Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật - Pdf 19


TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

[\[\

GIẢI PHẨU BỆNH VAI TRÒ VÀ NHU CẦU CỦA
VITAMIN, MUỐI KHOÁNG VÀ NƯỚC
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 1

BÀI 2. CƠ SỞ SINH THÁI HỌC CỦA SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT

MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Mô tả được mối quan hệ giữa các hoạt động của con người và mất cân bằng sinh
thái
2. Trình bày được những tác động của thay đổi hệ sinh thái lên sức khoẻ con người
3. Giải thích được mối quan hệ giữa sức khoẻ con người và môi trường xung quanh
4. Trình bày được một số bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm liên quan đến
môi trường

1. CON NGƯỜI VÀ HỆ SINH THÁI

kinh tế - xã hội của từng cá nhân và từng cộng đồng. Những người nghèo thường ít được
bảo vệ khỏi các nguy cơ môi trường hơn những người giàu, cho dù đó là những nguy cơ
từ các nhà máy, chất thải độc hại, môi trường trong và ngoài nhà, nước sinh hoạt bị ô
nhiễm v.v…
Trong khoảng 3 – 4 thập kỷ trở lại đây, ở những quốc gia có nền công nghiệp phát
triển, việc kiểm soát ô nhiễm, thay đổi công nghệ, các quy định và luật môi trường được
thực hiện chặt chẽ đã góp phần làm giảm đáng kể việc phơi nhiễm của con người với các
tác nhân độc hại. Mặc dù những nước này đã cố gắng cắt giảm những nguy cơ trực tiếp
ảnh hưởng tới sức khoẻ con người từ các tác nhân môi trường, nhưng toàn thế giới hiện
đang phải đối mặt với việc thiếu nước sạch do dân số thế giới ngày một tăng, nhu cầu sử
dụng nước cũng ngày một tăng. Việc sử dụng nguyên liệu hoá thạch và thải ra những chất
khí gây ảnh hưởng tới tầng ô zôn là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng “hiệu ứng nhà kính”
và “phá huỷ tầng ô zôn”.
Con người luôn chịu những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nguy cơ môi
trường. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng ô nhiễm không khí làm tăng nguy cơ mắc
các bệnh về đường hô hấp, tăng nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch và các bệnh phổi
mạn tính. Cũng theo thống kê của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP,
2003), cứ 6 người thì có 1 người thường xuyên không có được nguồn nước uống an toàn,
hơn 1/3 dân số thế giới (khoảng 2,4 tỉ người) không có các điều kiện vệ sinh đầy đủ, cứ
mỗi 8 giây lại có 1 trẻ em chết vì các bệnh có liên quan tới nước và 80% các bệnh tật, tử
vong tại các nước đang phát triển là có liên quan đến nước. Công nhân và cộng đồng dân
cư ở tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang phải chịu những nguy cơ tiềm ẩn từ các sự
cố công nghiệp. Vụ nổ ở nhà máy điện nguyên tử Chernobyl (Liên Xô cũ, 1986) hay vụ
nổ ở nhà máy hoá chất Bhopal (Ấn độ, 1984) là những ví dụ điển hình, với hàng trăm đến
hàng nghìn người tử vong, hàng trăm nghìn người phải chịu ảnh hưởng (hộp 1).
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 3


triệu đô la cho việc đền bù thiệt hại do vụ rò rỉ khí MIC gây ra. Tuy nhiên, các nạn
nhân không được tham gia ý kiến trong các buổi thương thảo về việc định cư của họ.
Nhiều nạn nhân cảm thấy mình bị lừa khi chỉ nhận được các khoản đền bù từ 300 đến
500$ hoặc số tiền tương đương với các điều trị về mặt y tế trong 5 năm.
(Nguồn: truy cập ngày 5/4/2007

và truy cập ngày 30/3/2007.)
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 4

1.3. Sự ổn định của hệ sinh thái: nền tảng của sức khỏe con người
Sức khỏe của con người không chỉ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những chất ô nhiễm do
con người hít phải, ăn phải, hay thấm qua da con người. Các chất độc hại còn ảnh hưởng
gián tiếp đến sức khỏe con người bằng cách phá vỡ sự ổn định của các hệ sinh thái, do
vậy làm giảm năng suất của hệ sinh thái và tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân có hại
cho sức khỏe của con người sinh trưởng và phát triển.
Chẳng hạn, việc phá rừng lấy gỗ, đốn củi, lấy đất canh tác hoặc chăn nuôi làm giảm
khả năng giữ nước của rừng, tăng các dòng chảy xuống sông suối và gây nên lụt lội, trượt
đất, thậm chí lũ quét. Những hoạt động này đã gây ra các vụ lụt và trượt đất liên tiếp ở
Bangladesh và Philippines. Lụt lội làm giảm năng suất nông nghiệp, và ảnh hưởng lớn tới
sức khỏe con người, thậm chí tử vong do đuối nước hoặc do chấn thương. Lụt lội cũng
làm phá hủy các nhà máy xử lý nước và chất thải, tạo điều kiện cho các bệnh truyền
nhiễm lây lan. Ở những khu vực mà người dân sống quanh lưu vực các con sông, và
nguồn nước ăn, uống của họ là nước bề mặt tại các sông thì những ảnh hưởng tới sức
khỏe của dân cư tại vùng này trong và sau bão lụt lại càng nặng nề hơn. Việc phá các khu
rừng nhiệt đới cũng làm tăng sự lan truyền của bệnh sốt rét và một số bệnh do ký sinh
trùng, vì khi phá rừng con người đã làm tăng số lượng của các vũng nước tĩnh, nước đọng
xung quanh các khu rừng vừa bị đốn hạ và những con đường được tạo ra để chuyên chở


Các quá trình của
hệ sinh thái
Tác động của con người
Quá trình tạo đất
Các hoạt động trong nông nghiệp đã tăng sự
tiếp xúc của lớp đất bề mặt với mưa nắng làm
giảm đáng kể lớp đất bề mặt màu mỡ
Kiểm soát chu trình nước
Việc chặt phá rừng bừa bãi và các hoạt động
khác của con người gây ra lụt lội, lũ quét hay
hạn hán ở nhiều nơi
Phân giải các loại rác thải
Nước thải, rác thải không qua xử lý và nước
thải chảy từ đồng ruộng, trang trại chăn nuôi
làm tăng ô nhiễm nước
Dòng năng lượng
Một số ngành công nghiệp và nhà máy hạt nhân
đã làm tăng ô nhiễm nhiệt độ đối với môi
trường xung quanh. Các hoạt động đốt cháy các
nhiên liệu hoá thạch sẽ phát thải ra các khí nhà
kính và có thể dần dần làm tăng nhiệt độ trái
đất (Hiệu ứng nhà kính)
Chu trình tự nhiên của các
chất dinh dưỡng
Việc sử dụng các nguyên liệu không phân huỷ
được và các hoạt động chôn lấp rác đã ngăn cản
quá trình hoàn trả lại môi trường nhiều nguyên
liệu hữu ích


các sản phẩm của đa dạng sinh học trong các khu
rừng này
Làm gia tăng ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm đất, nước, không khí và phóng xạ đã có
nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới hệ sinh thái
Gây ra những thay đổi trong khí
quyển
Bao gồm sự gia tăng của các khí nhà kính mà chủ
yếu là hậu quả của quá trình đốt cháy các loại nhiên
liệu hoá thạch và sự suy giảm ô zôn ở tầng bình lưu.
Các chất ô nhiễm khác cũng gây nhiều tác động tiêu
cực tới sinh vật sống.

Gia tăng dân số tác động trực tiếp tới quá trình đô thị hoá và sự lan tràn bệnh dịch.
Trong vòng một nghìn năm qua, dân số thế giới gia tăng với một tốc độ chóng mặt. Bảng
3.3 đưa ra số liệu ước lượng về dân số trên thế giới vào một số năm cụ thể từ năm 1000
đến năm 2050.
Gia tăng dân số làm tăng tốc độ đô thị hoá, người dân ở nông thôn di cư ra thành phố
để mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân cũng như cho tương lai của thế hệ
con cháu. Trước những năm 1950, dân số sống ở đô thị trên thế giới chỉ chiếm khoảng
dưới 30%, nhưng đến năm 2050 thì con số này ước tính sẽ tăng lên tới hơn 60%. Vào năm
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 7

2000, trên thế giới có khoảng 20 thành phố với số dân vượt quá 10 triệu người
(McCartney, 2002). Điều kiện sống đông đúc chật hẹp, vệ sinh môi trường kém do quá
trình đô thị hoá xảy ra mạnh mẽ ở nhiều nơi tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm phát

những ảnh hưởng lớn nhất do các hoạt động của con người gây ra và thường được bàn tới
trong những năm gần đây đó là sự thay đổi khí hậu trên toàn cầu. Tác động này sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới các hệ sinh thái cũng như tới sức khoẻ của con người.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 8

1.5. Hậu quả của thay đổi khí hậu và biến đổi hệ sinh thái
Theo nhiều nhà khoa học, hậu quả của sự thay đổi khí hậu mà nguyên nhân là do
chính các hoạt động của con người gây ra - đặc biệt là sự ấm lên trên toàn cầu (global
warming) do sự gia tăng nồng độ khí cacbon dioxit và các khí nhà kính khác trong khí
quyển là những tác động tiêu cực lên sức khoẻ của cộng đồng. Các nhà khí tượng học dự
đoán rằng, do sự tích tụ của các khí nhà kính mà khí hậu toàn cầu sẽ thay đổi với một tốc
độ nhanh hơn rất nhiều trong khoảng lịch sử kể từ 10.000 năm trở lại đây. Trong thế kỷ
qua, nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất tăng khoảng 0,3 đến 0,6
0
C. Theo Sidney và
Raso (1998), các mô hình thực hiện trên máy vi tính hiện đại về khí hậu của trái đất dự
báo rằng: nếu nồng độ các khí nhà kính vẫn tiếp tục tăng như dự đoán thì đến năm 2100
nhiệt độ trung bình trên trái đất sẽ tăng lên từ 1 đến 3,5
0
C. Nhiệt độ tăng lên sẽ thay đổi
hệ sinh thái và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người như thế nào? Liệu chúng ta có thể dự
đoán được một cách chính xác các hậu quả của sự thay đổi khí hậu lên cuộc sống để từ đó
có những hành động hay chương trình bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng? Cho tới nay, có
rất nhiều người trong số chúng ta còn chưa hiểu được những tác hại mà việc thay đổi khí
hậu có thể gây ra cho sức khoẻ con người. Mối liên hệ sẽ trở nên rõ ràng hơn một khi
chúng ta nhận ra rằng sức khoẻ con người và sự phồn thịnh của xã hội phụ thuộc vào sự
phồn thịnh của các hệ sinh thái tự nhiên trên trái đất, đồng thời những thay đổi trong mô

nhiên, sự hấp thụ nhiệt của đại dương do nhiệt độ trái đất tăng lên có thể làm đảo lộn chu
kỳ tự nhiên của El Nilno và làm cho chúng xảy ra thường xuyên hơn và dữ dội hơn.
Trong thời gian xảy ra El Nilno, những thay đổi của thuỷ triều và gió ở vùng đông Thái
Bình Dương sẽ làm thay đổi gió xoáy và các mô hình khí hậu trên toàn cầu. Hạn hán bất
thường xảy ra ở nhiều nơi, còn nhiều vùng khác thì lại phải đối mặt với các trận hồng
thuỷ và bão lụt dữ dội. Cuối mỗi đợt El Nilno thường xảy ra một giai đoạn khác của chu
trình, gọi là La Nilna - sự kiện trái ngược với El Nilno. Ở Ấn Độ, Mê Hi Cô, và đông nam
nước Mỹ đã phải chịu cảnh hạn hán khốc liệt trong giai đoạn 1997 - 1998 do tác động của
El Nilno, sau đó lại xảy ra các trận lụt lớn vào tháng 8, tháng 9 năm 1998 do ảnh hưởng
của La Nilna.
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Dữ liệu Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia Hoa
Kỳ thì trong suốt thế kỷ qua các thảm hoạ của thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt, bão và cháy
đã gây thiệt hại nặng nề ở nhiều vùng trên thế giới cả về người và của.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 10
1.5.1. Ảnh hưởng tới năng suất của mùa màng
Khí hậu thay đổi có thể gây tác động tới năng suất của một số mùa màng ở nhiều
nơi. Bất cứ thay đổi bất lợi nào trên diện rộng về công tác sản xuất, cung ứng và phân
phối các sản phẩm nông nghiệp - đặc biệt là ở những nước đang phát triển cũng có thể
gây ra tác động nghiêm trọng. Tỉ lệ suy dinh dưỡng và hộ bị đói cũng có khả năng tăng
lên. Trái đất nóng lên gây nhiều hậu quả trên trên toàn cầu và một trong số những tác
động đáng chú ý là sự gia tăng mực nước biển do băng ở hai cực tan ra và sự nở của nước
biển do nhiệt độ. Các nhà thuỷ văn học dự đoán rằng, đến năm 2100 thì mực nước biển
trung bình trên toàn cầu sẽ tăng lên từ 0,2 đến 1,0 mét và sẽ tiếp tục gia tăng hơn nữa
trong những thế kỷ tới. Mực nước biển gia tăng có thể làm tràn ngập các khu vực trước
đây là khu dân cư đông đúc hay làm ngập mặn các vùng đất canh tác vốn dĩ rất hạn hẹp ở
một số quốc gia. Đặc biệt, Bangladesh và một số quốc gia đảo khác là những nước rất dễ
bị tổn thương. Hơn nữa, lụt lội ở những cộng đồng dân cư sống đông đúc vùng ven biển

mạnh và có thể trực tiếp làm ôxy hoá các phân tử, tạo ra các gốc tự do chứa nhiều năng
lượng và có thể làm tổn thương đến tế bào. Nồng độ ô zôn cao trong không khí có thể làm
gia tăng các trường hợp bị bệnh hô hấp và bệnh tim mạch. Người ta thấy rằng, những tác
động hô hấp cấp tính do ô zôn gây ra có liên quan tới bệnh hen suyễn ở trẻ em. Khí hậu
ấm hơn và ẩm ướt hơn ở nhiều vùng có thể làm tăng nồng độ các loại phấn hoa trong
không khí và rất có khả năng sẽ có tác động tiêu cực lên những người bị rối loạn dị ứng,
ví dụ những bệnh nhân bị hen suyễn hay bị sốt mùa cỏ khô (sốt mùa hè).
1.5.4. Những thay đổi trong hệ sinh thái và các bệnh truyền nhiễm
Xuất hiện các bệnh dịch mới và các bệnh có nguy cơ xuất hiện trở lại

(Nguồn: Fauci. A. S. "Các bệnh mới xuất hiện và các bệnh có nguy cơ quay trở lại" - Viện Sức
khoẻ Quốc gia, Bethesda, Maryland, Mỹ)
Sự kết hợp của thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường và mất cân bằng các hệ sinh
thái đã tạo điều kiện lý tưởng cho sự quay trở lại cũng như sự xuất hiện và lây lan của
(Sốt xuất huyết Ebola)

tăng dân số, sự đô thị hoá và môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng. Với sự ấm lên của
toàn cầu như hiện nay cùng với sự thay đổi mạnh mẽ các hệ sinh thái đã tạo điều kiện cho
các mô hình bệnh tật thay đổi trên một diện rộng. Trong nghiên cứu của Tiến sỹ Epstein,
ông đã đưa ra 3 tác động chính mà sự thay đổi khí hậu có thể gây ra cho sức khoẻ cộng
đồng, đó là:
• Tạo điều kiện thuận lợi cho sự bùng nổ các vụ dịch bệnh truyền nhiễm
• Tăng khả năng lây truyền các bệnh truyền qua vector và làm hàng triệu người
bị phơi nhiễm với các bệnh mới nảy sinh cũng như phơi nhiễm với nhiều
nguy cơ sức khoẻ khác nhau.
• Cản trở sự kiểm soát bệnh dịch trong tương lai
Ngoài ra, một trong những nhân tố không kém phần quan trọng trong việc làm lây
lan các bệnh mới nảy sinh, góp phần thay đổi mô hình bệnh tật trên thế giới đó là việc đi
lại, thông thương giữa các quốc gia bằng ô tô, tàu cao tốc hay máy bay. Thời xa xưa,
phương tiện vận tải chủ yếu giữa các nước là tàu biển hay xe thô sơ, vì vậy thời gian đi
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 13
sang một vùng khác hay một nước khác là khá lâu. Các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm
có thể bị chết trên đường đi và làm hạn chế sự lây lan bệnh tật giữa các vùng. Trong xã
hội hiện đại ngày nay, việc đi lại giữa các nước bằng máy bay thuận tiện và nhanh hơn
nhiều. Theo Alleyne (1998), năm 1995 có hơn 1 triệu người sử dụng máy bay mỗi ngày.
Mặc dù đem lại nhiều lợi ích cho con người nhưng điều này cũng góp phần làm lây lan
bệnh tật. Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì ngày nay ở nhiều nước mà nhất là ở những
nước phát triển đang phải đương đầu với các bệnh không truyền nhiễm nhưng có tỉ lệ tử
vong cao như ung thư, tiểu đường, tim mạch, béo phì v.v

2. MÔ HÌNH BỆNH TẬT Ở VIỆT NAM THEO CÁC VÙNG SINH THÁI
Đặc điểm chung của nước ta là đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ và đồng bằng chỉ
chiếm 1/4 lãnh thổ. Khí hậu nhiệt đới, gió mùa, phía Bắc có 4 mùa, phía Nam có 2 mùa,

Từ những đặc điểm về địa lý, kinh tế như vậy nên kéo theo những vấn đề về sức
khoẻ, bệnh tật cũng có những điểm khác do với các vùng khác như đây là nơi tập trung
khá nhiều những bệnh liên quan đến côn trùng, đói nghèo, phong tục,…. biểu hiện qua 10
bệnh mắc cao nhất như được trình bày trong Bảng 4.

Bảng 4. Mười bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất năm 2005

STT

Vùng Đông Bắc Vùng Tây Bắc
1
Viêm họng và viêm Amidan cấp Các bệnh viêm phổi
2
Viêm phế quản và viêm tiểu phế
quản cấp
Viêm họng và viêm Amidan cấp
3
Các bệnh viêm phổi ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
4
Ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có
nguồn gốc nhiễm khuẩn
Cúm
5
Viêm khớp dạng thấp và viêm
khớp khác
Viêm nhiễm cổ tử cung
6
Tai nạn giao thông Tai nạn giao thông
7

chăn nuôi, canh tác nông nghiệp nên gây ra mô hình bệnh tật có khác với các
vùng khác.
• Là vùng có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước.
2.2.2. Đặc điểm về bệnh tật

Bảng 5. Mười bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất vùng Đồng bằng Sông Hồng năm 2005

STT

10 bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất năm 2005
1
Các bệnh viêm phổi
2
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
3
Viêm họng và viêm amidan cấp
4
Iả chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn
5
Sâu răng
6
Tai nạn giao thông
7
Tăng huyết áp nguyên phát
8
Viêm khớp dạng thấp và viêm khớp khác
9
Sốt virut khác do tiết túc truyền và sốt virut xuất huyết
10

1
Các bệnh viêm phổi
2
Tai nạn giao thông
3
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
4
Di chứng phong
5
ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn
6
Bệnh phổi không do phế cầu khuẩn
7
Viêm họng và viêm amidan cấp
8
Cúm
9
Lỵ Amip
10
Tăng huyết áp nguyên phát
Nguồn: Niên giám thống kê y tế, 2005.

2.4. Duyên hải Nam Trung Bộ
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 17
Vùng địa lý Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh thành là Đà Nẵng, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.
2.4.1. Đặc điểm về địa lý, kinh tế – xã hội

Tăng huyết áp nguyên phát
7
Cúm
8
Viêm dạ dày và tá tràng
9
Sốt virut khác do tiết túc truyền và sốt virut xuất huyết
10
Bệnh ruột thừa
Nguồn: Niên giám thống kê y tế, 2005.
Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 18
2.5. Tây Nguyên
Tây Nguyên có 4 tỉnh là Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk và Lâm Đồng.
2.5.1. Đặc điểm về địa lý, kinh tế – xã hội
• Đây là vùng duy nhất ở nước ta không giáp với biển.
• Giáp với Lào và Cămpuchia, có vị trí quan trọng về quốc phòng và kinh tế.
• Đa dạng về tài nguyên rừng và khí hậu, là nơi có thể phát triển thành những
khu du lịch và nghỉ mát, có tiềm năng to lớn về nông nghiệp và lâm nghiệp.
Có trữ năng thuỷ điện lớn.
• Là nơi thưa dân nhất nước ta, là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người như
Xudăng, Ba na, Gia Rai, Ê Đê, Cơ Ho, Mạ, M’nông,… với truyền thống văn
hoá độc đáo
• Hệ thống y tế phát triển tương đối tốt nhưng sử dụng của người dân còn thấp,
đặc biệt là các dân tộc ít người.
2.5.2. Đặc điểm về bệnh tật

Bảng 8. Mười bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất vùng Tây Nguyên năm 2005

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 19
2.6. Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh thành: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Bương, Bình
Phước, Tây Ninh và Đồng Nai.
2.6.1. Đặc điểm về địa lý, kinh tế – xã hội
• Là khu vực có diện tích nhỏ, mật độ dân số trung bình nhưng phát triển nhất
trong cả nước về sản lượng công nghiệp, hàng xuất khẩu
• Đất đai màu mỡ, có điều kiện để phát triển cây công nghiệp lâu năm và ngắn
ngày trên qui mô lớn
• Là khu vực thu hút mạnh lực lượng lao động có chuyên môn cao, thợ lành
nghề, các nhà khoa học và là vùng có tài nguyên chất xám lớn.
• Có điều kiện và khả năng phát triển công nghiệp, các hoạt động du lịch, dịch
vụ, chế biến, xuất, nhập khẩu,…
• Khai thác kinh tế biển, bờ biển, phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp
• Khí hậu ôn hoà chỉ có 2 mùa mưa và khô, thời kỳ mùa khô kéo dài (4 tháng)
dẫn đến thiếu nước sinh hoạt, tưới cho cây trồng và công nghiệp.
2.6.2. Đặc điểm về bệnh tật

Bảng 9. Mười bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất vùng Đông Nam Bộ năm 2005

STT

10 bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất năm 2005
1
Các bệnh viêm phổi
2
Viêm họng và viêm amidan cấp

• Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cắt xẻ châu thổ thành những ô nên
việc giao thông bằng đường thuỷ dễ dàng.
• Khí hâu cận xích đạo, nhiệt đới ẩm, mùa khô kéo dài làm cho đất nước bị
nhiễm mặn vào sâu đất liền.
• Thảm thực vật, động vật phong phú chủ yếu là rừng ngập mặn và rừng tràm,
tài nguyên biển vô cùng phông phú.
• Thiếu nước ngọt đang là một vấn đề vô cùng quan trọng của Đồng bằng Sông
Cửu Long.
2.7.2. Đặc điểm về bệnh tật

Bảng 10. Mười bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất vùng Đồng bằng Sông Mê Kông năm 2005

STT

10 bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất năm 2005
1
Các bệnh viêm phổi
2
Tăng huyết áp nguyên phát
3
Ỉa chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn
4
Viêm họng và viêm amidan cấp
5
Tai nạn giao thông
6
Sốt virut khác do tiết túc truyền và sốt virut xuất huyết
7
Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp
8

trình sức khoẻ công cộng. Với xu hướng đô thị hoá, các biện pháp kiểm soát vector không
hiệu quả và sự gia tăng của việc đi lại thông thương giữa các nước trên thế giới cũng như
sự di cư của người dân từ nước này sang nước khác là những yếu tố chính dẫn tới sự tái
xuất hiện trở lại các bệnh truyền qua vector. Sự mở rộng của các vùng không có sương
tuyết có thể dẫn tới sự di cư của các loài côn trùng và gặm nhấm làm lây lan các bệnh ở
vùng có khí hậu nóng ấm tới các vùng cao nguyên, đồi núi. Những gì có lợi cho vi sinh
vật có hại thì hiếm khi có lợi cho con người. Nhiệt độ ấm lên trong một thời gian dài do
khí hậu thay đổi sẽ tạo điều kiện lý tưởng cho các loài muỗi và nhiều loài vector truyền
bệnh khác sinh sôi nảy nở, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm (xem Hình 3.2)

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 22

(Nguồn: Paul R. Epstein (2001), Global warming: Health and disease. )
• Bệnh sốt rét
Vấn đề đang thu hút được sự quan tâm rất lớn là bệnh sốt rét. Sốt rét hiện là một

Bộ môn Sức khoẻ môi trường Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 23
nhanh chóng trở nên kháng thuốc và càng nguy hiểm hơn cho sức khoẻ cộng đồng. Từ
đầu những năm 1970, căn bệnh này xuất hiện trở lại ở nhiều nơi trên thế giới và dưới
dạng nguy hiểm hơn. Sự gia tăng số trường hợp bị sốt rét trong những năm gần đây một
phần là do sự ấm lên trên toàn cầu, đồng thời do con người xây dựng nhiều đập nước và
các hệ thống tưới tiêu trong nông nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho các quần thể muỗi
sinh sôi phát triển mạnh mẽ làm lây lan căn bệnh này. Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì đến
cuối thế kỷ 21, hàng năm sẽ có thêm khoảng 50 - 80 triệu trường hợp bị sốt rét (WHO,
1996).
• Sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là căn bệnh nhiệt đới do muỗi truyền. Đây là căn bệnh nguy hiểm do
virus truyền qua muỗi vằn đốt người vào ban ngày. Khí hậu vùng nhiệt đới với nhiệt độ
giao động từ 15 đến 40
0
C và độ ẩm cao kết hợp với môi trường sống đông đúc, mất vệ
sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho căn bệnh này phát triển. Căn bệnh này có hai thể: Sốt
Dengue và sốt xuất huyết Dengue. Sốt Dengue có triệu chứng tương tự như cảm cúm,
thường xảy ra ở trẻ lớn, người lớn và ít khi gây tử vong. Trái lại, sốt xuất huyết Dengue là
thể thứ phát rất nguy hiểm, có xuất huyết và bệnh nhân có thể bị chết nếu không được
chẩn đoán và điều trị kịp thời (Nguyễn, 1996). Sốt xuất huyết là nguyên nhân hàng đầu
của các trường hợp nhập viện và tử vong của trẻ em ở các nước Đông Nam Á và Tây Á
Thái Bình Dương. Căn bệnh ước tính làm tổn hại tới khoảng 30 đến 60 triệu người hàng
năm (Rodhain, 1996). Ở Việt Nam, sốt xuất huyết xảy ra ở hầu hết các tỉnh thành phố vào
các tháng rải rác trong năm, nhưng tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa từ tháng 6
đến tháng 10 (Hoàng, 2001). Theo dự đoán của tiến sỹ Epstein thì thay đổi khí hậu là một
nguyên nhân chính gây ra sự lan tràn bệnh sốt xuất huyết. Ngày nay, sốt xuất huyết xuất
hiện khá phổ biến ở các nước Châu Á và Châu Mỹ - La Tinh. Các bằng chứng cho dự

điển hình về vai trò của những thay đổi trong hệ sinh thái trong việc xảy ra các vụ dịch
bệnh truyền nhiễm trong những thập niên gần đây. Sự thay đổi khí hậu bị nghi ngờ là có
liên quan tới những biến đổi trong hệ sinh thái và góp phần làm nẩy sinh dịch bệnh này.
Hantavirus được truyền bởi chuột nhắt và con người có thể hít thở loại virus này vào
nếu trong môi trường không khí có nước tiểu hoặc phân của chuột nhắt. Dưới điều kiện
bình thường thì loài chuột nhắt ở sa mạc mang hantavirus sẽ bị kiểm soát bởi các loài thú
săn mồi trong tự nhiên. Tuy nhiên, ở vùng Tây Nam nước Mỹ năm 1991 - 1992, hiện
tượng El Nilno xẩy ra làm hạn hán kéo dài và hậu quả là làm giảm số lượng cá thể của các
quần thể chó sói đồng cỏ, quạ và rắn. Mùa xuân năm 1993, mưa nhiều hơn bình thường
làm cho cây cối và côn trùng phát triển mạnh cung cấp lượng thức ăn dồi dào cho chuột
nhắt và tạo điều kiện cho chúng phát triển sinh sôi nảy nở nhanh hơn các loài là kẻ thù
của chúng như chó sói đồng cỏ, quạ và rắn. Các quần thể chuột nhắt tăng số lượng cá thể
lên khoảng 10 đến 15 lần và với số lượng đông đảo, chúng xâm nhập vào nhiều nhà ở
vùng Tây Nam và đã dẫn tới sự gia tăng của các trường hợp mới bị mắc hội chứng
hantavirus ở phổi (HPS). Hơn 150 người đã mắc bệnh và hơn một nửa trong số họ bị chết
(theo tạp chí Y tế Công cộng của Mỹ số 85, tác giả Epstein, P. R.). Các vụ dịch HPS cũng
đã xẩy ra ở nhiều nước thuộc Châu Mỹ La tinh từ năm 1995.
3.1.2. Các bệnh truyền qua nước
Mối quan hệ giữa sức khoẻ con người với chất lượng và số lượng nước cung cấp
cũng như các vấn đề về vệ sinh môi trường là khá phức tạp. Do vậy, việc dự đoán những

Trích đoạn Bệnh truyền qua không khí Các bệnh không truyền nhiễm BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status