Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
PHẦN MỘT : KHÁI QUÁT
TỔNG QUAN VỀ QUẬN 12
1. Lịch sử hình thành :
Quận 12 được thành lập từ ngày 01/4/1997 theo Nghị định 03/NĐ-CP,
ngày 6/01/1997 của Chính phủ trên cơ sở :
Toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông
Hưng Thuận, Tân Thới Nhất và một phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung
Mỹ Tây thuộc Huyện Hóc Môn trước đây.
Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89ha, dân số hiện nay 390.493 người
(tính đến 4/2009).
Quận 12 được chia thành 11 phường: An Phú Đông, Đông Hưng Thuận,
Tân Hưng Thuận, Tân Thới Nhất, Tân Chánh Hiệp, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, Tân
Thới Hiệp, Hiệp Thành, Thới An và Trung Mỹ Tây. Bao gồm 50 khu phố, 832 tổ
dân phố.
Quận 12 nằm phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh với vị trí địa lý như sau:
-Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn;
-Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Quận Thủ Đức;
-Phía Nam giáp quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh;
-Phía Tây giáp huyện Bình Tân; xã Bà Điểm.
Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống đường bộ
với quốc lộ 22 (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là quốc lộ
1A ), các tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày, Quận 12 có
cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Quận 12 còn có sông Sài
Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng. Trong tương lai,
nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua.
Vị trí này, cảnh quan này tạo cho Quận 12 không gian thuận lợi để bố trí
các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch để đẩy nhanh
quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
2. Quá trình 10 năm phát triển :
quận dần được hình thành. Quy họach chi tiết tỷ lệ 1/2000 được duyệt khoảng
95% tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn quận, 5% diện tích còn lại theo Bản
đồ quy hoạch chung của quận thuộc đất công viên cây xanh, nhìn chung Quy
họach chi tiết tỷ lệ 1/2000 quận 12 là đã phủ kín.
• Công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường
ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Công tác cấp giấy chứng nhận QSDĐ và
QSHNƠ cho dân ngày càng nhiều và tốt hơn, tạo điều kiện cho người dân thực
hiện các quyền hợp pháp của mình và chấp hành tốt pháp luật. Công tác lập quy
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 4 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
hoạch - kế hoạch sử dụng đất được thực hiện tốt hơn và tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tư yên tâm đầu tư góp phần thúc đẩy sự phát triển của quận.
Công tác quản lý môi trường ngày càng được củng cố góp phần giảm thiểu ô
nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư.
• Bên cạnh đó, Quận luôn quan tâm, quyết liệt kịp thời chỉ đạo trong
công tác quản lý trật tự đô thị về xây dựng. Công tác trật tự xây dựng được chấn
chỉnh và từng bước ổn định. Công tác tuyên truyền về các quy định pháp luật,
chính sách nhà đất được đẩy mạnh đến sâu rộng trong nhân dân, công khai quy
hoạch, đồng thời UBND quận rất quan tâm cải cách các thủ tục hành chính trong
lĩnh vực cấp phép xây dựng cho nhân dân, thủ tục đơn giản, rút ngắn thời gian
giải quyết hồ sơ... đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành các quy
định pháp luật về xây dựng trong nhân dân
• Những năm gần đây, trên địa bàn quận triển khai thực hiện nhiều
các dự án xây dựng nên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã được quận
quan tâm đẩy mạnh. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư
từng bước đi vào nề nếp. Cơ bản đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người
dân. Đến nay đã hoàn tất cơ bản 29 dự án, trong đó đã di dời, giải tỏa khoảng
3759 hộ dân, trong đó có 3116 hộ giải tỏa 01 phần và đất nông nghiệp, khoảng
643 hộ dân giải tỏa trắng; đang triển khai 38 dự án, trong đó có 26 dự án thực
hiện theo Nđ số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ, và 12 dự án được thực hiện theo
lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng.
• Công tác đền ơn đáp nghĩa được Đảng, Chính quyền và nhân dân quận 12
đặc biệt quan tâm, vận động các mạnh thường quân bảo trợ nuôi dưỡng các bà Mẹ
Việt Nam Anh hùng hàng tháng, xây dựng và sửa chữa nhà tình nghĩa, thực hiện
tốt các chế độ BHYT, chế độ an dưỡng, trợ cấp thăm viếng khi ốm đau, ma chay.
Tìm kiếm và quy tập 135 liệt sĩ về Nghĩa trang thành phố, xây dựng 141 căn nhà
tình nghĩa nâng tổng số nhà tình nghĩa lên 458 căn, sửa chữa chống dột 251 căn
nhà tình nghĩa.
• Thực hiện tốt công tác bảo trợ xã hội các đối tượng người già neo đơn,
người bệnh tâm thần, người khuyết tật, trẻ em không nơi nương tựa, nạn nhân bị
ảnh hưởng chất độc màu da cam… thể hiện tốt truyền thống tương thân tương trợ,
lá lành đùm lá rách với nhiều họat động phong phú, thiết thực như xây dựng 573
căn nhà tình thương, tôn hóa 565 căn nhà mái lá cho dân nghèo; Vận động các
mạnh thường quân đóng góp tiền và hiện vật chăm lo cho hộ nghèo như nguyên
vật liệu chống dột, chống ngập cho 439 căn nhà, 05 căn nhà mơ ước, tặng 6.865
phần quà trong dịp lễ, tết trị giá trên 10 tỉ đồng…
• Công tác XĐGN được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm, xác định là
nhiệm vụ rất quan trọng được đưa vào Nghị quyết đại hội Đảng bộ quận từng
nhiệm kỳ và triển khai thực hiện qua 10 năm. Đến cuối năm 2006 có 1.215
hộ/1.222 hộ (tỷ lệ 99,43%) vượt chuẩn 4 triệu/người/năm và có 715 hộ (tỷ lệ
1,43%) vượt chuẩn 6 triệu/người/năm tự nguyện ra khỏi chương trình XĐGN, số
hộ nghèo còn lại chuyển sang năm 2007 là 1.096 hộ, tỷ lệ 2,07%; hộ có thu nhập
dưới 4 triệu/người/năm không có khả năng vượt chuẩn là 7 hộ, chiếm tỷ lệ 0,01%.
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 6 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
Tổng nguồn vốn đang sử dụng là 6.045.986.000đ, trợ giúp cho 1.262 hộ vay, bình
quân vay 4,8 triệu đồng/hộ, đáp ứng được 100% theo nhu cầu cần vốn của hộ
nghèo.Đặc biệt, quận đã xác định công trình đưa hơn 400 hộ ra khỏi diện nghèo là
một trong những công trình chào mừng 10 năm thành lập quận, điều đó cho thấy
quyết tâm của quận trong công tác XĐGN, nâng cao mức sống cho dân.
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 7 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
trình, thủ tục để lại hậu quả trong việc chỉnh trang đô thị, điều kiện cơ sở hạ tầng
chấp vá, không bảo đảm các quyền lợi cần giải quyết như: hợp thức hoá nhà ở đất
ở, hộ khẩu.
Công tác quy hoạch chi tiết còn nhiều bất cập như quy hoạch cây xanh
không có nhà đầu tư, không có thời gian thực hiện cụ thể gây lãng phí lớn, thiệt
hại lợi ích cho người dân do không chuyển mục đích được, việc đền bù thiệt hại
nếu Nhà nước thu hồi đất cũng thấp hơn khu dân cư. Công tác giải quyết khiếu
nại về quy hoạch gần đây tăng lên.
Với tốc độ đô thị hoá quá nhanh, có nhiều dự án nâng cấp mở rộng các
tuyến đường, xây dựng công trình, dự án liên quan đến đền bù giải tỏa tái định cư,
tình trạng dân nhập cư các tỉnh đến ngày càng đông, nhu cầu mua đất, nhà chưa
đủ điều kiện lập thủ tục theo qui định... nên tình trạng vi phạm xây dựng nhà ở
không phép, sai phép vẫn còn xảy ra và diễn biến phức tạp, tình trạng mua bán lấn
chiếm lòng lề đường và các chợ tự phát làm mất trật tự an toàn giao thông. Việc
kiểm tra xử lý vi phạm còn gặp khó khăn do lực lượng còn thiếu và yếu, ý thức
chấp hành pháp luật của một bộ phân người dân còn thấp. Hiện nay tình trạng vi
phạm xây dựng tuy có giảm nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, do nhiều nguyên
nhân như: Một số hộ dân bị giải tỏa nay xây dựng, sửa chữa, nâng cấp nhà không
xin phép, một số hộ có đất nông nghiệp xây dựng nhà ở cho con cháu ra riêng...;
một số khác do nhân dân các tỉnh nhập cư có nhu cầu bức xúc về nhà ở dẫn đến
tình trạng nhận chuyển nhượng đất và xây dựng không phép...Việc xử lý vi phạm
có trường hợp còn gặp khó khăn vướng mắc do các văn bản qui phạm pháp luật
chưa qui định cụ thể, quy trình xử lý không phù hợp, còn bất cập so với thực tế
(UBND quận đã đề nghị Sở xây dựng hướng dẫn việc xử lý vi phạm còn vướng
mắc trong qui trình xử lý).
Công tác bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng hiện nay còn chậm,
chưa đáp ứng kịp thời tiến độ các dự án trọng điểm cũng như nhu cầu phát triển
kinh tế-xã hội trên địa bàn quận.
Tập trung chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, thực hiện hiệu quả
chương trình xóa đói giảm nghèo, quyết tâm xóa hộ nghèo.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu 3 giảm, làm trong sạch
địa bàn, đấu tranh có hiệu quả các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm.
Tạo chuyển biến một cách mạnh mẽ nhận thức của người dân về xây dựng
nếp sống văn minh đô thị.
Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tòan xã hội.
Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính nhằm tạo sự hài lòng cho người dân
khi giao dịch với cơ quan công quyền.
Kiện toàn bộ máy hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có trình
độ, năng lực và phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu của xã hội.
3. Sơ nét về Phòng Nội vụ :
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 9 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
Theo quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 11/3/2009 của UBND quận 12 về
việc ban hành Quy chế tổ chức và họat động của Phòng Nội vụ như sau :
3.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn :
3.1.1. Vị trí :
Phòng Nội vụ quận là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND quận.
Phòng Nội vụ quận có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; chịu
sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện về tổ chức, biên chế và công tác
của UBND quận; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Sở Nội vụ.
3.1.2. Chức năng :
Phòng Nội vụ quận có chức năng tham mưu, giúp UBND quận thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: tổ chức, biên chế các cơ quan hành
chính, sự nghiệp Nhà nước; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa
giới hành chính; CBCC, viên chức Nhà nước; CBCC phường; hội, tổ chức phi
chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua khen thưởng.
Trong phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu chức năng quản lý CBCC cấp
4.2. Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế xã hội ở các phường:
4.2.1. Thuận lợi:
Trong 11 phường của quận 12, mỗi phường đều có những mặt thuận lợi và
khó khăn riêng để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người dân địa phương.
Khu vực phía Đông có các phường: Thạnh Xuân, Thạnh Lộc, An
Phú Đông có diện tích đất nông nghiệp là chủ yếu, phát triển mạnh các ngành
nông nghiệp trồng cây kiểng: hoa lan, hoa mai, hoa lài, vườn tạp…; chăn nuôi,
đặc biệt là nuôi cá sấu là thế mạnh của vùng. Đây là một điều kiện thuận lợi để
phát triển kinh tế đặc trưng của quận 12 so với các quận huyện khác. Nếu Quận có
kế hoạch đầu tư, kêu gọi đầu tư vào lĩnh này thì đây sẽ là vùng có tiềm năng lớn
về ngành trồng cây kiểng và chăn nuôi cá sấu nói riêng, cũng như tạo nên một đặc
trưng về sản xuất nông nghiệp của quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 11 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
Trong định hướng phát triển những năm tới, do vị trí địa lý co những mặt
thuận lợi, các phường này tập trung đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, phát triển các
ngành theo cơ cấu: “thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp”, thu
hẹp dần diện tích đất nông nghiệp.
Các phường Hiệp Thành, Thới An, Tân Thới Hiệp nằm ở vị trí trung
tâm của quận 12 có cơ cấu kinh tế chủ yếu là thương mại, dịch vụ, một số ít trồng
trọt, chăn nuôi
Khu vực phía tây gồm các phường Tân Thới Nhất, Trung Mỹ
Tây, Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Tân Chánh Hiệp phát triển các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ; nông nghiệp giảm mạnh
do tốc độ đô thị hoá nhanh. Lực lượng lao động dồi dào có khả năng cung cấp lao
động tại chỗ cho các công ty xí nghiệp đóng trên địa bàn.
Phường Tân Hưng Thuận được tách ra từ phường Đông Hưng Thuận theo
Nghị định số 143/2006/NĐ-CP ngày 23/11/2006 của Chính phủ. Vị trí phường
nằm trên cửa ngõ đi vào Tp. Hồ Chí Minh với các tuyến đường trọng điểm:
1. Hệ thống chính quyền cơ sở:
1.1. Khái niệm:
Chính quyền cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính Nhà nước.
Theo quan niệm trên thì từ khi ra đời cho đến nay nước ta đã trải qua nhiều lần
thay đổi cách phân chia đơn vị hành chính -lãnh thổ nhưng cấp chính quyền nhỏ
nhất là cấp xã vẫn không thay đổi. Và chính quyền nhà nước cấp xã gọi là cấp
chính quyền cơ sở.
Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) thì chính quyền cơ sở (cấp xã)
ở Việt Nam gồm:
Xã (cho vùng nông thôn);
Phường (cho thành phố, thị xã);
Thị trấn (trung tâm huyện).
1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp cơ sở:
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 13 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
Chính quyền địa phương cấp xã Việt Nam, xuất phát từ quá trình hình
thành và phát triển, xét ở góc độ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền mang một
số đặc trưng sau:
- Theo hệ thống thứ bậc thì chính quyền cấp xã gồm HDND và UBND, là cấp
cuối cùng, thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp;
- Chính quyền cấp xã thực hiện chức năng QLNN, trực tiếp quản lý nhân dân địa
phương. Vì vậy, hoạt động công vụ chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục tập quán,
lối sống riêng của mỗi địa phương lãnh thổ.
- Chính quyền cấp xã là cấp QLNN có đầu mối quản lý trực tiếp nhất, phức tạp
nhất; là cấp có mối quan hệ trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, đại diện bộ máu
chính quyền Nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống thường nhật
của người dân
- Tuy nhiên hiện nay, Chính quyền cấp xã mặt bằng chung:
+ Quy mô CBCC QLHCNN nhỏ và lẻ, thiếu cán bộ, trình độ không đồng
đều và chưa đáp ứng yêu cầu QLHCNN ở địa phương.
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng-thống kê;
+ Địa chính-xây dựng;
+ Tài chính-kế toán;
+ Tư pháp-hộ tịch;
+ Văn hoá-xã hội.
- Ngoài hai nhóm cán bộ, công chức nói trên, ở cấp xã còn có một số lượng khá
lớn những người hoạt động không chuyên trách, không hưởng lương mà chỉ được
hưởng phụ cấp hoặc khoán phụ cấp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Đội ngũ
này không phải là cán bộ, công chức. Tại khoản 3 điều 2 của Nghị định số
121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ quy định về CB không chuyên
trách cấp xã như sau:
+ Trưởng Ban Tổ chức đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra đảng, Trưởng
Ban Tuyên giáo và 01 cán bộ Văn phòng Đảng ủy;
+ Phó Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Phó Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Cán bộ kế hoạch - giao thông - thủy lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;
+ Cán bộ lao động - thương binh và xã hội;
+ Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em;
+ Thủ quỹ - văn thư - lưu trữ;
+ Cán bộ phụ trách đài truyền thanh;
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 15 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
+ Cán bộ quản lý nhà văn hóa;
+ Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; Phó các đoàn thể cấp xã: Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội
Cựu chiến binh;
+ Chủ tịch Hội Người cao tuổi; Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
2.2. Đặc trưng CBCC cấp xã:
Đây cũng chính là sự khác nhau giữa cán bộ, công chức cấp xã so với cán
- Bên cạnh đó các điều kiện làm việc của chính quyền cấp xã còn hạn chế,
gây khó khăn rất lớn cho hoạt động quản lý ở cấp chính quyền cấp cơ sở, đồng
thời làm hạn chế việc thu hút nhân lực, nhân tài cho chính quyền cấp này.
Từ những đặc thù của cán bộ, công chức cấp xã như đã nêu đòi hỏi về mặt
đào tạo, định hướng tạo nguồn và chế độ, chính sách phải phù hợp nhằm tạo điều
kiện xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cơ sở có đủ
năng lực, phẩm chất và yên tâm đáp ứng yêu cầu công việc.
II. CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỐI VỚI CBCC
CẤP XÃ:
1. Khái niệm năng lực CBCC:
Năng lực làm việc của một CBCC là phối hợp giữa các yếu tố như: kiến
thức, kỹ năng, thái độ của người CBCC để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Năng lực CBCC là nguồn lực chủ yếu của tổ chức để tổ chức đó có thể vận
hành và thực thi nhiệm vụ của mình.
Các yếu tố cấu thành năng lực CBCC bao gồm 3 yếu tố cơ bản:
- Kiến thức: Sự hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể
- Kỹ năng: là khả năng, sự thành thạo trong áp dụng các kỹ thuật, phương
pháp và công cụ để giải quyết công việc. Một năng lực có thể bao gồm nhiều kỹ
năng.
- Thái độ hành vi: là khả năng làm chủ thái độ, hành vi, trạng thái tinh thần
của bản thân trong giải quyết công việc nhằm đạt mục tiêu đặt ra.
Như đã trình bày ở trên, chính quyền cấp cơ sở và đội ngũ CBCC cấp xã
đóng một vai trò nhất định trong hệ thống tổ chức HCNN. Đội ngũ CBCC cấp xã
là những người trực tiếp tổ chức thực thi văn bản chỉ đạo của cấp trên, quản lý
mọi vấn đề phát sinh hàng ngày ở địa bàn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã
hội. Tính chất công việc cấp xã mang tính phức tạp và gắn liền với cuộc sống hàng
ngày của người dân, vì vậy người CBCC cấp xã đòi hỏi phải có một năng lực nhất
định để có thể linh hoạt giải quyết các vấn đề thực tế ở địa phương theo đúng tinh
thần chỉ đạo của cấp trên đồng thời thoả mãn quyền và lợi ích chính đáng của
người dân địa phương.
Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch
Hội Cựu chiến binh: Là cán bộ chuyên trách đứng đầu Uỷ ban MTTQ Việt Nam
và các đoàn thể chính trị-xã hội ở xã, phường, thị trấn; chịu trách nhiệm lãnh đạo,
chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ
chức đoàn thể, đường lối, chính sách của Đảng và PL của Nhà nước.
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 18 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
+ Các tiêu chuẩn (do các đoàn thể chính trị - xã hội quy định) của cán bộ
chuyên trách thuộc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị -
xã hội được giữ nguyên trong nhiệm kỳ hiện tại. Các tiêu chuẩn quy định này
được áp dụng kể từ đầu nhiệm kỳ tới của từng tổ chức đoàn thể.
+ Tuổi đời:
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Không quá 60 tuổi đối với nam,
không quá 55 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu.
- Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: Không quá 30 tuổi khi tham gia
giữ chức vụ công tác.
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân: Không quá 55 tuổi đối
với nam, không quá 50 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu.
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: Không quá 65 tuổi khi tham gia giữ chức vụ.
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên ở khu vực đồng
bằng, tốt nghiệp tiểu học trở lên ở khu vực miền núi...
+ Lý luận chính trị: Có trình độ sơ cấp và tương đương trở lên.
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm tương đương trình độ sơ
cấp trở lên.
c. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Căn cứ Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc
hội khoá 12, và nghị quyết 724/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 01 năm 2009 của
UBTVQH khoá 12 về danh sách các quận, phường của các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường,
Khu vực đồng bằng phải đạt trình độ tương đương trung cấp chuyên môn
ngành công an trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng QLHCNN.
Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn.
- Tiêu chuẩn của công chức Văn phòng - Thống kê.
Khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Văn thư, lưu trữ hoặc trung cấp
Hành chính, trung cấp Luật trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng
QLHCNN (nếu chưa qua trung cấp hành chính). Ở khu vực đồng bằng và đô thị
phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn.
- Tiêu chuẩn của công chức Văn hoá - Xã hội
Khu vực đồng bằng phải đạt trung cấp về văn hoá nghệ thuật (chuyên
ngành) hoặc trung cấp quản lý Văn hoá - Thông tin hoặc trung cấp nghiệp vụ Lao
động - Thương binh và xã hội trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi
dưỡng QLHCNN và ngành chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được
giao. Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn. ở khu
vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác.
GVHD: Ths Mai Nguyên Thanh 20 SVTH: Trần Thị Thuý Vân
Đề tài: Thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với CBCC cấp phường quận 12
- Tiêu chuẩn của công chức Tư pháp - Hộ tịch.
Khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Luật trở lên và phải qua lớp bồi
dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã sau khi được tuyển dụng. Phải qua bồi dưỡng
quản lý hành chính Nhà nước sau khi được tuyển dụng. Ở khu vực đồng bằng và
đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn.
- Tiêu chuẩn của công chức Địa chính - Xây dựng
Khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Địa chính hoặc trung cấp Xây
dựng trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng về quản lý đất đai, đo
đạc bản đồ, quản lý hành chính Nhà nước. Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử
dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn.
- Tiêu chuẩn của công chức Tài chính Kế toán:
Khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Tài chính - Kế toán trở lên. Phải
qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước sau khi tuyển dụng. Ở khu vực đồng