Dorrit Cohn và những kĩ thuật tự sự cơ bản _2 - Pdf 19


Dorrit Cohn và những kĩ
thuật tự sự cơ bản Dorrit Cohn, Giáo sư văn học của Đại học Harvard, được coi là một trong những
người sáng lập ra thi pháp đương đại. Bà là tác giả của hai tác phẩm tiêu
biểu Transparent Minds: Marrative Modes for presenting Consiousness in
Fiction(Những tâm trí thấu suốt: Các hình thức tự sự thể hiện ý thức trong Tiểu thuyết,
1978), The Distinction of Fiction (Đặc trưng của Tiểu thuyết, 1999) và hàng loạt bài báo
về thi pháp tự sự. Qua các công trình này, Dorrit Cohn thể hiện mối quan tâm lớn nhất
của mình là các kĩ thuật phác hoạ đời sống tinh thần của các nhân vật trong tiểu thuyết
dòng ý thức và các thể loại hư cấu khác.
1. Vài nhận định của Dorrit Cohn về các công trình tự sự học trước đây:
Theo nhà tự sự học, việc mô phỏng (mimesis) ý thức đối với lịch sử tiểu thuyết có
tầm quan trọng nhất định, song cách tiếp cận loại hình học đối với sự thể hiện ý thức
trong tiểu thuyết có ưu thế hơn cả. Các công trình trước đây, cho dù có tầm quan trọng
về lí thuyết và lịch sử thì những ứng dụng của chúng ít nhiều thiếu hoàn chỉnh. Sự thiếu
hoàn chỉnh này, như Dorrit Cohn chỉ ra trong Transparent Minds: Marrative Modes for
presenting Consiousness in Fiction (1978) thể hiện ở hai điểm:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về dòng ý thức, nhất là các công trình xuất
bản ở Mỹ, thường xem dòng ý thức trong tiểu thuyết trùng với sự suy tưởng về những
sự kiện đáng nhớ. Cách tiếp cận hạn chế này giảm thiểu tất cả các kĩ thuật thành một
cách thức đơn giản và mơ hồ: “kĩ thuật của dòng ý thức”, đồng thời cũng làm cho vấn
đề trở nên phức tạp hơn do sự đồng nhất với các vấn đề của tâm lý học hay mĩ học. Ví
dụ, trong công trình nghiên cứu có tầm ảnh hưởng lịch sử, Tiểu thuyết tâm lý hiện
đại, Leon Edel không đưa lại một nhận định nào về các công cụ hình thức. Chương bàn
về các kĩ thuật cơ bản mang tên Dòng ý thức trong tiểu thuyết hiện đại (Stream of

hiện tâm lí từ góc độ văn học với các yếu tố như phong cách, ngữ cảnh, và tâm lí, thì bà
vẫn căn cứ vào các tiêu chuẩn ngôn ngữ trong việc xác định các kĩ thuật của văn bản
theo ngôi kể.
Theo Dorrit Cohn, bối cảnh ngôi thứ ba bao gồm ba kĩ thuật tự sự cơ bản là Tự
sự-tâm lí (spycho-narration - diễn ngôn của người kể về tâm lí của nhân vật); độc thoại
được trích dẫn lại (quoted monologue - diễn ngôn tinh thần của nhân vật) và độc thoại
được kể lại (narrated monologue - diễn ngôn tinh thần của nhân vật trong cái lốt diễn
ngôn của người kể).
Tự sự tâm lí (spycho-narration): Theo tác giả không có thuật ngữ cố định nào để
chỉ phương pháp gián tiếp trong việc diễn tả tâm lí, ngay cả thuật ngữ “miêu tả toàn tri”
hay “phân tích nội tâm”. Bất cứ điều gì cũng có miêu tả toàn tri, không đơn thuần chỉ là
tâm lí. Hơn nữa, ở thuật ngữ “phân tích nội tâm”, từ “nội tâm” hướng đến những dòng
chảy bên trong, chứ không chỉ là vấn đề tâm trí. Mặt khác, từ “phân tích” ở đây không cho
phép cách miêu tả bằng phẳng cũng như một trí tưởng tượng mang tính hình ảnh. Trong
khi đó, nó có thể là những cách thức để miêu tả ý thức. Vì thế tác giả lấy thuật ngữ “tự sự
tâm lí” hàm chỉ cả vấn đề chủ thể và hành động của chủ thể.
Theo tác giả, thuật ngữ “tự sự- tâm lý” vừa làm nổi bật việc miêu tả quá trình tự
sự, một kĩ thuật ít được quan tâm nhất trong số những kỹ thuật cơ bản cho phép thể hiện
cuộc sống nội tâm, vừa khơi gợi sự tương đồng với các thuật ngữ khác như ‘tâm lý” hay
“phân tâm”. Các nhà phê bình nghiên cứu dòng ý thức trong tiểu thuyết không cương
quyết lắm khi công nhận sự tồn tại của sự miêu tả quá trình tâm lí; những gì xảy ra trong
tinh thần của các nhân vật hư cấu kiểu như của Uylysse được coi là đến trực tiếp với
người đọc, không có sự trợ giúp của tự sự. Robert Humphrey thậm chí còn cho rằng, rất
đáng ngạc nhiên khi những tác giả như Dorothy Richardson “sử dụng kỹ thuật truyền
thống là lấy một tác giả toàn tri để miêu tả và không cần dùng các kĩ thuật nguỵ trang”.
Và bằng cách rút gọn thủ pháp này thành một diễn ngôn trực tiếp không được phát ngôn,
các nhà phê bình cấu trúc luận chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học này lại bỏ qua các
chức năng đa dạng mà tự sự - tâm lí có thể nắm giữ là sự rút gọn hay bành trướng của
khoảnh khắc trải nghiệm, về sự dư thừa hay thiếu động từ.
Phân tích cụ thể hơn cho luận điểm này, tác giả phân biệt loại tiểu thuyết tự sự -

đầy học thuật cũng như những nghi ngờ, đánh giá về hành vi của nhân vật.
Ở kiểu thứ hai, người kể chuyện không thể có một bản sắc riêng biệt trong tác
phẩm của mình. Đặc trưng của người kể chuyện này là luôn luôn biến đổi phong cách
của mình theo diễn biến tâm lí của nhân vật. Điển hình cho kiểu tự sự-tâm lý này là tác
phẩm Portreit của Joyce. Ở đây người kể chuyện vẫn hiện diện thông qua các cụm từ
chỉ những diễn biến bên trong như “anh ta rũ bỏ âm thanh ra khỏi tai”, “trái tim anh ta
nhói đâu”, đối với “kỉ niệm” hay “sự đau buồn” nhưng những cụm từ này thể hiện việc
người kể chuyện chịu lép vế trước suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật ngay cả khi thông
báo về chúng. Cụ thể hơn, việc thông báo này không thông qua những tuyên bố trừu
tượng, những đánh giá hay giải thích, không có sự tuyên bố vị trí, những thuật ngữ phân
tích hay khái niệm, những sự gián tiếp mang tính báo cáo kiểu như “anh ta nghĩ (biết,
cảm thấy) rằng”. Thay vào đó, sự hoà mình giữa người kể chuyện và nhân vật thể hiện ở
sự “lây nhiễm về phong cách” (stylistic contagion), theo đó, giọng người kể chuyện đôi
khi nhiễm phương ngữ, tục ngữ, thành ngữ của tâm lí nhân vật.
Trong Transparent Minds: Marrative Modes for presenting Consiousness in
Fiction, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ quả đặc biệt của việc sử dụng kĩ thuật hoà hợp giữa
người kể chuyện và tâm lí nhân vật.
Trong tiểu thuyết tâm lí - tự sự, sự trích dẫn suy nghĩ gián tiếp (kiểu như “có vẻ
như anh ta”, “anh ta tự hỏi bản thân”) chuyển thành các kĩ thuật độc thoại. Ở đây, nhà
tiểu thuyết thích ngắt dòng suy nghĩ của nhân vật bằng lời giải thích mở rộng của mình.
Điều này được tác giả chứng minh qua tác phẩm Un Amour de Swann của Prous, ở đoạn
miêu tả dòng suy nghĩ của Swann về vấn đề tiền nong. Ở đoạn này, những từ ngữ
như “đột nhiên”, “trong khoảnh khắc”, “khi” và sự trích dẫn gián tiếp kiểu “anh ta tự
hỏi mình”, “một ý kiến hoàn toàn khác, cụ thể là” diễn tả diễn biến thời gian tâm lí
nhanh chóng của nhân vật và những từ ngữ kế tiếp nhau trong tâm trí nhân vật. Tuy
nhiên, ở giữa hai ý nghĩa này thình lình có một khoảng trống. Khi miêu tả ánh sáng tinh
thần lúc bị tắt ngấm, tác giả chêm vào một câu dự đoán tương lai của ánh sáng “ở giai
đoạn sau, khi đèn điện được lắp đặt khắp mọi nơi”. Đó chính là hiện diện sự tham gia
trực tiếp của tác giả vào dòng miêu tả các trạng huống tâm lí và vật lý của nhân vật.
Tác giả bàn đến kĩ thuật tương đồng về tâm lí mà các nhà tiểu thuyết vẫn dùng để

nội tâm: Một định nghĩa chính thức”, Ngôn ngữ hiện đại hàng quý 28, 1967). Dorrit
Cohn chỉ ra điểm khác biệt giữa độc thoại nội tâm và độc thoại bằng định nghĩa độc
thoại nội tâm như là sự liên đới, còn việc độc thoại như là sự chừng mực và thận
trọng. Tuy nhiên, bà thừa nhận “hai tiêu chuẩn đó đôi khi không thể “quyết định văn
bản nào là độc thoại nội tâm hay không bởi rất nhiều sự trích dẫn các tâm trí hư cấu
bao gồm cả mẫu hình logic và liên đới… Hơn nữa, cả độc thoại và độc thoại nội tâm
đều có chung mẫu số với tất cả những sự trích dẫn ý nghĩ dù có khác nhau về nội dung
và phong cách: hướng đến việc tự suy nghĩ ở ngôi thứ nhất và hướng vào khoảnh
khoắc được kể ở thời hiện tại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status