt đối. Mối
quan hệ giữa triết học và các khoa học là mối quan hệ biện chứng, thống
nhất của các mặt đối lập. Tính đặc thù của mối quan hệ này là ở chỗ, tùy
từng giai đoạn phát triển mà mặt này hay mặt kia nổi trội, tác động của mặt
này lên mặt kia không phải chỉ theo một hướng duy nhất. Ở trên chúng ta
đã nói rằng các kết luận triết học được rút ra từ khoa học có thể là tích cực,
nhưng cũng có thể là tiêu cực. Điều đó phụ thuộc vào chỗ, bản thân các
nhà khoa học được định hướng bởi thế giới quan triết học nào. Nếu triết
học là mang tính tiến bộ, khoa học, thì nó có thể và phải thúc đẩy sự phát
triển của khoa học và ngược lại. Trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu
thế kỷ XX, những phát minh mới của khoa học tự nhiên, như phát hiện ra
TS. Lê Kim Châu
Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.11
tia X, hiện tượng phóng xạ, điện tử, … đã làm bộc lộ tính hạn chế của bức
tranh về thế giới vật lý từ trước đến giờ, tạo nên một tình thế khủng hoảng.
Phân tích “cuộc khủng hoảng của vật lý học” ấy, Lênin chỉ ra rằng, chủ
nghĩa duy tâm đã lợi dung và xuyên tạc những thành tựu có tính cách mạng
nói trên của khoa học tự nhiên như thế nào; rằng các nhà khoa học, - những
người xuất sắc trong các lĩnh vực của mình, nhưng lại kém trong lĩnh vực
triết học, do không nắm chắc tư duy biện chứng đã dao động và tìm đến
chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa bất khả tri ra làm sao; rằng những phát
“Мысль”. Москва, 1982.
5. А.Π.Спиркин. Основы философы. Издателъство Политической
литературы. Москва,1988.
6.П.Н. Федосеев. Философия и научное познание. Издательство
“Мысль”. Москва, 1983.
7. Теоретическое наследие В.И. Ленина и современная философская
наука. Издательство “Мысль”. Москва, 1974.