LỊCH SỬ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - Pdf 19

http://www.ebook.edu.vn

8
lịch sử y học cổ truyền Việt Nam, tóm lợc y
thuật các đại danh y Việt Nam

1.Việt Nam có địa sinh học riêng.
Theo nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, Thời nguyên đại Trung sinh cách đây 200
triệu năm, diải đất nớc ta lúc đầu nh mầm xơng sống hình chữ S đó là dãy núi Trờng
Sơn. Thời đại Tân sinh cách đây 50 triệu năm là thời kỳ tạo đất bồi đắp; hợp thành lục địa á
châu, có kết cấu địa chất, địa tầng có sông, có núi
Cuối Thời kỳ Đệ Tam cách đây 10 20 triệu năm, á châu đã có vợn cao cấp. Nhiều nhà
khảo cổ học Việt Nam đã chứng minh, con ngời Việt Nam xuất hiện từ thời kỳ Canh Tân . Do Thời
kỳ băng hà kéo dài từ Thuỷ Canh Tân đến Canh Tân. Nhng ở nớc ta nói riêng và ở Đông Nam á
nói chung chỉ có ma lớn. Sau băng hà nớc biển tràn lên, kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa, tạo
điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển, nguồn thức ăn của nhiều loại động vật trong đó có con
ngời. Vợn ăn cỏ cây, ăn thịt động vật để sống, đồng thời cũng chọn lọc tự nhiên những động vật và
cây cỏ ăn để chữa bệnh. Vì vậy thuốc chữa bệnh đợc lu truyền từ thời này sang thời khác, đời này
sang đời khác và tồn tại đến nay. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Y học cổ truyền Việt Nam đã đúc
kết đợc nhiều phơng pháp phòng bệnh và chữa bệnh bằng thuốc và không dùng thuốc (châm cứu,
day, bấm huyệt) có hiệu quả. Đã phát hiện nhiều vị thuốc quí: quả giun, gừng gió, ý dĩ, xơng bồ,
kỳ nam, sa nhân, đậu khấu, hơng phụđợc lu truyền đến ngày nay.
2. Việt Nam có lịch sử xã hội lâu đời.
Việt Nam có nhà nớc Văn Lang, từ thời Hồng Bàng năm 2879 257 trớc công
nguyên; thời đại các Vua Hùng, tổ tiên ta sớm sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật, động
vật và khoáng vật để làm thuốc. Ngoài ra còn biết sử dụng cả thuốc độc tẩm vào tên, giáo
mác để chống giặc ngoại xâmHiện nay có tợng và miếu thờ An Kỳ Sinh Nhà châm cứu
Việt Nam đầu tiên tại Trúc sơn, Yên Tử, Đông Triều, Quảng Ninh. Tợng và miếu thờ Bảo
Cô - Nhà nữ châm cứu (thế kỷ thứ 3 trớc công nguyên). Tài liệu do Giáo s thầy thuốc
nhân dân Nguyễn Tài Thu -Viện trởng Viện châm cứu Việt Nam su tầm. Hơn một thiên
niên kỷ , dân tộc Việt Nam dới ách xâm lợc nô dịch và đồng hoá của phong kiến Trung

Đặc biệt trong thời kỳ này có Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thợng Lãn Ông (1720 1791),
quê Văn Xá, Yên Mỹ, Hải Hng. Ông đã tóm lợc y lý Y học cổ truyền phơng Đông, tổng
kết những thành tựu Y học cổ truyền Việt Nam từ trớc đến thế kỷ XVIII và đã vận dụng
sáng tạo những tinh hoa Y học cổ truyền vào điều kiện thời tiết khí hậu liên quan đến đặc
điểm phát bệnh ở nớc ta. Tác phẩm Hải Thợng Lãn Ông Y Tông Tâm Lĩnh là bộ sách đồ
sộ gồm 28 tập, 66 quyển, đến nay vẫn đợc coi là bộ sách bách khoa về Y học cổ truyền. Ông
đã tổng kết hoàn chỉnh, hệ thống hoá nền Y học truyền thống Việt Nam trên các lĩnh vực; nội
khoa, ngoại khoa, sản phụ, nhi khoa và ngũ quan khoa trên phơng diện chẩn trị dự phòng từ
lý pháp đến phơng dợc, từ y đức đến y sử, y thuật, đến các lĩnh vực thiên văn y học và thực
trị học. Về dợc học Lãn Ông đã su tầm thêm 300 vị thuốc, tổng hợp thành 2854 bài thuốc
kinh nghiệm. Nét độc đáo trong biện chứng luận trị Y học cổ truyền của Lãn Ông, đến nay và
mãi mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động, chẩn trị theo y lý cổ truyền, của các thế hệ thầy
thuốc y học dân tộc Việt Nam.
-Nội kinh là sách viết về biện chứng luận trị các chứng và bệnh thuộc phạm vi nội khoa
bệnh học. Thông qua các phạm trù kinh điển của y học cổ truyền. Ví dụ: tý chứng, tâm quí,
tiêu khát, thoát th, ngân tiết bệnh để liên hệ với các bệnh danh đã đợc hiện đại hoá theo
quan điểm Y học hiện đại.
Thế kỷ XIV đến XVIII các đại danh y Việt Nam: Tuệ Tĩnh, Hải Thợng Lãn Ông trên
cơ sở thừa kế tiếp thu y học phơng Đông đã tóm lợc trong Nội kinh yếu chỉ. Lãn Ông
chọn lọc những điểm thiết yếu, kinh điển thực tiễn của y học phơng Đông, làm cơ sở cho
biện chứng một số bệnh nội khoa học:
Y già quan miệm: phân tích tổng hợp lý luận cơ bản học thuyết âm dơng ngũ
hành, tạng phủ, kinh lạc khí huyết, chẩn đoán mạch học, bệnh lý, pháp trị,
phơng trị.
Y hải cầu nguyên: ( Tâp.3.4.5) nguyên tắc trị liệu, dựa trên những qui luật chung
về sinh lý bệnh lý.
Huyễn Tẫn phát huy (Tập 6): quan niệm về thuyết thuỷ hoả, mệnh môn hoả ,
tớng hoả , tiên thiên thuỷ hoả, chân thuỷ, chân hoả của Hải Thợng.
http://www.ebook.edu.vn


vong
Truyền tân bố chỉ (Châu ngọc cách ngôn) (Tập 61): điều cốt yếu nhất trong
nguyên tắc biện chứng luận trị.
Vệ sinh yếu quyết (Tập 62): chuyên về vệ sinh, dỡng sinh phòng bệnh.
Bảo thai thần biện toàn th (Tập 63) hiện nay còn bị thất lạc.
Nữ công thắng lãm (Tập 64): cách nấu nớng - thực trị học.
Thợng kinh kí sự (Tập 65): kể lại hành trình của Ông lên Kinh Đô theo chiếu
của nhà Vua, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán (năm,1782.)
Vận khí bí điển (Tập 66) : qui luật chuyển dịch của ngũ vận lục khí liên quan
đến yếu tố bản tạng và trạng thái thiên thắng của cơ thể con ngời .
http://www.ebook.edu.vn

11
- Nội kinh yếu chỉ : Lãn ông cho rằng Nhà y có Nội Kinh cũng nh nhà nho có Ngũ
Kinh ,đó là lời nói chí lý của thánh hiền, lý lẽ sâu xa về cơ năng huyền bí đều thể hiện tất cả
ở trong đó , lời giáo huấn ngày xa còn để lại sáng tỏ nh mặt trời . Theo quan điểm của Tuệ
Tĩnh và Lãn Ông thì Nội Kinh là Bộ sách cổ đề cập đến quan niệm duy vật biện chứng cổ
đại, cơ thể con ngời là một chính thể giữa thiên nhiên; cơ thể sống giống nh một vũ trụ thu
nhỏ Nhân thân chi tiểu thiên địa. Thuyết Thiên nhân tơng ứng: trong vũ trụ bao la có
bao nhiêu tinh tú thì trong cơ thể con ngời có bấy nhiêu vi tinh tú , mọi quy luật diễn biến,
biện chứng của bầu thái cực (vũ trụ bao la ) cũng đều có thể xảy ra ở trong cơ thể con ngời
.Tiếp thu tinh hoa của Nội Kinh; các y gia tiền bối nớc ta đã tìm hiểu vận dụng sáng tạo, tiêu
biểu là thuyết vận khí bí điển của Hải Thợng Lãn Ông đã quán triệt quan điểm dịch học tinh
hoa vào y học một cách độc đáo và thực tiễn.
-Nội dung cụ thể của Nội kinh cơng yếu :
Phép dỡng sinh: luyện tâm, luyện tức, luyện thực, luyện thể, luyện thần. Trong biện
chứng về phơng pháp chữa bệnh toàn diện này có phép luyện ý, luyện chí, luyện thở, luyện
th giãn theo t thế tĩnh và luyện hình theo t thế động Đây là một phơng pháp tự phòng
bệnh và chữa bệnh, có hớng dẫn. Nội dung cơ bản của học thuyết âm dơng ngũ hành, đó
là quan điểm triết học duy vật cổ đại, quy luật mâu thuẫn phổ biến, biện chứng duy vật, giải

http://www.ebook.edu.vn

12
Mạch chứng và cách chữa bệnh ẩu thổ, uế trọc, hạ lợi: biện chứng về sóng mạch, hình
mạch tơng ứng để chẩn trị chứng nôn mửa, nôn khan và ỉa chảy.
Tập Kim quĩ yếu lợc là tóm lợc những tài liệu quí giá nh kho vàng thời Hán đợc
Trơng Trọng Cảnh ( Thế Kỷ2-3 sau Công Nguyên) tổng kết trong thơng hàn tạp bệnh luận
hay tạp bệnh luận (những bệnh lý hay gặp ngoài thơng hàn).
Điểm đáng chú ý là hầu hết những bài thuốc ở đây đều dùng rất ít vị và dùng liều rất
cao, đúng là quí hồ tinh bất quí hồ đa.
Ví dụ: bài thuốc bạch đầu ông thang chữa chứng thấp nhiệt rót xuống hạ tiêu:
Bạch đầu ông 120g, hoàng liên 120g, hoàng bá 120g, tân bì 120g.
4 vị thuốc trên, nớc 7 thăng sắc còn 2 thăng, lọc bỏ bã uống ấm một thang.
Ví dụ: bài phòng kỷ phục linh thang chữa chứng thuỷ khí:
Phòng kỷ, quế chi, hoàng kỳ đều 3 lạng, phục linh 6 lạng, cam thảo 2 lạng.
5 vị thuốc trên thêm nớc 6 thăng sắc còn 2 thăng, chia 3 lần , uống ấm.
Ví dụ: bài nhân trần cao thang.chữa chứng hoàng đản, chứng vàng da,
Nhân trần 6 lạng, chi tử 14 quả, đại hoàng 2 lạng.
3 vị trên nớc một đấu, trớc sắc nhân trần cạn bớt 6 thăng, cho 2 vị còn lại sắc còn 3
thăng, lọc bỏ bã chia ba lần uống ấm, tiểu tiện sẽ thông lợi, nớc tiểu đỏ xẫm nh nớc bồ
kết. Một đêm thì bụng giảm, sắc vàng theo nớc tiểu ra hết.
Ví dụ: theo kinh văn số 293 tâm khí bất túc, thổ huyết, nục huyết tả tâm thang
chủ chi (phải dùng bài tả tâm thang để điều trị là chính):
Đại hoàng 2 lạng, hoàng liên 4 lạng, hoàng cầm 1 lạng, 3 vị trên thêm nớc ba thăng,
sắc còn 1 thăng uống hết 1 lần.
Ví dụ: bài thuốc bổ dỡng chữa h lao, chữa bệnh phụ khoa thận khí hoàn:
Can địa hoàng 8 lạng, sơn thù 4 lạng, phục linh 3 lạng, phụ tử chế 1 lạng, sơn dợc 4
lạng, quế chi 1 lạng, trạch tả 3 lạng, đan bì 3 lạng. 8 vị trên tán bột, luyện mật làm viên hoàn
to bằng hạt ngô đồng.Liều uống 15 hoàn / lần uống với rợu, lên tới 20 hoàn/ lần ngày 2 lần.
-Thơng hàn luận:

chứng hàng trăm thứ bệnh từ đó mà ra
Nội dung của Thơng hàn luận bao gồm hai giai đoạn lớn:
Giai đoạn 1: dơng chứngchính khí tồn nội tà bất khả can. Nếu phát bệnh thì
tà khí mạnh mẽ, chính khí đầy đủ; giao tranh giữa tà khí và chính khí, giữa tác
nhân gây bệnh và sức đề kháng cơ thể, đợc mô tả về bệnh chứng lâm sàng theo
ba mức độ:
Thái dơng bệnh thể hiện triệu chứng bệnh lý ở cả hai kinh:Thủ thái dơng tam tiêu
kinh và Túc thái dơng bàng quang kinh.
Thiếu dơng bệnh thể hiện triệu chứng bệnh lý ở cả hai kinh:Thủ thiếu dơng tiểu
trờng kinh và Túc thiếu dơng đởm kinh.
Dơng minh bệnh thể hiện triệu chứng bệnh lý ở cả hai kinh:Thủ dơng minh đại
trờng kinh và Túc dơng minh vị kinh
Giai đoạn 2: âm chứng bệnh lậu, sức đề kháng cơ thể giảm sút: tà chi sở tấu kỳ
khí tất h. Diễn biến bệnh có ba mức độ khác nhau:
Thái âm bệnh thể hiện triệu chứng bệnh lý ở cả hai kinh:Thủ thái âm phế vàTúc thái
âm tỳ
Thiếu âm bệnh thể hiện triệu chứng bệnh lý ở cả hai kinh:Thủ thiếu âm tâm kinh và
Túc thiếu âm thận kinh
Quyết âm bệnh thể hiện triệu chứng bệnh lý ở cả hai kinh: Thủ quyết âm tâm bào
lạc kinh vàTúc quyết âm can kinh.
Có thể liên hệ: bệnh lý hội chứng thái dơng bệnh, là phản ứng chính khí với tà khí ở
phần bì phu niêm mạc; thái dơng là phản ứng chính khí với tà khí ở phần ngực và sờn;
dơng minh bệnh ở phần dạ dày, ruột, thái âm bệnh là phản ứng chính tà ở phần tiêu hoá,
mật, tụỵ, can, đởm. Thiếu âm bệnh là biểu hiện ở hệ tuần hoàn; bệnh quyết âm là hệ thống
thần kinh là thể dịch.
Trong biện chứng lục kinh có 397 phép và 113 phơng, tùy bệnh chứng biến hoá và sức
đề kháng của cơ thể mà xem mạch chứng biết tà khí phạm vào đâu, rồi tùy chứng mà chữa
Biện chứng Thơng hàn luận càng đọc càng hiểu thêm sâu kinh phơng biến hoá tựa
rồng , sử dụng cảm thấy linh thông thần kỳ.
Liên hệ với YHHĐ, ngoài bệnh cảm mạo thì các thời kỳ của bệnh truyền nhiễm

Chứng thái âm (tỳ, phế) phải trọng dụng tứ nghịch thang:
Phụ tử 12g, chích thảo 8g, can khơng 12g.
Có khi hàn quyết thì phải dùng can khơng, phụ tử đều phải dùng liều cao từ 20 - 40g.
-Nạn kinh là những kinh văn diễn giải những điều khó mà Nội Kinh cha diễn đạt đầy
đủ. Biển Thớc (Tần Việt Nhân) đã rút ra trong Nội Kinh 81 vấn đề hay 81 nạn là 81 điều
khó hiểu. Bố cục của nạn kinh bao gồm:
Mạch học chẩn hậu 24 nạn Kỳ kinh bát mạch 3 nạn
Kinh lạc 2 nạn Vinh vệ tam tiêu 2 nạn
Tạng phủ phối tợng 6 nạn Tạng phủ độ số 10 nạn
H thực tà chính 5 nạn Tạng phủ truyền bệnh 2 nạn
Tạng phủ tích tụ 2 nạn Ngũ tiết thơng hàn 4 nạn
Thần thánh công sảo 1 nạn Tạng phủ tịnh du 7 nạn
Dung châm bổ tả 13 nạn
Thực chất là giải thích rõ ràng những vấn đề cơ bản trong hệ thống biện chứng luận trị
của Y học truyền thống phơng Đông bao gồm:
Biện chứng luận trị về mạch học.
http://www.ebook.edu.vn

15
Biện chứng luận trị về ngũ tạng lục phủ.
Biện chứng luận trị về bệnh tật.
Biện chứng luận trị kinh lạc.
Biện chứng luận trị du huyệt và biện chứng luận trị về các phơng pháp châm cứu.
Ví dụ: Nan thần thánh công sảo: giải thích về 4 bớc khám bệnh gọi là tứ chẩn.
Vọng nhi tri chi vị chi thần (nghĩa là nhìn ngời): thần sắc, hình thể, rêu lỡi mắt mà
biết đợc bệnh là bậc thần.
Văn nhi tri chi vị chi thánh: nghe tiếng nói hơi thở, tiếng ho, ợ nấc, âm sắc, đi cầu mà
biết đợc bệnh là bậc thánh hiền.
Vấn nhi tri chi vị chi công: hỏi về quá trình phát bệnh, yếu tố ảnh hởng và quá trình
chữa trị: ăn ngủ, đại tiểu tiện, hỏi về mồ hôi kinh nguyệt mà biết đợc bệnh là bậc thổ công.

Trung Hoa kết hợp với tổng kết kinh nghiệm dân gian sắp đặt nguồn gốc để phân loại thuốc
cổ truyền mang bản sắc riêng Việt Nam.
Ông thu lợm 533 vị thuốc và chia thành 23 loại: loại cỏ mọc hoang (nguyên thảo bộ th thảo
bộ) 62 vị, loại cỏ dây leo (đằng thảo bộ) 17 vị, loại cỏ mọc ở nớc (thuỷ thảo bộ) 6 vị, loại quả (quả
http://www.ebook.edu.vn

16
bộ) 47 vị, loại cây (mộc bộ) 42 vị, loài sâu bọ (trùng bộ) 32 vị, loại có vảy (lân bộ ) 40 vị, loại cá
(ng bộ) 34 vị, loại có mai (giáp bộ) 6 vị, loại không vảy (giới bộ) 13 vị, loài chim (cầm loại) 39 vị,
loài chim nớc (thuỷ điểu) 12 vị, loại gia súc (lục súc) 26 vị, loại thú rừng (sơn thú bộ) 36 vị, các thứ
nớc (thuỷ bộ) 9 vị, các thứ đất (thổ bộ) 14 vị, loại ngũ kim (kim bộ) 11vị, loại đá (thạch bộ) 7 vị, loại
chất mặn (lỗ bộ) 4 vị, loại thuốc về ngời (nhân bộ) 6 vị và 35 vị thuốc lợm lặt thêm. Hiện nay,
phân loại thuốc (dợc vật) Y học cổ truyền của bộ môn YHCT-Bệnh viện 103-Học viện Quân y là
dựa theo nguồn gốc: động vật, nguồn gốc thực vật, nguồn gốc khoáng vật và chủ yếu là phân loại
theo biện chứng luận trị, nhng trong diễn giải khi giảng dạy vẫn tham khảo cách phân loại độc đáo
mang bản sắc Việt Nam của Tuệ Tĩnh .
Phơng pháp luận trong chẩn trị đều có những nét riêng dễ hiểu Quan hình sát sắc
biện nguyên do, âm nhợc dơng cờng phát ngạnh nhu, nhợc thị thơng hàn song túc lãnh,
yêu tri hữu nhiệt đỗ bi cầu, tỷ lạnh tiên tri thị chẩn đậu, nhĩ lãnh ng tri phong nhiệt chứng,
hôn nhân giai nhiệt thị thơng hàn, thợng nhiệt hạ lơng thơng thực bệnh.
Từ những diễn biến phức tạp giữa một bên là tác nhân gây bệnh hàn tà một bên là
phản ứng của hàng rào phòng ngự , thông qua sự chuyển hoá lục kinh trong biện chứng
thơng hàn luận, Trơng Trọng Cảnh ( Thế kỷ 2 - 3 sau Công Nguyên ), Ông đã vận dụng
sáng tạo cách xét bệnh ở bệnh nhi: âm nhợc tóc cứng, dơng cờng tóc mềm, hai chân lạnh
mình nóng là thơng hàn, mũi lạnh , ngời nóng là bệnh sởi đậu từ khái quát thuốc về khí
theo giới nam bất thiểu trần bì, nữ bất phi hơng phụ nay đã trở thành những cơng lĩnh
dùng thuốc rất Việt Nam.
Lê Hữu Trác trong Hải Thợng Lãn Ông y tông tâm lĩnh, bộ sách đồ sộ chẳng
những đã Việt hoá hệ thống lý luận Y học cổ truyền phơng Đông và Y học cổ truyền Trung
Hoa mà còn chắt lọc những tinh hoa kết hợp với truyền thống y học dân gian Việt Nam khái

Nôm của các Y gia tiền bối ,nhất là của Hải Thơng Lãn Ông trong lĩnh vực y lý, biện chứng
luận trị Y Dợc học cổ truyền Việt nam đã đợc Ông Việt hoá rất độc đáo, đặc sắc và sáng
tạo đến bất ngờ . Y đức, y lý, y thuật của Ông luôn là kim chỉ nam cho Y giới YHCT xa,
nay và mãi mãi, đợc phát huy trong khám bệnh, chẩn trị và dự phòng bằng phơng pháp
luận YHCT Việt Nam góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
thuốc yhct có tác dụng trên miễn dịch tế bào
miễn dịch dịch thể và điều tiết miễn dịch

1.Khái niệm:
Quan điểm của YHCT: Tự ngã thức biệt, Bài trừ dị kỉ. Bình thờng, chức năng
miễn dịch của cơ thể có 3 loại tác dụng lớn:
+ Tự thân ổn định (trung hòa các dị nguyên).
+ Cố định các dị nguyên (vô hiệu hóa).
+ Dự phòng các bệnh truyền nhiễm, cảm nhiễm.
Theo Von Pirquet (1929 - 1974), phản ứng miễn dịch bao gồm: choáng phản vệ loại bỏ
protein lạ, mày đay nổi mẩn cố định các dị nguyên ở vùng viêm không cho lan rộng ra toàn
thân; nhng do quá mức (thái quá) mà cơ thể không những không tự bảo vệ đợc mình mà
còn gây ra rối loạn chức năng các tổ chức cơ quan trong cơ thể. Quan điểm YHCT, theo Tần
Vạn Chơng và Nại Duy Lập (Thợng Hải, 1988):
Tà chi sở tấu, kỳ khí tất h. Chính khí tồn nội, tà bất khả can.
Nghĩa là tác nhân gây bệnh ở da, cơ sẽ làm tổn thơng sức đề kháng của cơ thể, và ngợc
lại sức đề kháng tốt thì tác nhân gây bệnh không thể xâm phạm vào da, cơ của cơ thể đ
ợc.
2. Nội dung:
2.1. Mối liên hệ giữa dợc lý, miễn dịch với lý luận YHCT: Lý luận h, thực, vệ khí,
can tỳ của Trung y với quan điểm miễn dịch học hiện đại có nhiều điểm gần nhau. Hai nguyên
tắc điều trị lớn của Trung y là phù chính và trừ tà có sự tơng quan mật thiết với miễn dịch trị

Tần Vạn Lập nghiên cứu về bản chất của bệnh đã phát hiện đa số bệnh nhân bị luput
ban đỏ có biểu hiện triệu chứng thận h
. Sau khi Ông cho những bệnh nhân này dùng thuốc
bổ thận liều nhẹ thì các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đều đợc cải thiện rõ rệt.
Trong nghiên cứu cơ chế thận h , các tác giả đã chứng minh đợc thuốc bổ thận có thể
điều chỉnh và nâng cao tính phản ứng hệ thống của vỏ thợng thận và tuyến yên. Điều này có
ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn trong việc dùng kích tố nội tiết.
+Trong những thập kỷ gần đây, kết hợp Trung - Tây y để điều trị các bệnh tự thân miễn
dịch ngày càng đợc phát triển và đã thu đợc hiệu quả cao. Tại các trung tâm nghiên cứu Y
học cổ truyền của Bắc Kinh, Thợng Hải, Thiên Tân, có nhiều tác giả nhận thấy luput ban đỏ,
viêm da - cơ, xơ cứng bì đều là chứng h ở mức độ khác nhau. Sau khi điều trị bằng thuốc
phù chính thì hầu hết các bệnh nhân, qua kiểm tra xét nghiệm và lâm sàng, đều thấy các chỉ
tiêu miễn dịch đợc cải thiện, bệnh ổn định.
Theo nghiên cứu của Y viện Hiệp Hoà - Bắc Kinh, điều trị bệnh viêm da - cơ cấp tính
bằng thanh doanh giải độc thang gia giảm và điều trị viêm da - cơ mãn tính bằng bổ trung
ích khí gia giảm kết hợp với kích tố và điều trị hỗ trợ khác. Trong tổng số 27 bệnh nhân, thấy
kết quả tốt 24, không kết quả và tử vong 3 (vì có kết hợp với nham chứng).
Những nghiên cứu của các địa phơng trên đã chứng minh các vị thuốc bổ ích khí -
huyết có tác dụng tăng cờng chức năng miễn dịch (nhân sâm, bạch truật, tử hà sa, ngũ gia bì,
hà thủ ô ).
Theo Lu Minh Nhuệ(Tạp chí Trung y, 1995), nghiên cứu điều chế thuốc từ hoàng kỳ
để điều trị bệnh vẩy nến thể thông thờng, dùng hoàng kỳ chế (gồm: hoàng kỳ sắc, cao hoàng
http://www.ebook.edu.vn

19
kỳ và hoàng kỳ dạng tiêm ) để điều trị 204 bệnh nhân bị bệnh vẩy nến thể thông thờng, thấy
kết quả : khỏi hoàn toàn 47 (20,6%), khỏi cơ bản 62 (30,4%), tiến triển tốt 94 (44,6%), không
kết quả 9 (4,4%) ; tổng số bệnh nhân có tỷ lệ tốt là 95,6%. Theo dõi các chỉ tiêu miễn dịch
trớc và sau điều trị bằng thuốchoàng kỳ chế tễ thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến
thể thông thờng, đều có tác dụng tăng cờng miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Trong

năng miễn dịch của cơ thể. Tuy nhiên, cũng có một số thuốc thanh nhiệt - giải độc lại có tác
dụng ức chế miễn dịch. Ngoài ra nhiều loại thuốc sơ phong - trừ thấp có tác dụng tiêu viêm
thoái mẫn.
2.3.1. Tác dụng ức chế miễn dịch của thuốc trừ tà:
+Trong những năm gần đây, bằng kết hợp Trung - Tây y, các nghiên cứu ứng dụng một
số thuốc trừ tà để điều trị bệnh tự thân miễn dịch và bệnh biến thái phản ứng tính trạng thái
quá mẫn cảm gây phản ứng quá mẫn đã thu đợc kết qủa tốt. Y học hiện đại cho rằng: sở dĩ
bệnh tự thân miễn dịch và phản ứng biến thái tính bệnh tật là do kích thích của kháng nguyên
đã phát sinh phản ứng miễn dịch quá mẫn, gây nên một loạt các biến đổi chức năng trong cơ
thể.
http://www.ebook.edu.vn

20
Quan sát lâm sàng và thực nghiệm, ngời ta thấy một số thuốc trừ tà có tác dụng ức chế
các phản ứng quá mẫn, tuy ở mức độ khác nhau nhng đều đạt kết quả điều trị tốt.
+Học viện Y 1 - Thợng Hải chọn mặt bệnh luput ban đỏ để nghiên cứu tác dụng của
thuốc hoạt huyết - hóa ứ là chủ.
- Cẩm Hồng Phơng dùng bài thuốc hoạt huyết - hóa ứ ( gồm: đại hoàng, hồng hoa,
xích thợc, bạch thợc, tần cửu, hoàng tinh, cam thảo) để điều trị luput ban đỏ. Dựa vào chỉ
tiêu miễn dịch trớc và sau điều trị, tác giả kết luận thuốc hoạt huyết- hóa ứ có tác dụng ức
chế phản ứng quá mẫn.
- Tần Vạn Chơng lấy dịch chiết của xích thợc, hoàng đằng dới dạng thuốc tiêm và
dùng thuốc hoạt huyết - hóa ứ điều trị luput ban đỏ, quan sát điều trị đến khi bệnh ổn định
thấy các chỉ tiêu miễn dịch của nó đều đợc cải thiện. Đồng thời trải qua hàng chục năm
nghiên cứu kết hợp dùng vị thuốc lôi công đằng chế tễ (chế phẩm từ cây rau má) để điều trị
luput ban đỏ, tác giả nhận thấy tỷ lệ khỏi cao (79,4 91%), các triệu chứng phát sốt, đau khớp
, tổn thơng da đều đợc cải thiện ; các tổn thơng nội tạng đều có chuyển biến tốt. Các xét
nghiệm hệ thống máu, anbumin niệu, chức năng gan và thận đều đợc cải thiện tốt, tốc độ
máu lắng hạ thấp; Các chỉ tiêu miễn dịch tế bào, globulin miễn dịch, chức năng tế bào limpho
đều có chuyển biến tốt.Tác giả rút ra kết luận: lôi công đằng có tác dụng chống viêm, điều tiết

trừ thấp vị linh thang, tần cửu ngu bàng thang, đan bì ẩm, toàn trùng phơng,
lơng huyết giải độc thang, long đờm thảo tả can thang.
+ Những báo cáo lâm sàng về tác dụng tăng cờng miễn dịch của thuốc trừ tà ngày
càng nhiều, nhng thực nghiệm cha đợc đầy đủ. Tuy nhiên, ngời ta cũng thống nhất kết
http://www.ebook.edu.vn

21
luận thuốc phù chính và trừ tà đều có tác dụng điều tiết miễn dịch. Trên lâm sàng thờng dùng
kết hợp cả hai phơng pháp này để điều trị bệnh ngoài da.
- Theo báo cáo của Vơng Đức Tuệ, phối hợp thuốc phù chính - trừ tà với lôi công
đằng (tích tuyết thảo) để điều trị 36 bệnh nhân vẩy nến (ngân tiết bệnh) thấy có hiệu quả khá
mỹ mãn. Trong điều trị , tác giả đã chọn dùng lôi công đằng kết hợp với biện chứng luận trị ,
lựa chọn một số thuốc phù chính - trừ tà để tổ chức phơng thuốc:
- Một số vị thuốc thờng dùng để trừ tà: thổ phục linh, bạch hoa xà thiệt thảo, tử thảo, hoàng
liên, hoàng cầm, sơn đậu căn, long quí, ô tiêu xà, chích ngô công, cơng tàm, kim ngân hoa, khổ sâm,
xuyên khung, đan sâm, nga truật, đại hoàng và thuyền y. Một số vị thuốc thờng dùng để phù chính:
đẳng sâm, hoàng kỳ, hà thủ ô, sinh địa, xích bạch thợc, bạch truật, phục linh, hồng táo, hoàng tinh,
sơn dợc, biển đậu, thích ngũ gia bì, hoàng kỳ thích (hoàng kỳ gai).
- Theo báo cáo của Tôn Khánh Quí: dùng các thuốc thanh nhiệt - giải độc , hoạt huyết -
hóa ứ và bổ dỡng khí - huyết kết hợp với quế chi tạo thành quế thanh thang đã điều trị khỏi
cho 9 bệnh nhân vẩy nến thể mụn mủ.
Phơng thuốc:
Phục linh 15g Quế chi 15g
Đan bì 15g Đào nhân 15g
Bạch thợc 15g Hoàng liên 10g
Hoàng cầm 15g Hoàng bá 15g
Sinh thục địa15g Đơng qui 15g
Xuyên khung 15g Hoàng kỳ 30g.
* Tất cả những báo cáo dẫn liệu trên chứng tỏ thuốc phù chính - trừ tà dùng để điều trị
đều liên quan mật thiết đến vấn đề miễn dịch, hoặc là ức chế hoặc là tăng cờng hay là điều

sinh nội nhiệt).
- Thuốc thanh nhiệt giáng hoả (tả hoả) thờng đợc chọn dùng: hoàng cầm, hoàng liên,
hoàng bá, chi tử, long đờm thảo, hạ khô thảo, quyết minh tử, thạch cao, tri mẫu, lô căn, trúc
diệp
-Thuốc thanh nhiệt lơng huyết thờng dùng: sinh địa, huyền sâm, đan bì, xích thợc,
bạch đầu ông, thanh hao, bạch vi, địa cốt bì
-Thuốc thanh nhiệt - giải độc thờng dùng: kim ngân, liên kiều, thanh đại diệp, tử thảo,
bồ công anh, tử hoa địa đinh, bán biên liên, bạch hoa xà thiệt thảo, hạ khô thảo, phợng vĩ
thảo, lệ chi thảo, khổ sâm, xuyên thạch linh, bán chi liên, nhất kiến hỷ, sơn đậu căn, xạ can,
ng tinh thảo, bối tơng thảo
+ Thuốc tả hạ là nhóm thuốc gây nhuận tràng, tiện lỏng, trục thủy tả hạ. Các vị thuốc
thờng đợc chọn dùng: đại hoàng, mang tiêu, hoả ma nhân, uất quí nhân, đại kích nguyên
hoa, cam toại, hắc sửu.
+ Thuốc trừ phong thấp là nhóm thuốc có tác dụng sơ thông kinh lạc trừ phong thấp,
giải trừ thống tý ở biểu, vận động trở ngại. Các vị thuốc thờng đợc chọn dùng: tần cửu, độc
hoạt, uy linh tiên, ngũ gia bì, mộc qua, hổ trợng, xú ngô đồng, hy thiêm thảo, hải phong
đằng, thơng nhĩ tử, ô tiêu xà, mao lơng.
+ Thuốc phơng hơng hóa thấp là nhóm thuốc có tác dụng phơng hơng hóa trọc,
hoà vị. Các vị thuốc đợc chọn dùng : hoắc hơng, phong lan, hậu phác, sa nhân, bạch khấu
nhân, thơng truật, thạch xơng bồ.
+ Thuốc lợi thủy thấm thấp là nhóm thuốc có tác dụng bài trừ thuỷ thấp, thông lợi tiểu
tiện. Các vị thuốc đợc chọn dùng: phục linh, tr linh, trạch tả, đông qua tử (bì), ý dĩ nhân,
hoạt thạch, sa tiền thảo (tử), mộc thông, thông thảo, hải kim sa, kim tiền thảo, ngọc mễ tu,
nhân trần, biển xúc, cù mạch, phòng kỷ, tỳ giải.
+ Thuốc ôn lý là nhóm thuốc có tác dụng ôn lý trừ hàn, ôn trung hồi dơng, tán hàn chỉ
thống. Một số vị thuốc đợc chọn dùng: phụ tử, nhục quế, can khơng, cao lơng khơng, ngô
thù du, hoa tiêu, tiểu hồi hơng, ngải diệp
+ Thuốc lý khí là nhóm thuốc có tác dụng điều lý khí cơ, lu thông khí - huyết. Một số
vị thuốc đợc chọn dùng: quất bì, chỉ thực (sác), mộc hơng, giới bạch, hơng phụ, ô dợc,
thanh bì, xuyên luyện tử, uất kim.

thiếu máu, kinh nguyệt không đều. Một số vị thuốc đợc chọn dùng: đơng qui, bạch thợc,
thục địa, tang thầm tử, hà thủ ô, câu kỷ tử
- Thuốc bổ âm là thuốc có tác dụng dỡng âm - sinh tân - nhuận táo. Các vị thuốc đợc
chọn dùng: thiên môn đông, mạch môn đông, thạch hộc, sa sâm, ngọc trúc, bách hợp, hạn liên
thảo, nữ trinh tử, qui bản, miết giáp.
+ Thuốc thu liễm là nhóm thuốc có tác dụng thu liễm cố sáp. Các vị thuốc đợc chọn
dùng: ngũ vị tử, sơn thù nhục, khiếm thực, kim anh tử, tang phiêu tiêu, phúc bồn tử, ô tặc cốt,
ô mai, thạch lựu bì, nhục đậu khấu
+ Thuốc khu trùng là nhóm thuốc có tác dụng khu trùng hoặc diệt trùng - ký sinh trùng
đờng ruột. Một số vị thuốc đợc chọn dùng: sử quân tử, khổ luyện căn bì, binh lang, quán
chúng, nha đàm tử
+ Thuốc dùng ngoài là nhóm thuốc dùng để bôi đắp ngoài; có tác dụng thu liễm, chỉ
huyết, tiêu thũng, giải độc, hoá ứ, sinh cơ, bài nùng, chỉ thống. Một số vị thuốc đợc chọn
dùng: hùng hoàng, sa sàng tử, minh phàn, phê sa, lu hoàng, khinh phấn, lô cam thạch, thủy
phiến

2. Tác dụng kháng vi khuẩn và ức chế vi khuẩn
của thuốc thảo mộc.
Trong những năm gần đây, trên cơ sở kết hợp YHHĐ với biện chứng luận trị theo y lý
Y học cổ truyền, một số nớc tiên tiến đã đa nền Y học cổ truyền phơng Đông ngang tầm
với YHHĐ, đã lần lợt nghiên cứu cơ bản các thuốc thảo mộc dạng cao lỏng, dạng sắc thang,
dạng tễ, dạng hoàn, dạng viên nén, viên bao, dạng tiêm, dạng truyền Bằng kết quả khả quan
trên thực nghiệm và lâm sàng, ngời ta đã khẳng định tác dụng kháng khuẩn và ức chế vi
http://www.ebook.edu.vn

24
khuẩn của nhiều loại thuốc thảo mộc. Theo tài liệu của Viện Y học Giang Tô (1973); tân biên
Trung Y học khái luận (Bắc Kinh, 1974); Trung Dợc học khoa học kỹ thuật (Thợng Hải,
1998), khả năng kháng khuẩn của các nhóm thuốc nh sau:
2.1. Thuốc giải biểu:

hàn, tụ cầu vàng, phó thơng hàn, liên cầu khuẩn tan huyết, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn ở đại
tràng; địa du thảo có tác dụng diệt khuẩn mủ xanh. Nh vậy thuốc thanh nhiệt - giáng hoả
theo Y lý cổ truyền, đa phần chữa bệnh do nhiệt độc, hoả độc đinh sang ung th (nhọt bọc), dị
ứng, lở ngứa, các bệnh thờng hay có sốt
2.3. Khả năng kháng khuẩn của các thuốc tả hạ:
Thuốc có tác dụng chủ yếu: thông hạ đờng tiêu hóa, lợi mật, lợi đởm khí, tả thực nhiệt,
phá tích trệ, hành ứ huyết. Tuy nhiên , đại hoàng, hắc sửu có khả năng kháng khuẩn mạnh trên
phạm vi rộng: cầu khuẩn, tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, phế cầu khuẩn.
2.4. Khả năng kháng khuẩn của các nhóm thuốc khác:
+ Nhóm thuốc trừ phong thấp : hổ trợng (cốt khí củ) và mao lơng có khả năng diệt tụ
cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn thơng hàn.
http://www.ebook.edu.vn

25
+ Nhóm thuốc phơng hơng hóa thấp : lạt liễu và hậu phác có hiệu lực diệt tụ cầu
vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn ở đại tràng.
+ Nhóm thuốc lợi niệu thẩm thấp : kim tiền thảo, hải kim sa, sa tiền tử, nhân trần, biển
súc và cù mạch diệt trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ và nhiều trực khuẩn ngoài
da.
+ Nhóm thuốc ôn lý : ngô thù du có hiệu lực với ký sinh trùng đờng ruột.
+ Nhóm thuốc chỉ huyết : tiên cớc thảo, trắc bá diệp, địa du có khả năng kháng khuẩn
mạnh nhất là tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ, địa du có khả năng diệt trực
khuẩn thơng hàn và phó thơng hàn.

2.5. Khả năng kháng khuẩn của nhóm thuốc bổ:
Nhìn chung, thuốc bổ phần nhiều không có khả năng diệt khuẩn thực nghiệm. Riêng
bạch thợc (thuốc bổ huyết), thiên môn, mạch môn (thuốc bổ âm) có tác dụng kháng trực
khuẩn lỵ, trực khuẩn thơng hàn và trực khuẩn bạch hầu; thiên môn đông có tác dụng cả với
liên cầu khuẩn tan huyết, trực khuẩn hoại th và phế cầu khuẩn. Tuy nhiên, thuốc bổ có vai trò
quan trọng trong nâng cao chính khí, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tăng cờng kháng thể,

http://www.ebook.edu.vn

27
PhÇn 2
BiÖn chøng luËn trÞ mét sè bÖnh nan y
theo hÖ thèng c¬ quan t¹ng phñ

độc.
+ Theo phân loại của Tổ chức Vệ sinh thế giới, ngời ta chia đờng niệu bệnh làm 2 loại:
-Bệnh đái đờng típ I: nguyên nhân do tế bào tiểu đảo tụy mất khả năng tuyệt đối.
- Bệnh đái đờng típ II: các tế bào tiểu đảo tụy giảm khả năng tơng đối. Ngoài ra còn
nhiều nguyên nhân khác phức tạp, bao gồm các loại bệnh tật hoặc là do dùng thuốc làm phát
sinh đái đờng.
+ Nguyên nhân sinh bệnh đái đờng típ I và II có khác nhau. Típ I là do khuyết hãm
miễn dịch tự thân, có yếu tố di truyền. Bản chất bệnh là do kháng thể ICA đã phá tế bào tiểu
đảo tụy làm giảm tiết insulin gây rối loạn chuyển hoá đờng. Đặc điểm của bệnh đái tháo
đờng típ I là: bệnh phụ thuộc vào insulin, hay ở ngời trẻ, có kháng thể kháng tế bào tiểu đảo
tụy liên quan đến HLA, gầy sút cân; liên quan chặt chẽ tới hoàn cảnh và yếu tố ảnh hởng:
các yếu tố nhiễm độc thai nghén, nhiễm độc môi trờng, tính mẫn cảm cá thể có liên quan đến
phát bệnh đái đờng. Vì vậy, típ I: thờng có kháng thể là ICA.
Típ II: do khuyết hãn thụ thể tiểu đảo tụy là chính; ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân
khác dẫn đến đái đờng. Thờng không phụ thuộc insulin, không có liên quan với HLA,
không có kháng thể kháng tế bào tiểu đảo tụy, gặp ở ngời béo, tuổi già (80 - 90%).
Loại đái đờng này thờng kháng insulin do kháng thể kháng receptoinsulin gây ức chế
sự gắn insulin vào cảm thụ quan đặc hiệu trên màng của nhiều loại tế bào, làm cho insulin
không phát huy đợc tác dụng chuyển hóa hydrat cacbon gây nên đái tháo đờng.
1.2. Theo Y học cổ truyền:
Cách đây 2000 năm trớc Công Nguyên (Hoàng Đế- Nội kinh), ngời xa có ghi lại
những biểu hiện của đờng niệu bệnh, trong nhiều căn cứ và biểu hiện khác nhau trong các
chứng tiêu đơn, phế tiêu, cách tiêu, tiêu trung. Về sau, các y gia hậu thế thờng qui đái tháo
đờng trong phạm trù Tiêu khát. Nguyên nhân, cơ chế, bản chất bệnh là phụ thuộc vào bản
chất bẩm phụ bất túc, tình chí thất điều, ẩm thực bất tiết, lục dâm xâm lăng, lao dục thất độ
dẫn đến ngũ tạng nhu nhợc, uất lâu ngày hóa hoả, tích nhiệt thơng tân, hoả trớc tổn âm,
hao tinh thơng thận. Cơ chế bệnh có liên quan đến âm tinh hao tổn, tích nhiệt nội thịnh mà
dẫn đến âm h là chủ yếu. Âm h là bản, táo nhiệt là tiêu. 2 yếu tố này là nhân - quả tơng hỗ
quán xuyến suốt quá trình bệnh tiêu khát. Bản chất bệnh ảnh hởng đến nhiều cơ quan tạng
phủ (nhng chủ yếu là tạng phế, vị, thận) tức là thợng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu; giữa phế, vị và

+ Gia giảm:
-Nếu khát nhiều thì gia thêm: sa sâm, thạch hộc.
-Nếu đại tiện bế thì gia thêm: sinh đại hoàng 10g.
2.2.2. Thể khí âm lỡng h
:
+Mệt mỏi vô lực, khí đoản, loạn ngôn, gầy gò; sắc mặt nhợt nhạt, t hãn, đạo hãn,
miệng khát thích uống, tâm quí thất miên; đại tiện táo; lỡi hồng ít tân, rêu mỏng hoặc màu
xám lục, mạch huyền tế hoặc tế sác vô lực.
+ Phơng pháp điều trị: ích khí dỡng âm.
+ Phơng thuốc: Lục vị địa hoàng thang hợp với Sinh mạch tán gia giảm.
Thục địa 15g Sơn dợc 20g
Sơn thù nhục 10g Trạch tả 10g
Vân linh 15g Thái tử sâm 10 - 20g
http://www.ebook.edu.vn

30
Ngũ vị tử 10g Mạch môn đông 10g
+ Gia giảm
- Nếu sốt về chiều, đạo hãn thì gia thêm: hoàng bá 10g, tri mẫu 10g.
- Nếu mất ngủ thì gia thêm: nữ trinh tử, hạn liên thảo đều 15g.
- Nếu lng gối đau mỏi thì gia thêm: tang thầm tử, câu kỷ tử, đỗ trọng đều 10g.
2.2.3. Thể khí âm lỡng h kiêm ứ:
+Ngoài triệu chứng của khí âm lỡng h còn có thể thấy ở 50% bệnh nhân có triệu
chứng: tức ngực khí nộ; đau vùng trớc tim; đầu choáng, đau đầu thị lực giảm; chi thể tê mỏi,
bán thân bất toại; lỡi đa phần xám tía, rìa lỡi có nhiều ban điểm ứ huyết, tĩnh mạch dới
lỡi căng chớng ngoằn ngoèo; mạch tế sáp bất lợi.
+Phơng pháp điều trị: ích khí dỡng âm - hoạt huyết hóa ứ.
+ Phơng thuốc: Đào nhân thừa khí thang hợp phơng Sinh mạch tán gia
giảm:
Đào nhân 10g Hồng hoa 10g

+ Thể châm:
Âm h nhiệt thịnh dùng các huyệt: phế du, tỳ du, hợp cốc. Phế du dùng bổ pháp, còn
các huyệt khác dùng tả pháp, châm cả 2 bên, lu châm 20, cách 10 kích thích kim 1 lần, mỗi
lần châm 3 - 4 huyệt, mỗi ngày châm 1 lần; luân lu các huyệt điều trị, cứ 10 ngày là 1 liệu
trình.
- Nếu khí âm lỡng h dùng các huyệt: tỳ du, trung quản, túc tam lý, địa cơ. Trong đó:
tỳ du, túc tam lý, địa cơ dùng bổ pháp; ngoài ra ngời ta còn dùng tả pháp; kích thích vừa
phải. Nếu khí âm lỡng h kiêm ứ dùng các huyệt kể trên là chính và thêm: phế du, cách du.
- Nếu âm - dơng lỡng h thì chỉ định châm các huyệt: thận du, quan nguyên, tam âm
giao, thái khê; dùng bổ pháp.
+ Phơng pháp cứu:
-Chỉ định trong trờng hợp: cơ thể h nhợc, âm - dơng lỡng h có chiều hớng
nặng.
-Điều trị: phải thông điều tạng phủ, ích khí hoà huyết, trọng dụng các huyệt: tỳ du, thận
du, cách du, túc tam lý, tam âm giao; thờng dùng cứu cách gừng hoặc cứu mồi ngải, mỗi
ngày 2 lần, mỗi đợt 5 - 10 ngày.
3.2. Phơng pháp áp dán huyệt vị:
Dùng huyệt: phế du, tỳ du, thận du, cách du, thần khuyết.
Đem thiên hoa phấn, huyền sâm, bạch giới tử và xuyên tiêu, tất cả tán thành bột mịn
hoặc chế thành dạng cao. Khi điều trị dùng 1 lợng thuốc bột nhất định trộn với nớc gừng
sống để thành dạng sột sệt đắp dán vào những huyệt trên. Mỗi lần chọn 3 huyệt, mỗi ngày
hoặc cách ngày 1 lần, 1 tháng là 1 liệu trình.
3.3. Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Khổ qua (mớp đắng) phơi khô tán bột, chế thành viên hoặc dạng bột cho vào túi sắc
, liều uống tùy theo tình trạng bệnh, 2 tháng là một liệu trình.
+ Ngũ bội tử 3g, sắc nớc uống, mỗi ngày 2 lần (còn gọi là diêm phụ mộc).
+ Tang phiêu tiêu 60g, tán bột, hoà nớc sôi uống mỗi lần uống 10g đến khi khỏi.
+ Hoài sơn dợc 120g, tán bột hoà nớc uống mỗi lần 10g.
+ Hắc đại đậu, thiên hoa phấn, liều nh nhau; tán bột làm viên, dùng nớc sắc sâu tằm 3g,
đậu đen 20g để uống thuốc viên. Mỗi ngày từ 20g - 40g dạng viên hoàn.

Trung y Liên Ninh ,1992).
4.3. Bài thuốc Trơng Mãnh Lâm:
Sao thơng truật, sinh địa, ngọc trúc, mỗi vị đều 20 - 40g; sao bạch truật, thục địa,
huyền sâm, mỗi vị đều 15g - 30g; hoài sơn, hoàng kỳ mỗi thứ đều 30 - 50g; bắc sa sâm 30 -
40g, ngũ vị tử 15 - 25g, tang phiêu tiêu 10 - 15g; mỗi ngày 1 thang sắc 3 lần, uống từ từ kiểu
uống trà.
Bài thuốc trên đã điều trị cho 80 bệnh nhân: trớc điều trị có glucoza máu =
10,08 - 15,68 mmol/l; sau khi uống thuốc 10 thang thì glucoza máu = 5,6 - 6,72 mml/l
đợc 39 bệnh nhân; hạ đờng từ glucoza máu = 8,4 - 9,52 mml/l đợc 41 bệnh nhân,
các triệu chứng chủ yếu và đờng niệu cũng đợc khống chế (báo Dợc học Trung y,
1987).


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status