TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ M INH
KHOA KINH TẾ
Tiểu Luận Môn Học
Tài Chính Tiền Tệ
Đề Tài số 3:
TÓM TẮT LÝ THUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM
PHÁT VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GVHD:
TRƯƠNG MINH TUẤN
SVTH: STT
Nguyễn Thị Thư Trinh 78
Lê Thị Như Hiền 17
Châu Thị Hồng 21
Đặng Thị Xuân Hà 13
Hoàng Thi Kim Ánh 1
15
Kết Luận : 22
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 3
Lời Mở Đầu
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu
thế nổi bật của nền kinh tế thế giới đương đại. Sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá
kinh tế quốc tế đã đặt mỗi quốc gia trước những thời cơ và thách thức to lớn, đòi hỏi
các quốc gia phải có những chiến lược hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới cũng
như trong khu vực. Và một trong những thách thức to lớn ấy chính là lạm phát và bội
chi ngân sách nhà nước. Lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước như một căn bệnh
của nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân và đời sống xã
hội. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp không thể giải quyết trong một sớm một chiều
mà đòi hỏi một sự đầu tư lớn về thời gian cũng như sức lực mới có thể mong muốn
đạt được kết quả khả quan. Kiềm chế lạm phát và kiểm soát bội chi ngân sách nhà
Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát
dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong
thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn định.
Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không
xẩy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn
Có thể nói lạm
phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời
gian này các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho
sản xuất, kinh doanh
Lạm phát phi mã: lạm phát xẩy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ
lệ 2 hoặc 3 con số một năm. ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên
nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế , các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này
người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở
mức lãi suất bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến
dạng kinh tế nghiêm trọng.
Siêu lạm phát: xẩy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt
xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng
kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ
mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng
và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít
khi xẩy ra. TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 5
Nhưng nếu gắn 3 loại lạm phát trên với thời gian lạm phát thì lại được chia làm 3
loại là: Lạm phát kinh niên, lạm phát nghiêm trọng và siêu lạm phát.
Page 6
- Do cầu kéo hay là do sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và
dịch vụ. Khi tổng cầu hàng hoá và dịch vụ có khả năng thanh toán lớn hơn tổng cung
hàng hoá và dịch vụ đã đẩy giá tăng lên để thiết lập một sự cân bằng mới trên thị
trường, trong đó tổng cung bằng tổng cầu. Lạm phát phụ thuộc vào độ co giãn của giá
cung hàng hoá và dịch vụ. Cung hàng hoá và dịch vụ có thể tăng nhanh do tăng giá
một chút nếu độ co giãn của giá là lớn. M ột mặt, nếu các cơ sở sản xuất đang hoạt
động thấp hơn công suất hiện có và còn nhiều công suất sản xuất chưa được sử dụng
thì cung hàng hoá sẽ tăng nhờ tác động tăng cầu hàng hóa và có thể không gây ra lạm
phát.
- Do tác động của chính sách tiền tệ, giá tăng lên ít nhiều là do tăng cung tiền tệ
quá mức cầu của nền kinh tế. Với quan điểm này thì lạm phát xuất hiện khi có một
khối lượng tiền bơm vào lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
của thị trường. Điều này được biểu hiện ở chỗ đồng tiền nội địa mất giá.
- Do yếu tố tâm lý, người tiêu dùng chạy theo các tin đồn từ đó làm tăng
lượng cầu đột biến, không chuyển tiền của mình sang đầu tư sản xuất - kinh doanh
mà mua vàng, kim loại quý
1.1.5. Tác động của lạm phát
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhau đối
với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế mà lạm phát được
coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác động của nó.
* Đối với lĩnh vực sản xuất:
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động
không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự mất giá của đồng
tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh - sản xuất
ở một vài danh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế. Nếu một
doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất
lĩnh vực dự định đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có
gì. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời
sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được.
Theo Gregory M ankiw thì lạm phát gây ra 5 tổn thất sau:
Làm giảm sức mua của đồng tiền. Vì vậy, lạm phát đồng nghĩa với một loại
thuế vô hình lấy đi một phần thu nhập của công dân và những người nắm giữ tiền mặt.
Buộc các doanh nghiệp phải thay đổi biểu giá thường xuyên. Việc thay đổi này
gây ra chi phí cho doanh nghiệp.
Gây ra thay đổi giá tương đối trong khi đó người sản xuất và tiêu dùng không
thích ứng kịp. Nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bố nguồn lực một
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 8
cách hiệu quả. Lạm phát làm cho việc phân bố nguồn lực trở nên kém hiệu quả, khi
xét dưới góc độ kinh tế học vi mô.
Làm giảm nguồn thu thuế do nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến tác
động của lạm phát. Lạm phát có thể thay đổi nghĩa vụ thuế của cá nhân mà người làm
luật không lường hết được.
Gây ra bất tiện cho cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường
xuyên thay đổi. Tiền là thước đo mà trong đó chúng ta tính chi phí các giao dịch kinh
tế. Lạm phát làm cho thước đo này co giãn, làm đảo lộn kế hoạch tài chính cá nhân và
doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy lạm phát gây ra nhiều mặt tiêu cực cho xã hội và nền kinh tế.
Tuy nhiên, trên thực tế lạm phát không hẳn là hoàn toàn có tác động tiêu cực. Trong
cuốn “Lý thuyết về việc làm, tiền tệ và lãi suất”, Keynes đã chủ trương thực hiện
chính sách tiền tệ giảm giá. Lập luận của Keynes cho rằng trong điều kiện kinh tế trì
trệ, thất nghiệp tăng cao thì chính phủ có thể chi tiêu nhiều hơn (chính tài khóa mở
rộng) và duy trì một tỷ lệ lạm phát nhất định để kích thích kinh tế tăng trưởng.
giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như: ngân hàng trung ương bán ra các
chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , bán ngoại tệ vàvay , phát hành các công
cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắp cho bội chi ngân sách nhà
nước , tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tăng lãi suất tiền gửi tiét kiệm dân cư . các biện
pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm bớt được một khối
lượng khá lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư do đó giảm được sức ép lên giá cả hàng hoá
vầ dịch vụ trên thị trường . ở việt nam các biện pháp này đã dược áp dụng thành công
vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 .
Thứ hai : Thi hành chính sách tài chính thắt chặt như tạm hoãn những khoản chi
chưa cần thiết trong nền kinh tế , cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức có
thể được .
Thứ ba : Tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu
thông bằng cách khuyến khích tự do mậu dịch , giảm nhẹ thuế quan và các biện pháp
cần thiết khác để thu hút hàng hoá từ ngoài vào.
Thứ tư : Đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài .
Thứ năm : Cải cách tiền tệ , đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp trên chưa
đem lại hiệu quả mong muốn .
1.1.7.2. Biện pháp chiến lược
Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân . Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài cho đất
nước
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 10
Thứ nhất : Thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng lưu thông hàng
hoá. Đây là biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát , duy trì sự ổn định
tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân . Sản xuất trong nước càng phát triển thì càng tạo
tiền đề vững chắc cho sự ổn định tiền tệ . Chú trọng thu hút ngoại tệ qua việc xuất
Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:
Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước = Tổng chi - Tổng thu =
(D + E + F) - (A + B) = C
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 11
1.2.2. Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng
làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết
những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng
lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không
phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động
của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà
nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ
làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu
dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của
chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn, ),
tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước.
1.2.3. Thực Trạng Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Hiện Nay
-
Giai đoạn từ năm 1986 – 1990 : bội chi ngân sách là một yếu tố quan trọng
gây nên lạm phát cao trong thập kỷ này trong đó có việc bù đắp thâm hụt ngân
Bội chi ngân sách tăng cao thể hiện chính sách tài khoá lỏng lẻo, nói lên sự
chi tiêu của chính phủ cho đầu tư và thường xuyên vượt quá mức có thể của nền
kinh tế.
1.2.4. Một Số Giải Pháp Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên là
phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực
có hạn. Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực
tế và sự phát triển trong tương lai. Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi “hợp lý”,
bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo
đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý. Bội chi ngân sách nhà nước được hiểu một cách
chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 13
thâm hụt ngân sách nhà nước do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiện chính
sách kinh tế vĩ mô. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng
thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài;
phát hành tiền để bù đắp chi tiêu;… Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc
gia.
Bội chi ngân sách nhà nước tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các
giải pháp nhằm bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh
hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử
dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chi ngân sách nhà nước như sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền. Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước
có thể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên,
giải pháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù
đắp bội chi ngân sách nhà nước. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi ngân sách nhà
Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định
chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để
thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ
quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế – xã hội, nhằm giải quyết
các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi
trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các
nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quản lý ngân
sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nhà nước nói riêng có ý nghĩa vô
cùng cấp thiếtTIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 15 Chương 2
Mối Quan Hệ Giữa Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Và Lạm Phát
Một trong những thách thức đối với công tác điều hành kinh tế vĩ mô ở Việt
Nam trong những năm gần đây đó là tình trạng lạm phát cao. Trong 2 năm gần đây,
tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đã khá cao so với các nước trên thế giới.
Hình 2. So sánh tỷ lệ lạm phát của Việt Nam và một số nước (% thay
đổi so với cùng kỳ năm trước)
Nguồn: IMF (2011a). Số năm 2011 là số dự báo của IMF Lạm phát cao so với thế giới của Việt Nam không chỉ diễn ra trong năm 2011
mà còn cả ở những năm trước đó. Theo số liệu của IMF (2011a), Việt Nam có tỷ lệ
lạm phát trung bình của giai đoạn 2001-2005 (5,35%) đứng thứ 67 thế giới và của
giai đoạn 2006-2010 (11,5%) đứng thứ 24 thế giới. Năm 2010, tỷ lệ lạm phát của
Việt Nam là 11,75%, trong khi đó tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc là 4,7%, của
M alaysia là 2,08%, của Thái Lan là 3,05%. Tỷ lệ lạm phát năm 2011 của Việt
Nam tiếp tục được dự báo cao hơn đáng kể so với nhiều nước trong khu vực (IMF,
2011).
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 16
Xét về nguyên nhân gây ra lạm phát thời gian qua, hiện nay cũng có một số ý
kiến cho rằng thâm hụt ngân sách là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng
lạm phát cao trong những năm gần đây. Tuy nhiên, lạm phát ở Việt Nam được
cho là xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân tiền tệ
dường như đang nhận được sự đồng thuận (Xem thêm nghiên cứu của Đặng
Ngọc Tú, 2010; Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành, 2011 về các nguyên
nhân lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua).
Lạm phát cao của Việt Nam trong một thời gian dài thường được giải thích là
do giá thế giới biến động nhưng thực tế, song dường như cách lập luận này thiếu
năm gần đây. Hình 3 cho thấy tốc độ lạm phát mặc dù lúc tăng lúc giảm, nhưng nhìn
chung, đang theo xu hướng tăng kể từ năm 2001.
Thứ hai: Lạm phát và bội chi ngân sách có những giai đoạn diễn biến trái
chiều nhau. Hệ số tương quan giữa thâm hụt (theo cả hai cách tính) ở trong Bảng 9
phần nào đã thể hiện điều này. Cụ thể có những năm Việt Nam có mức thâm hụt
không giảm so với năm trước song lại rơi vào tình trạng thiểu phát hoặc có tỷ lệ
giảm phát hoặc lạm phát thấp, ví dụ như giai đoạn 1999-2000. TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 18
Tương tự, giai đoạn 2001- 2006 trong khi bội chi ngân sách tiếp tục ổn định ở
mức xung quanh 5% GDP như giai đoạn trước đó song lạm phát lại ở mức cao hơn
và có xu hướng biến động nhiều hơn.
Hình 4. Bội chi ngân sách và lạm phát ở Việt Nam 2001-2010
252015
sách so với GDP chỉ là 4,58% thì lạm phát lại tăng vọt lên tới trên 19,9%. Trong khi
năm 2009 thâm hụt ngân sách là cao nhất lên đến
6,9% song tốc mức lạm phát lại chỉ là 6,5%.
Thứ ba: M ối quan hệ giữa Bội chi ngân sách và lạm phát có phụ thuộc vào
độ trễ. Cụ thể, hệ số tương quan giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát khi khi tính
trễ 1 năm (đối với thâm hụt) có giá trị dương. Hay nói cách khác, lạm phát năm nay
và thâm hụt năm trước diễn biến cùng chiều. TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 19
Tuy nhiên, tương tự như phân tích ở trên điều này cũng không đồng nghĩa với
việc hai biến này có quan hệ và tác động “nhân quả”.
Hệ số tương quan giữa bội chi ngân sách và lạm phát 1991-
2010
BCVN1
BCQT
Trên thế giới cũng có quốc gia mà bội chi ngân sách kéo dài lại không gây
ra tác động đáng kể nào đối với lạm phát. Italia trong thập niên 1980 đã rơi vào
tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài ở mức khoảng 10% GNP, song tỷ lệ lạm phát
trong giai đoạn này lại giảm từ mức 20% xuống khoảng 5%. Nhật Bản cũng là một ví
dụ điển hình về trường hợp này khi mà thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao trong
nhiều năm song tỷ lệ lạm phát gần như ở mức 0% (Saleh, 2003). Thực tế của nước
M ỹ những năm của thập niên 1980 cũng chỉ ra các bằng chứng tương tự.
Những phân tích trên đã cho thấy mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và
lạm phát ở Việt Nam cũng là không rõ nét. Cũng về mối quan hệ này, sau khi sử
dụng mô hình để phân tích và ước lượng các nhân tố vĩ mô quyết định đến lạm
phát ở Việt Nam với nguồn dữ liệu trong giai đoạn 2001-2010, hai tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2011) cũng đã kết luận “không có
tác động rõ ràng của thâm hụt ngân sách đối với lạm phát trong giai đoạn nghiên
cứu”. Tuy nhiên, những kết luận nói trên không hàm ý là thâm hụt không tác
động đối với lạm phát ở Việt Nam vì thực tế thâm hụt ngân sách có thể tác động
đến lạm phát trực tiếp và gián tiếp qua nhiều kênh khác nhau. TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 20
Đối với mỗi quốc gia, nguyên nhân gây ra lạm phát có thể là: do cầu kéo hay
là do sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ; do chi phí
đẩy khi có tác động của các yếu tố bên ngoài tác động vào không gắn với tình hình
tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế; lạm phát là do tiền tệ, giá tăng lên ít nhiều
là do tăng cung tiền tệ quá mức cầu của nền kinh tế.
Thâm hụt ngân sách có thể được bù đắp thông qua các kênh: in tiền (vay của
ngân hàng nhà nước); vay trong nước và vay nước ngoài, cắt giảm chi tiêu và tăng
Page 21
cũng chỉ là nhận định có tính cảm tính hơn khi xét đến tổng cầu của nền kinh tế.
Nhìn lại toàn bộ quá trình nhiều năm qua cho thấy, mối quan hệ giữa bội chi
ngân sách nhà nước với lạm phát có thể rút ra một số kết luận sau:
- Ngân sách nhà nước có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Nếu bội chi ngân
sách nhà nước quá mức có thể dẫn đến lạm phát cao. Đặc biệt, nếu bù đắp bội chi
ngân sách bằng việc phát hành tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm phát.
- Tăng chi ngân sách nhà nước để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, sẽ
kích thích đầu tư phát triển và tăng đầu tư phát triển sẽ đưa đến tăng trưởng cao. Tuy
nhiên, nếu tăng chi quá mức cho phép, tức là tăng chi đến mức làm cho bội chi ngân
sách quá cao và để bù đắp thâm hụt này phải đi vay nợ quá lớn thì sẽ đưa đến gánh
nặng nợ. Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng (kích cầu quá mức) thì ở chu kỳ sau
sẽ kéo theo lạm phát, mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư phát triển và giảm đầu tư
phát triển kéo theo giảm tăng trưởng. Như vậy, thực tế ở đây là cần có liều lượng của
chi tiêu ngân sách nhà nước ở mức cho phép nhằm đẩy đầu tư phát triển tăng lên và
tiếp theo là đưa tăng trưởng kinh tế lên cao mà không kéo theo lạm phát cao. Mối
quan hệ giữa bôi chi ngân sách và lạm phát được thể hiện qua công thức:
AD = C + G + I + X – M.
Trong đó, G chính là chi tiêu của Chính Phủ cho hàng hóa dịch vụ. Chi tiêu
chính phủ tăng, trong khi các chi tiêu khác như: chi tiêu tiêu dùng hộ gia đình C, chi
tiêu đầu tư cho khu vực tư nhân I, xuất khẩu ròng NX = X – M không tăng, suy ra AD
tăng. Khi tổng cầu tăng, mà tổng cung không đổi hoặc tổng cầu tăng cao hơn tổng
cung, dẫn đến giá tăng cao liên tục, dẫn đến lạm phát tăng.
TIỂU LUẬN MÔN HỌC GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤNPage 23
Tài Liệu Tham Khảo
1. “Trần Văn Giao ( 2008 ), Xử lý bội chi ngân sách nhà nước nhằm kiềm chế lạm
phát hiện nay, Nghiên cứu – Trao đổi, Số 18 năm 2008.”
2. “ Lê Quốc Lý ( 2008), Bội chi ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với lạm
phát ở Việt Nam, Nghiên cứu – Trao đổi, Số 10 năm 2008.”
3. Tài liệu Internet: