G. W. G. Hegel - HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN [Phần 1]:Ý THỨC_5 - Pdf 19

G. W. G. Hegel - HIỆN TƯỢNG HỌC
TINH THẦN [Phần 1]:Ý THỨC

tức thì tôi cũng đang nói về nó như cái hoàn toàn phổ biến bởi mọi sự
vật đều là một sự vật cá biệt; và cũng thế, “sự vật này” là mọi sự vật và
là bất kỳ sự vật nào người ta muốn. Nói một cách chính xác hơn, chẳng
hạn “tờ giấy này” thì mọi tờ giấy và bất kỳ tờ giấy nào cũng là “một tờ
giấy này” và tôi lúc nào cũng chỉ nói một cái phổ biến. Nhưng nếu tôi
không cho việc nói ra được lên tiếng bằng ngôn từ nữa – vì việc nói ra
có bản tính mầu nhiệm là đảo ngược trực tiếp cái “cho rằng” thành một
cái gì khác – bằng phương cách cứu vãn là [dùng tay] chỉ ra tờ giấy này,
thì tôi lại sẽ nếm trải kinh nghiệm trong thực tế về tính chân lý của sự
xác tín cảm tính: tôi chỉ nó ra như một cái Ở đây, nhưng đó là một cái Ở
đây của những cái Ở đây khác, hay nơi bản thân cái Ở đây đã là một tập
hợp đơn giản (ein einfaches Zusammen) của nhiều cái Ở đây, nghĩa là
một cái phổ biến. | [Bây giờ] Tôi tiếp thu (aufnehme) cái phổ biến này
đúng như là nó trong sự thật, và, thay vì biết về một cái trực tiếp, tôi
“NẮM LẤY CÁI ĐÚNG THẬT”, tức tôi tri giác nó (202).

(còn nữa)

Nguồn: Georg Wilhelm Friedrich Hegel. 2006. Hiện tượng học tinh thần
(Phänomenologie des Geistes). Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Hà
Nội: Nxb. Văn học. Bản điện tử của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn. Bản đăng
trên triethoc.edu.vn có sự cho phép của dịch giả. (177)“Die sinnliche Gewißheit oder das Diese und das Meinen”:Trong
“Hiện tượng học” nói chung, và trong cấp độ “ý thức” nói riêng, luôn có
sự đối lập và khác biệt giữa “sự xác tín” (die Gewißheit) chủ quan và
sự thật (hay chân lý) (Wahrheit) khách quan. “Sự xác tín” đầu tiên là


(181)“Sự trung giới” (Vermittlung/Anh, Pháp: mediation): thuật ngữ
quan trọng của Hegel; xem: chú thích 58. (182)“mannigfaltige” (đa tạp): tính đa tạp của việc trung giới, của
những thuộc tính là thuộc về cấp độ sau: Tri giác. Ta lưu ý đến sự song
hành hay tương đương giữa các quy định của “cái Tôi” và “đối tượng”. (183)“beiherspielen”: Hegel dùng chữ “beiherspielen” đi kèm với chữ
“Beispiel” ở câu sau để chơi chữ: một “trường hợp điển hình”, một “ví
dụ” (Beispiel) diễn trò hay phụ diễn (beiherspielen) ở bên cạnh cái Bản
chất. Nghĩa là ở đây, cái cá biệt (mà sự xác tín chủ quan nhắm đến) và
cái phổ biến (sự thật của nó) chưa thâm nhập vào nhau thực sự, trái
lại, cái cá biệt chỉ là “một ví dụ” của cái phổ biến. (184)Đây là “cái Tôi” theo nghĩa là nhà hiện tượng học phân tích tiến
trình kinh nghiệm (xác tín cảm tính) đã trải qua, cho thấy quan hệ trong
sự xác tín cảm tính thực ra không phải là quan hệ trực tiếp mà là được
trung giới. Dưới đây, ta sẽ thấy bản thân sự xác tín cảm tính cũng sẽ tự
trải nghiệm điều này trong tiến trình tự kiểm tra chính mình. *Chú ý: từ §93 đến cuối sách, các tiểu mục (trong dấu [ ]) là của người
dịch, căn cứ vào cách đặt tên các tiểu mục của bản Lasson, để người
đọc dễ theo dõi. (N.D). (190)Cái phổ biến này là không gian, có cùng tính biện chứng như thời
gian ở trên. Cái ở đây trở thành không gian phổ biến. Vậy, cả thời gian
lẫn không gian – như là các cái phổ biến – không còn là trực tiếp nữa
mà có sự trung giới hay sự phủ định ở bên trong chúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status