Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
LỜI MỞ ĐẦU
Với nhu cầu xã hội ngày càng cao, trình độ của con người cũng càng phát
triển thì bên cạnh đó những công nghệ mới cũng được ra đời theo. Một trong số
những công nghệ đó là công nghệ IPTV – Internet Protocol Television. Ở châu
Âu và các nước phát triển trên thế giới thì IPTV đã rất quen thuộc, còn ở Việt
Nam thì IPTV vẫn là một khái niệm mới. Để IPTV phát triển mạnh ở Việt Nam
thì những sinh viên trong nghành như em cần phải tìm hiểu kĩ về công nghệ này
sau đó tìm ra hướng phát triển cho công nghệ này ở Việt Nam.
Tại Việt Nam, truyền hình trực tuyến, hay còn gọi là IPTV (Internet
Protocol Television) hiện nay vẫn còn là một khái niệm chưa được nhiều người
sử dụng biết tới. Đó là điều dễ hiểu khi IPTV Việt Nam mới đang phát triển ở
những bước đi sơ khai đầu tiên. Hiểu một cách đơn giản, IPTV là truyền hình
trên mạng Internet, thông tin thay vì được truyền dẫn bằng tín hiệu sóng
(analog), qua sợi cáp quang (cable) hay qua vệ tinh (DTH) thì được truyền dẫn
bằng các gói thông tin qua mạng. Một câu hỏi đặt ra, tại sao cần có thêm IPTV
khi mà những hình thức truyền hình kia đã phủ sóng rộng khắp. Trên bề ngoài,
điều này có vẻ đúng, song thực tế lại cho thấy cả ba hình thức truyền hình kia
đều có những hạn chế. Ví dụ kênh analog và cable TV chỉ có thể phủ sóng trong
nước, DTH TV cần một khoản đầu tư khổng lồ để phủ sóng toàn cầu. Trong khi
đó, IPTV tận dụng được cơ sở hạ tầng sẵn có là mạng Internet đã rộng khắp toàn
thế giới.
Là sinh viên ngành điện tử viễn thông chúng em phải tìm hiểu tầm quan
trọng của công nghệ IPTV và đã được sự hướng dẫn của cô Phạm Thị Phượng
và thầy Nguyễn Đình Việt nên chúng em đã lựa chọn đề tài tìm hiểu về công
nghệ IPTV và những ứng dụng của IPTV làm đề tài tốt nghiệp. Chúng em mong
được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và các bạn để có thể làm tốt bài báo cáo
tốt nghiệp lần này.
Đồ án tốt nghiệp Trang 1
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
rộng hơn IPTV là dịch vụ giá trị gia tăng sử dung băng rộng IP phục vụ cho
nhiều người dùng (user).
Đồ án tốt nghiệp Trang 2
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
Hình 1.2.1. Giới thiệu về IPTV
Thay vì nhận tín hiệu truyền hình theo kiểu truyền thống analog hoặc tín
hiệu vệ tinh hoặc qua cáp, IPTV cho phép TV được kết nối trực tiếp vào đường
mạng Internet của gia đình thu tín hiệu. Có thể thấy dịch vụ truyền hình đã được
tích hợp trực tiếp với dịch vụ kết nối mạng Internet.
Hiện có hai phương pháp chính thu tín hiệu truyền hình Internet. Thứ
nhất, sử dụng máy tính kết nối với dịch vụ truyền hình IPTV để nhận tín hiệu
sau đó chuyển đổi thành tín hiệu truyền hình truyền thống trên những chiếc TV
chuẩn. Thứ hai, sử dụng một bộ chuyển đổi tín hiệu (set top box). Thực chất bộ
chuyển đổi tín hiệu này cũng chỉ đóng vai trò như một chiếc PC như ở phương
pháp thứ nhất. Tất nhiên cùng với sự phát triển của công nghệ chắc chắn sẽ có
những sản phẩm TV có thể kết nối và thu nhận tín hiệu truyền hình trực tiếp từ
đường truyền Internet.
Bên cạnh đó người dùng còn có thể còn được chứng kiến sự phát triển của
truyền hình IPTV không dây. Đây không còn là chuyện dự báo tương lai mà đã
trở thành hiện thực đơn giản kết nối Internet không dây được thì IPTV cũng
không dây được.
Đồ án tốt nghiệp Trang 3
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
1.2.2 Mô hình kiến trúc hệ thống cung cấp dịch vụ IPTV
Hình 1.2.2 Mô hình kiến trúc hệ thống cung cấp dịch vụ IPTV.
IPTV là công nghệ truyền dẫn hình ảnh kỹ thuật số tới người sử dụng qua
Internet băng rộng. Ngoài các dịch vụ truyền hình quảng bá thông thường,
Video theo yêu cầu (Video on Demand – VoD), IPTV còn hỗ trợ sự tương tác
năng quản lý thuê bao, nội dung và báo cáo hoàn chỉnh cùng với các chức năng
quản lý EPG và STB, đồng thời vẫn duy trì tính mở cho việc tích hợp các dịch
vụ trong tương lai.
- Hệ thống phân phối nội dung: Bao gồm các cụm máy chủ VoD và các hệ
thống quản lý VoD tương ứng, cho phép lưu trữ các nội dung đã được mã hóa và
thiết lập các chính sách phân phối nội dung một cách mềm dẻo. Hệ thống này
thường được thiết lập phân tán, cho phép nhà khai thác mở rộng một cách kinh
tế, phù hợp với tải và yêu cầu dịch vụ của các thuê bao. Tín hiệu video sẽ được
phát qua luồng IP multicast tới STB và thông qua giao thức RSTP khách hàng
có thể dừng tín hiệu hoặc tua ngược, xuôi tương tự như xem qua đầu DVD.
- Hệ thống quản lý bản quyền (DRM): Giúp nhà khai thác bảo vệ nội
dung của mình, như trộn các tín hiệu truyền hình hay mã hóa nội dung VoD, khi
truyền đi trên Internet và tích hợp với tính năng an ninh tại STB phía thuê bao.
- Mạng truyền tải: Hạ tầng mạng IP băng rộng để truyền dịch vụ từ nhà
cung cấp đến khách hàng. Ngoài yêu cầu mạng lõi tốc độ cao trên nền công
nghệ IP, để đảm bảo chất lượng cho dịch vụ IPTV hiện nay phần mạng truy
nhập thường sử dụng các đường truyền như cáp quang, xDSL. Trong thời gian
tới, với sự phát triển của mạng truy nhập vô tuyến băng rộng và các kiến trúc
mạng mới, dịch vụ IPTV sẽ được cung cấp cho cả các thiết bị di động.
Đồ án tốt nghiệp Trang 5
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
1.3 Phương thức truyền phát tín hiệu của công nghệ IPTV
1.3.1 Phát quảng bá (broadcasting), truyền phát tới mọi nơi
Nguyên lý hoạt động của hệ thống quảng bá, các chương trình được vẽ
trên hình 1.3.1.
Trong đó MBone (mạng xương sống của hệ thống đa điểm) chính là
đường trục Internet. Tuy nhiên người sử dụng chỉ theo lệnh của bộ quản lý nội
dung (content manager) để được giới thiệu nội dung chương trình hữu quan.
Chương trình cụ thể do rất nhiều bộ IPTV server thu thập được hoặc cùng do
dung truyền hình trực tiếp/truyền hình VOD (theo điểm) và xử lý, giới thiệu các
ứng dụng gia tăng (phục vụ tin tức, điện thoại có hình, email, nhắn tin ). Nguồn
nội dung truyền hình trực tiếp/truyền hình VOD không qua hệ thống xử lý nội
dung được mã hóa để phù hợp với luồng media theo yêu cầu qua mạng chuyển
tải đưa các luồng này cung cấp tới các người dùng đầu cuối.
2. Mạng truyền tải: Đây là mạng cáp IP. Đối với luồng media có hình thức
nghiệp vụ không giống nhau có thể dùng phương thức chuyển đa hướng
(multicast) cũng có thể chuyển theo phương thức đơn kênh. Thông thường,
truyền hình quảng bá BTV truyền đa hướng tới user đầu cuối, truyền hình theo
yêu cầu VOD thông qua mạng cáp phân phát nội dung CDN (Content
Distribution Network) tới địa điểm người dùng đầu cuối.
Đồ án tốt nghiệp Trang 7
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
3. Mạng đầu cuối (còn gọi là mạng cáp gia đình). Theo các nhà khai thác viễn
thông, thì mạng này là mạng tiếp nối băng rộng xDSL, FTTx+LAN hoặc
WLAN.
4. Bộ quản trị bao gồm quản lý nội dung, quản lý cáp truyền, tính cước phí, quản
lý các thuê bao, quản lý các hộp ghép nối STB.
Ta thấy trong mạng IPTV có 3 dạng luồng tín hiệu: Luồng quảng bá BTV, luồng
truyền đến địa điểm theo yêu cầu VOD và luồng nghiệp vụ giá trị gia tăng. Như
biểu diễn trên hình 1.3.3. Ta xét các phương thức truyền tín hiệu thị tần. Có 3
phương thức truyền trực tiếp hiện trường, truyền quảng bá có định thời gian và
truyền tới điểm VOD. Khi truyền hình trực tiếp đồng thời ta lấy nội dung này
lưu vào bộ nhớ để phát lại vào truyền hình quảng bá định thời gian hoặc làm
nguồn các tiết mục cho truyền hình VOD. Đối với tiết mục quảng bá có định
thời IPTV dùng phương pháp truyền phát đa điểm IP có tiết kiệm băng tần tức là
phương thức multicast. Phương thức này thực hiện "nhất phát, đa thu". Dùng
phương thức này, mỗi tiết mục mạng cáp chỉ phát một luồng số liệu thời gian
thực (real time) không liên quan tới số người xem tiết mục này.
IPTV thiết lập tới user nghiệp vụ multimedia thời gian thực và tương tác nên
ADSL không thỏa mãn các yêu cầu của IPTV. Cáp quang truyền dẫn tới tận nhà
FTTH được công nhận là phương thức chuyển tải tối ưu. Cáp quang có băng tần
rất rộng và có khả năng truyền dẫn hai hướng đối xứng đảm bảo được yêu cầu
truyền hình ảnh động theo hai hướng với chất lượng cao. Thiết bị đầu cuối IPTV
trong gia đình có 2 loại: một là máy vi tính PC, hai là máy TV + hộp kết nối
STB. Hộp STB thực hiện 3 chức năng sau: 1. Nối tiếp vào mạng băng tần rộng,
thu phát và xử lý số liệu IP và luồng video. 2. Tiến hành giải mã luồng video
MPEG-2, MPEG-4, WMV, Real đảm bảo video VOD hiển thị lên màn hình ti
vi các số liệu 3. Phối hợp với bàn phím đảm bảo HTML du lịch trên mạng,
tiến hành gửi nhận email. Hộp STB đảm nhiệm các nhiệm vụ trên chủ yếu dựa
vào bộ vi xử lý. Để kết luận ta thấy IPTV ứng dụng kỹ thuật streaming media,
thông qua mạng băng rộng truyền dẫn tín hiệu truyền hình digital đến các thuê
bao. Các thuê bao chỉ cần có thiết bị đầu cuối là máy tính PC hoặc TV+STB là
có thể thưởng thức được các chương trình truyền hình phong phú. Hoạt động
của IPTV là hoạt động tương tác trên mạng không chỉ có các chương trình
truyền hình quảng bá mà còn thực hiện truyền hình đến địa điểm theo yêu cầu
(VOD). IPTV còn có các dịch vụ tương tác khác như truyền thoại có hình,
email, du lịch trên mạng, học tập từ xa IPTV cùng các hoạt động thông tin trên
băng tần rộng đã kết hợp được 3 mạng (máy tính + viễn thông + truyền hình)
biểu thị xu thế phát triển của mạng truyền thông tương lai. Các nhà kinh doanh
dịch vụ viễn thông băng rộng không chỉ ở các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật mà
Đồ án tốt nghiệp Trang 10
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
ở các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông và Việt
Nam cũng đang phát triển mạnh dịch vụ IPTV.
1.4 Ưu- Nhược điểm của công nghệ IPTV
1.4.1 Ưu điểm của IPTV
1.4.1.1 Tích hợp đa dịch vụ
Đồ án tốt nghiệp Trang 11
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
IPTV sử dụng công nghệ chuyển mạch IP để loại bỏ hạn chế này. Mọi dữ
liệu chương trình truyền hình được lưu trữ tại một vị trí trung tâm và chỉ có dữ
liệu kênh mà người dùng yêu cầu xem là được truyền tải đi. Điều này sẽ cho
phép nhà cung cấp dịch vụ có thể bổ sung thêm được nhiều dịch vụ cho IPTV
hơn vì băng thông không còn phải là vấn đề quá khó giải quyết nữa.
1.4.1.4 Mạng gia đình
Kết nối vào mạng Internet trong gia đình không chỉ có TV mà còn có các
PC khác. Điều này sẽ cho phép người dùng có thể sử dụng TV để truy cập đến
những nội dung đa phương tiện trên PC như ảnh số, video, lướt web, nghe
nhạc Không những thế một số màn hình TV giờ đây còn được tích hợp khả
năng vận hành như một chiếc TV bình thường. Tất cả liên kết sẽ trở thành một
mạng giải trí gia đình hoàn hảo.
1.4.1.5 Video theo yêu cầu - Video on Demand (VOD)
VOD là tính năng tương tác có thể nói là được mong đợi nhất ở IPTV.
Tính năng này cho phép người xem có thể yêu cầu xem bất kỳ một chương trình
truyền hình nào đó mà họ ưa thích. Ví dụ, người xem muốn xem một bộ phim đã
có cách đây vài năm thì chỉ cần thực hiện tìm kiếm và dành thời gian để xem
hoặc ghi ra đĩa xem sau.
1.4.1.6 Kiểm soát tối đa chương trình TV
VOD nói chính xác cũng là một phần lợi thế này. Đây là tính năng mà
người dùng sẽ cảm thấy thích thú nhất ở IPTV bởi nó cho phép họ có thể kiểm
soát tối đa chương trình truyền hình.
Không còn thụ động phải xem những gì mà nhà cung cấp dịch vụ phát đi như ở
truyền hình truyền thống hay vệ tinh mà giờ đây người dùng sẽ được trải nghiệm
khả năng kiểm soát tối đa những nội dung mà họ muốn xem. Với VOD người
dùng có thể chọn lựa những chương trình thích hoặc ghi nó ra đĩa để xem về sau
này.
Nhờ đó mà thiết bị điều khiển từ xa của IPTV sẽ có đầy đủ tính năng như
Vào cuối những năm 90, sự phát triển của các dịch vụ truyền hình vệ tinh,
truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số, và đặc biệt là sự ra đời của truyền hình
độ nét cao (High Definition Television - HDTV) đã để lại dấu ấn trong lịch sử
phát triển của lĩnh vực truyền hình. Hiện nay với sự ra đời của dịch vụ IPTV-
một phương thức cung cấp dịch vụ truyền hình mới sẽ làm thay đổi đáng kể thị
phần của các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình truyền thống.
IPTV ra đời dựa trên sự hậu thuẫn của ngành Viễn thông. IPTV dễ dàng
cung cấp nhiều hoạt động tương tác hơn, tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với
các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ truyền hình.
IPTV có cơ hội lớn phát triển nhanh chóng khi mà mạng băng rộng được
phát triển có mặt ở khắp mọi nơi. Hiện tại có trên 130 triệu hộ gia đình sử dụng
dịch vụ băng rộng trên thế giới. Rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn
trên thế giới đang triển khai dịch vụ IPTV và xem đây là cơ hội mới để thu lợi
Đồ án tốt nghiệp Trang 13
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
nhuận từ thị trường hiện có và là giải pháp tự bảo vệ trước sự lấn sân của các
dịch vụ truyền hình cáp.
Năm 2004, các nhà đầu tư trên thế giới đã chi 304 triệu USD để xây dựng
cơ sở hạ tầng cho sự ra đời của dịch vụ IPTV. Theo dự đoán của Công ty nghiên
cứu thị trường Infonetics (Mỹ) số người sử dụng IPTV sẽ tăng lên 53,7 triệu và
đạt doanh thu 44 tỷ USD vào năm 2009.
Xu hướng phát triển dịch vụ IPTV trên thế giới.
Hãng nghiên cứu thị trường công nghệ cao In-Stat dự báo thị trường các
dịch vụ IP video tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương sẽ tăng trưởng tới
80%/năm từ nay đến năm 2012. Châu Á sẽ chiếm tới một nửa tổng số thuê bao
TV của các công ty điện thoại trên toàn thế giới vào năm 2009 với tổng số thuê
bao tối thiểu là 32 triệu. Châu Âu, Trung Đông và châu Á là những khu vực dẫn
đầu về doanh thu IPTV.
Dưới đây là số liệu dự báo chi tiết của TelcoTV về số thuê bao IPTV và
Mainland
China
3.512.005 7.877.010 13.105.515 186%
16 India 1.213.638 2.069.416 3.790.908 107%
17
Các nước còn
lại
48.325 67.950 131.597 92%
18 Tổng cộng 28.052.118 45.709.357 67.761.825 92%
(Nguồn: TelcoTV)
Bảng 2 – Dự báo tăng trưởng IPTV của Gartner Dataquest
TT Chỉ tiêu Năm
2008 2009 2010
I Thuê bao IPTV, nghìn
1 Tổng thuê bao IPTV 25,522 37,490 50,302
2 Tốc độ tăng trưởng 85.4% 46.9% 34.2%
3 Tỷ lệ thâm nhập/hộ gia đình 1.6% 2.2% 3.0%
4 Thuê bao IPTV xem các kênh truyền
hình cơ bản 19,701 28,671 38,857
5 Thuê bao IPTV xem các kênh truyền 11,061 17,378 25,117
Đồ án tốt nghiệp Trang 15
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
hình đặc sắc
6 Thuê bao IPTV sử dụng VoD 7,835 13,587 20,598
II Doanh thu IPTV, triệu USD
1 Tổng doanh thu dịch vụ IPTV 4,769 8,435 13,392
2 Tốc độ tăng trưởng 117.8% 76.9% 58.8%
3 Doanh thu dịch vụ kênh truyền hình 3,926 6,642 10,299
4 Doanh thu dịch vụ VoD 753 1,545 2,557
IPTV dẫn đầu trong khu vực. PCCW ở HongKong, nhà cung cấp dịch vụ IPTV
lớn nhất thế giới với trên 500.000 thuê bao đã đưa HDTV và VoD vào cung cấp
trên mạng DSL của mình. SOFTBANK của Nhật Bản đang xây dựng nội dung
lên đến 5.000 giờ cho các phim truyện Nhật Bản và Holywood trên dịch vụ
DSL/FTTH VoD.
Số liệu thống kê, khảo sát của hãng cố vấn công nghệ Accenture thực hiện
tại Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Italy cho thấy:
+ Khoảng 46% trong số 6.000 người tham gia đợt khảo sát không hiểu về
thuật ngữ IPTV.
+ 30% muốn có khả năng xem càng nhiều phim càng tốt.
+ 26% thích tạo ra các kênh riêng để theo dõi chương trình mỗi khi rảnh
rỗi.
+ Hơn 50% hài lòng về việc ít phải xem quảng cáo hơn.
+ 54% lưỡng lự khi phải trả thêm một khoản cước phí để xem nội dung ưa
thích tại bất cứ thời điểm nào. Ngoài ra họ còn tỏ ra lo ngại về nguy cơ bảo mật
và vấn đề chất lượng của dịch vụ IPTV.
+ Truyền hình cáp vẫn sẽ thống trị đến năm 2010, nhưng sau đó IPTV sẽ
thực sự là đối thủ cạnh tranh với truyền hình số mặt đất và vệ tinh trong việc thu
hút khán giả truyền hình Châu Á.
Những thông tin và con số trên cho thấy trong phần thời gian còn lại của
thập kỷ này, IPTV sẽ là dịch vụ có thị trường lớn trên toàn cầu, trong đó châu Á
dẫn đầu trong việc thu hút khách hàng. IPTV hứa hẹn là thị trường năng động
với rất nhiều cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình có mô hình kinh
doanh, hình thức cung cấp dịch vụ và công nghệ hợp lý.
Tuy nhiên tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương, nhiều nước vẫn phải đối
mặt với nạn sao chép bất hợp pháp cùng với việc sử dụng băng đĩa lậu còn rất
phổ biến gây cản trở cho sự phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền mới nổi lên
Đồ án tốt nghiệp Trang 17
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
(Video/Music/Audio)
x
3 Dịch vụ đa
phương tiện cho
phép download
Video/Music/Audio x
Đồ án tốt nghiệp Trang 18
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
4 Truyền hình
tương tác
T-information (tin tức, thời tiết, giao
thông, thông tin trong vùng, thông tin
toàn quốc )
x
T-commerce (ngân hàng, chứng khoán,
mua sắm, mua vé, đấu giá…)
x
T-entertainment (photo album,
karaoke…)
x
T-education x
5 Điện thoại và
nhắn tin
VoIP, Video Conference, E-mail, SMS,
Messenger…
x
6 Dịch vụ Internet Walled Garden (Cổng dữ liệu, Cổng mặt
đất)
x
Linear/Broadcast Video/Music/Audio X
x
1
: triển khai vào giai đoạn 3 do yêu cầu về QoS.
x
2
: triển khai vào giai đoạn 3 do yêu cầu đảm bảo QoS trong quá trình hoạt
động.
Đồ án tốt nghiệp Trang 19
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
1.5.2 Tình hình phát triển IPTV của một số khu vực trọng điểm trên thế
giới
Theo dự đoán, số lượng thuê bao dịch vụ IPTV sẽ nhảy vọt từ 13,5 triệu
(năm 2007) lên 72,6 triệu người vào năm 2011, tương đương với mức tăng
trưởng 40% mỗi năm. Các mạng viễn thông lớn của châu Âu đang lên kế hoạch
hội tụ dịch vụ trong tương lai, với 3 mục tiêu chính là nâng cao lợi nhuận, hiệu
suất và tốc độ ăng trưởng. Tuy nhiên, nhanh nhất thì những dịch vụ này cũng
phải chờ 18 tháng nữa mới có thể trình làng chính thức. Châu Âu vẫn tiếp tục là
thị trường IPTV số một thế giới, xét về số lượng thuê bao từ nay cho đến hết
năm 2011. Mặc dù vậy, Châu Á đang dần thu hẹp khoảng cách và rất có thể sẽ
vượt qua châu Âu trong giai đoạn 2012 - 2013. Tại Bắc Mỹ, Verizon và AT&T
đang tăng trưởng nhanh hơn đáng kể so với dự kiến trước đây. Nếu không có gì
thay đổi, Verizon sẽ là nhà cung cấp dịch vụ IPTV lớn nhất thế giới vào năm
2011.
Sự phát triển của thị trường IPTV tại Hàn Quốc.
Hàn Quốc nổi lên ở châu Á như là một quốc gia đi đầu trong ứng dụng
công nghệ cao vào lĩnh vực thông tin di động và băng rộng. Mạng băng rộng
không dây tại đây cho phép người sử dụng có thể xem film trực tuyến trên thiết
bị di động của mình với chất lượng cao. Với năng lực hạ tầng mạng như vậy các
đến nay dịch vụ IPTV vẫn đang phát triển một cách ì ạch và sẽ rất khó đạt được
mục tiêu 2 triệu thuê bao trong năm nay.
Trước đó, các dịch vụ video theo yêu cầu (VoD băng hẹp) của 3 hãng đã
chứng tỏ được sự cuốn hút của mình khi được người dùng đón nhận rộng rãi.
Cuối năm 2008, tổng số khách hàng VoD của KT (với dịch vụ MegaTV),
LGDacom ((myLGtv) và SK Broadband (Broad&TV, trước kia là hanaTV) là
trên 1,5 triệu. Con số này cho thấy Hàn Quốc là một thị trường năng động và
tiềm năng với rất nhiều cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình có mô
hình kinh doanh, hình thức cung cấp dịch vụ và công nghệ hợp lý.
Bảng 5: Thuê bao dịch vụ VoD tại Hàn Quốc
Tháng
12/2008
Tháng
1/2009
Tháng 2/2009 Tháng 3/2009
KT 706,500 633,000 580,200 541,600
SK Broadband 775,400 772,800 758,600 737,100
LG Dacom 65,100 68,100 65,700 60,200
Tổng 1,547,000 1,473,900 1,404,500 1,338,900
Nguồn: Pyramid Research
Đồ án tốt nghiệp Trang 21
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
Số liệu trên cho thấy không những thuê bao IPTV của 3 nhà khai thác
phát triển chậm mà số thuê bao VoD thuần túy (tiền IPTV) cũng giảm bớt, chỉ
còn 1,34 triệu (tính đến tháng 3/2009), đó là do có nhiều khách hàng chuyển
sang đăng ký các gói dịch vụ VoD và IPTV kết hợp.
Như vậy, nếu cứ tiếp tục phát triển theo đà này với 70.000 thuê bao IPTV
mới/tháng, thì đến cuối năm 2009 Hàn Quốc cũng chỉ có hơn 850.000 thuê bao,
tức là chỉ đạt 40% kế hoạch đề ra là đạt 2 triệu thuê bao trong năm 2009. Đây
Số thuê bao mới trong quý - 17.790 10.683 27.334 45.276
* Không áp dụng do IPTV bắt đầu được triển khai từ tháng 1/2009
Nguồn: LG Dacom
Trước thực trạng đó, các nhà khai thác đang nghiên cứu và tìm kiếm
những phương thức mới để làm cho các dịch vụ IPTVcủa mình hấp dẫn hơn của
các hãng khác. Bên cạnh đó cũng chú trọng vào việc cạnh tranh với các công ty
truyền hình cáp dựa trên khả năng phân phối dịch vụ video tương tác dựa trên
mạng IP.
Bên cạnh đó KT cũng đang thử nghiệm nền tảng quảng cáo IPTV tương
tác gọi là Clear Skin, về lý thuyết sẽ cho phép người sử dụng click vào các bức
ảnh (quần áo, ô tô, v.v ) trên màn hình tivi để giới thiệu thông tin quảng cáo.
Công nghệ này do một công ty liên doanh giữa KT và Korea Firstec phát triển.
Với nhiều tính năng gia tăng mới đó, các nhà cung cấp dịch vụ IPTV ở
Hàn Quốc tin rằng họ đủ mạnh để cạnh tranh với các hãng cung cấp dịch vụ
truyền hình khác. Tuy nhiên qua câu chuyện của Hàn Quốc chúng ta có thể thấy
được tầm quan trọng của nội dung đối với dịch vụ IPTV. Đây là bài học quý cho
các doanh nghiệp tại Việt Nam khi triển khai dịch vụ này.
1.5.3 Sự phát triển của IPTV tại Việt Nam
Còn hiện tại, IPTV (dịch vụ truyền tải hình ảnh kỹ thuật số, âm thanh và
dữ liệu tới người sử dụng bằng giao thức IP trên đường truyền Internet băng
thông rộng) đang “đi” những nét chấm phá đầu tiên trên bức tranh truyền hình
những năm đầu thế kỷ 21.
IPTV có nhiều ưu thế nhờ sự hiện diện của mạng băng rộng trên khắp thế
giới. Hiện cả thế giới có hơn 130 triệu gia đình sử dụng dịch vụ băng rộng.
Nhiều doanh nghiệp viễn thông đang cung cấp dịch vụ băng rộng cho các gia
đình này đang triển khai truyền hình IPTV. Họ xem đây là cơ hội thu lợi nhuận
từ khách hàng sử dụng băng rộng hiện có và cũng là giải pháp tự bảo vệ trước sự
lấn sân của các dịch vụ truyền hình cáp.
Xu hướng mới của sự phát triển của IPTV tại Việt Nam.
Theo Informa Telecom&Media từ những năm đầu thập niên đã dự báo, sẽ
Những dịch vụ truyền hình có tương tác mới mẻ này đã bắt đầu xuất hiện
trên một số hệ thống IPTV hàng đầu khu vực. Như PCCW ở Hồng Kông là một
ví dụ điển hình. Nhà cung cấp dịch vụ IPTV lớn nhất thế giới với trên 500.000
thuê bao đã cung cấp truyền hình độ nét cao HD và truyền hình theo yêu cầu
thông qua mạng DSL của họ. Softbank ở Nhật Bản cũng đang xây dựng kho
phim lên tới 5.000 giờ, là các bộ phim của Nhật Bản hay của Holywood. Người
xem Nhật có thể truy cập vào kho và lựa chọn phim tùy ý để xem vào bất cứ
thời điểm nào.
Đồ án tốt nghiệp Trang 24
Khoa Điện-Điệntử Lớp CĐ ĐT3 - K5
Ở Việt Nam, VASC, với số khách hàng sử dụng MyTV tăng nhanh, cũng
đã cung cấp nhiều dịch vụ hấp dẫn bên cạnh hệ thống kênh truyền hình phong
phú. Khách hàng sử dụng MyTV của VASC không chỉ có thể xem truyền hình
theo nghĩa thông thường, mà còn được sử dụng nhiều dịch vụ có tương tác như
kho phim truyện có thể chọn xem, truyền hình xem lại, lưu trữ truyền hình, tra
cứu điểm thi, chia sẻ hình ảnh, đọc báo
Triển vọng IPTV ở Việt Nam.
Các nhà khai thác viễn thông lớn tại Việt Nam đều nhận thấy xu hướng
phát triển của truyền hình IPTV. Hiện đã có 3 doanh nghiệp triển khai cung cấp
dịch vụ này là VASC, FPT, và VTC. Trong số này, nhờ tận dụng được cơ sở hạ
tầng viễn thông mạnh của VNPT, đặc biệt là mạng băng rộng số 1 Việt Nam của
VDC, VASC đã nhanh chóng đưa dịch vụ MyTV của mình đến được 63 tỉnh
thành trên khắp cả nước.
Ngoài vấn đề hạ tầng mạng băng rộng, còn có nhiều yếu tố khác đang ủng
hộ các nhà cung cấp dịch vụ IPTV của Việt Nam.
Thứ nhất, giá thành sử dụng băng rộng ở Việt Nam hiện nay đã thấp tới
mức có thể thúc đẩy nhanh sự phát triển của thị trường, trong khi mật độ TV
trên đầu người đã ở mức khá cao.
Thứ hai, lượng người trẻ tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số Việt Nam.