HỆ SINH DỤC NỮ
I. ĐẠI CƯƠNG:
Hệ thống sinh dục nữ có nhiệm vụ:
1. Tạo ra giao tử cái (trứng),
2. Nhận giao tử đực (tinh trùng) trước khi thụ tinh,
3. Cung cấp môi trường thuận lợi cho quá trình thụ tinh,
4. Tạo điều kiện tốt và hormon để phôi thai làm tổ,
5. Chứa và nuôi dưỡng phôi thai trong quá trình thai kỳ,
6. Tống suất
thai trưởng thành để
chấm dứt thai kỳ.
Hệ thống sinh dục
nữ rất thay đổi ở trẻ
em, người trong tuổi
sinh sản và tuổi mãn kinh. Nhìn chung, hệ sinh dục nữ bao gồm 2 buồng trứng (ovary), 2
vòi tử cung (vòi trứng- uterine tube), tử cung (uterus), âm đạo (vagina) và bộ phận sinh
dục ngoài. Trong bài này sẽ mô tả cấu tạo của tuyến vú, mặc dù đó là tuyến phụ thuộc da,
nhưng tuyến vú luôn thay đổi theo trạng thái chung của hệ sinh dục.
Buồng trứng xuất hiện ở phôi vào tuần lễ thứ 4 như một tuyến sinh dục trung tính ở
vùng mào sinh dục. Trong tuyến sinh dục trung tính này có nhiều tế bào sinh dục nguyên
thủy có nguồn gốc từ thành túi noãn hoàng và trung mô. Từ tuần thứ 6 buồng trứng hình
thành rõ rệt (biệt hóa theo hướng nữ). Vòi tử cung và tử cung phát triển từ ống cận trung
vuông đơn;
(b) màng trắng;
(c) nang trứng
nguyên thủy và
nang sơ cấp;
(d) noãn bào I;
(e) màng trong
suốt;
(f) vòng tia;
(g) lớp hạt;
(h) lớp vỏ;
(i) nang trứng
có hốc
Nang trứng nguyên thủy là những nang
trứng nhỏ nhất nằm ở vùng ngoại vi buồng
trứng. Nang trứng này có một noãn bào I và
xung quanh noãn bào có một hàng tế bào nang dẹt, tựa trên màng
đáy phân cách với các tế bào liên kết xung quanh. Noãn bào của nang trứng nguyên
thủy là tế bào lớn hình cầu với đường kính khoảng 25 micron. Nhân ít nhuộm màu
có một hạt nhân lớn. Các bào quan trong bào tương (ti thể, lưới nội bào không hạt,
bộ Golgi…) thường tập trung quanh nhân.
Nang trứng sơ cấp là giai đoạn phát triển tiếp theo của nang trứng nguyên thủy.
Lúc đầu nang trứng sơ cấp gồm một noãn bào I và một hàng tế bào nang vuông. Các
tế bào nang phát triển nhờ gián phân, tạo thành một lớp gọi là lớp hạt. Giữa lớp hạt
và tế bào trứng bắt đầu hình thành màng trong suốt ( zona pellucida )
Nang trứng thứ cấp phát triển dần làm nang trứng có
một phía. Khối tế bào đó được gọi là gò noãn. Ở gò
noãn, lớp tế bào nang nằm sát màng trong suốt trở nên cao hơn, làm cho lớp tế bào
đó có hình ảnh giống tia mặt trời và được gọi là vòng tia. Sau khi trứng thoát nang,
vòng tia vẫn tồn tại khi trôi về phía dưới. Nước nang trứng chứa đầy trong hốc nang
trứng duy nhất là một loại dịch mỏng chứa nhiều glycosaminoglycan, protein gắn
steroit, rất nhiều hormon steroid (progesteron, androgen, estrogen) và các thành phần
ion vô cơ khác. Dịch nang trứng này gồm dịch tràn từ huyết tương và sản phẩm chế
tiết của tế bào nang.
2. Sự rụng trứng:
Sự rụng trứng là quá trình vỡ nang trứng chín làm cho nước nang trứng thoát ra ngoài
và kéo theo noãn bào cùng với vòng tia. Ở người, trong mỗi chu kỳ kinh chỉ có một nang
trứng tiến tới chín và một trứng thoát ra ngoài. Trong trường hợp có 2 hoặc nhiều trứng
rụng cùng lúc được thụ tinh thì sẽ xảy ra trường hợp sinh đa thai khác trứng. Sự rụng
trứng thường xảy ra vào khoảng giữa của chu kỳ kinh, tức khoảng ngày thứ 14 trong chu
kỳ 28 ngày.
Các cơ chế gây nên rụng trứng chưa rõ ràng. Có lẽ áp lực trong nang trứng không tăng
rõ rệt trước khi rụng trứng, các sợi cơ trơn cũng không có vai trò quan trọng làm cho nang
trứng vỡ. Vào những ngày trước rụng trứng, có hiện tượng phù nề mô kẽ quanh nang
trứng, xâm nhập bạch cầu, tăng tính thấm máu – nang trứng.
Theo quan điểm hiện nay thì sự tăng cường hoạt hóa các enzym protease, như
collagenase, plasmin, làm cho mô liên kết xung quanh nang trứng dễ vỡ. Ngoài ra sự tăng
nồng độ hormon LH ở giữa chu kỳ cũng là yếu tố cần thiết cho quá trình rụng trứng.
tạo nên một lưới mao mạch phong phú giữa đám tế bào hoàng thể. Tế bào hoàng thể từ
lớp vỏ tổng hợp và chế tiết estrogen của hoàng thể.
Hoàng thể hình thành và tồn tại trong giới hạn một chu kỳ kinh (trong khoảng 15
ngày) rồi thoái hóa được gọi là hoàng thể chu kỳ. Khi không có trứng thụ tinh, hoàng thể
thoái hóa, trở thành thể trắng. Nếu thụ tinh xảy ra và có sự làm tổ thì hoàng thể được giữ
lại và tiếp tục hoạt động, đó là hoàng thể thai nghén.
III. VÒI TỬ CUNG:
Vòi tử cung dài 12 cm, là một ống dẫn trứng có phần loe ra như cái phễu gọi là loa
vòi. Loa vòi có khoảng 10 – 12 tua vòi dùng để rà quét và hứng trứng rụng dẫn vào tử
cung. Vòi tử cung chia thành 4 đoạn: phễu vòi, bóng vòi, eo vòi và phần cận tử cung.
Chức năng của vòi tử cung là dẫn trứng về phía tử cung, tạo điều kiện thuận lợi để thụ
tinh xảy ra. Các chất tiết của vòi tử cung góp phần dinh dưỡng trứng thụ tinh trong giai
đoạn đầu.
Thụ tinh thường xảy ra ở một phần ba ngoài tử cung.
Về mặt mô học, vòi tử cung được cấu tạo từ ba tầng mô: tầng niêm mạc, tầng cơ, vỏ
ngoài
1. Tầng niêm mạc:
Niêm mạc vòi tử cung có những nếp gấp dọc làm tăng diện tích bề mặt của vòi. Nếp
gấp được hình thành do lớp đệm của niêm mạc đội biểu mô nhô vào lòng vòi.
Biểu mô là biểu mô trụ đơn gồm hai loại tế bào: tế bào có lông và tế bào không lông.
Tế bào có lông là tế bào hình trụ, cực ngọn có nhiều lông chuyển điển hình có tác dụng
chuyển động theo hướng nhất định để đưa trứng về phía tử cung. Tế bào không có lông là
loại tế bào có tính chế tiết, trên cực ngọn tế bào có nhiều vi nhung mao không đều. Chất
tiết của tế bào này tạo thành một lớp dịch mỏng phủ bề mặt niêm mạc. Sự di chuyển lớp
dịch này cùng với sự co cơ vòi tử cung làm cho trứng di chuyển được về phía tử cung và
đồng thời ngăn cản không cho vi khuẩn có thể từ tử cung xâm nhập vào ổ bụng.
Lớp trong cùng và
lớp ngoài cùng chủ
yếu gồm những bó
cơ dọc. Hai lớp cơ giữa có nhiều mạch máu lớn. Rải rác có những bó cơ đan chéo giữa
các lớp cơ, làm cho cơ tử cung trở thành một khối chắc chắn. Sự sắp xếp các bó cơ như
thế góp phần giúp điều hòa lượng máu lưu thông trong chu kỳ kinh. Chiều dài tế bào cơ
trơn khoảng 50 micron, trong thai kỳ trở nên dài hơn, có thể đạt 500 micron. Nhiều tế bào
cơ trơn có thể phân nhánh và nối với nhau thành lưới.
Trong thời kỳ mang thai, cơ tử cung phát triển mạnh, tăng về số lượng nhờ phân chia
các tế bào cơ trơn cũng như sự trương to từng tế bào cơ. Nhiều tế bào cơ trơn có những
đặc điểm cấu trúc của tế bào chế tiết protein. Mô liên kết của lớp cơ giàu collagen loại I
và II. Sau giai đoạn mang thai, một số tế bào cơ trơn bị tiêu đi và các tế bào khác giảm
kích thước.
2. Nội mạc tử cung:
Nội mạc tử cung gồm hai lớp: biểu mô
và lớp đệm. Biểu mô tử cung là biểu mô trụ
đơn gồm 2 loại tế bào: tế bào có lông và tế
bào chế tiết. Tế bào có lông thường tập
trung quanh các bờ miệng của tuyến tử
cung.
Lớp đệm là lớp liên kết giàu nguyên bào sợi và chất căn bản vô định hình, sợi lưới.
Các tuyến tử cung là những tuyến ống đơn, đôi khi phân nhánh ở phần sâu gần cơ tử
cung. Biểu mô của tuyến tử cung rất ít tế bào có lông. Tình trạng phân bố mạch ở lớp đệm
phụ thuộc vào chu kỳ kinh nguyệt.
Nội mạc thân tử cung và eo tử cung chia làm 2 lớp: lớp chức năng bên trên bong ra và
tái tạo trong chu kỳ kinh, lớp đáy ở dưới, ít biến đổi, không bong ra, là lớp bảo đảm sự tái Trong buồng trứng có một nang trứng tiếp tục phát triển và chín vào ngày thứ 13 -14. Cần
chú ý rằng trong buồng trứng phụ nữ có các nang trứng ở giai đoạn tiến triển khác nhau
và nang trứng chín có thể phát triển bắt đầu từ nang trứng có hốc.
Kỳ trước kinh còn gọi là kỳ chế tiết hoặc kỳ chức năng hoặc kỳ hoàng thể. Vào ngày
cuối của kỳ sau kinh nang trứng chín vỡ và trứng thoát nang ra ngoài, bắt đầu kỳ trước
kinh. Trong kỳ trước kinh ở nội mạc tử cung có những biến đổi quan trọng nhằm chuẩn bị
để đón phôi đến làm tổ. Nội mạc tử cung trở nên dày hơn, đạt 5 mm, do lớp đệm và tuyến
tử cung phát triển, tích lũy chất tiết làm phù nề nội mạc. Các tuyến trở nên cong queo, các
tế bào tuyến bắt đầu tích lũy glycogen, sau đó chế tiết vào lòng ống, làm cho lòng ống nở
rộng ra. Càng về sau, tế bào biểu mô có lông ngày càng ít, ngược lại, tế bào chế tiết ngày
càng nhiều. Ở lớp đệm gần bề mặt, nhiều tế bào liên kết sinh sản và có hoạt động tích lũy
glycogen trong bào tương, làm cho chúng trở nên đa diện, đứng sát nhau kiểu biểu mô.
Các tế bào đó được gọi là tế bào rụng. Mạch máu chia nhánh nhiều, tạo nhiều mao mạch.
Vào cuối kỳ trước kinh, mao mạch trương lên, tính thấm thành mạch tăng làm cho nội
mạc phù nề, rồi ứ máu đưa đến xuất huyết cục bộ. Trong buồng trứng, nang trứng còn lại
sau khi noãn đã thoát nang bắt đầu biến đổi để hình thành hoàng thể. Nếu không có thụ
tinh thì hoàng thể sẽ thoái hóa vào đầu chu kỳ sau, còn nếu có trứng làm tổ thì hoàng thể
được giữ lại, phát triển và chế tiết progesteron, estrogen.
2. Quan hệ hormon sinh dục:
Tất cả chức năng sinh sản và biến đổi của các cơ quan sinh dục nữ đều được điều hòa
bởi hormon. Hypothalamus chế tiết một số polypeptit đặc biệt có tác dụng lên thùy trước
tuyến yên làm cho những tế bào tuyến của thùy này tổng hợp và giải phóng những
dần teo đi và biến mất ở những phụ nữ sinh nhiều lần. Thành trước và thành sau của âm
đạo còn có 2 nếp gấp dọc ở gần đường giữa, gọi là cột âm đạo.
Biểu mô âm đạo là biểu mô lát tầng không sừng hóa dày 150 – 200 micron (phần (a)
trong hình). Mặc dù có một ít keratohyalin nhưng quá trình keratin hóa thật sự không xảy
ra nên không tạo các lá sừng điển hình. Dưới tác dụng của estrogen, biểu mô âm đạo tổng
hợp và tích lũy một lượng glycogen đáng kể, tích tụ trong lòng âm đạo khi các tế bào bề
mặt bong ra. Glycogen được vi khuẩn chuyển hóa và tạo thành acid lactic, do đó pH âm
đạo thường thấp (acid), có tác dụng diệt khuẩn, bảo vệ thành âm đạo.
Có thể nghiên cứu mô học biểu mô âm đạo bằng phết tế bào. Trong các tiêu bản phết
tế bào ta phân biệt được 5 loại tế bào đại diện cho 5 lớp biểu mô:
Lớp đáy sâu (C1)
Lớp đáy ngoài (C2)
Lớp trung gian (C3)
Lớp hạt (C4)
Lớp bề mặt (C5)
Hình ảnh cấu tạo của các tế bào biểu mô âm đạo thay đổi rõ rệt trong chu kỳ kinh và
có thể sử dụng để xác định chu kỳ kinh, giai đoạn rụng trứng và chẩn đoán tình trạng
bệnh lý cơ quan này (viêm nhiễm, rối loạn nội tiết, ung thư …).
Lớp đệm là mô liên kết giàu sợi chun, tế bào sợi, bạch cầu trung tính và lympho bào.
Các bạch cầu có thể lọt vào lòng âm đạo. Lớp đệm âm đạo không có tuyến nhưng mạch
rất phong phú, nên khi có kích thích sinh dục thì vẫn có hiện tượng thoát dịch, rỉ qua biểu
mô vào lòng âm đạo.
Lớp cơ gồm những bó cơ trơn xếp dọc và xếp vòng.
Lớp vỏ ngoài là mô liên kết giàu sợi chun.
VII. BỘ PHẬN SINH DỤC
NGOÀI:
sữa có quan hệ mật thiết với chức năng sinh sản và biến đổi trong quan hệ chặt chẽ với cơ
quan sinh dục, nên thường được mô tả trong phần sinh dục nữ.
Ở người nữ trưởng thành, mỗi tuyến vú cấu tạo từ 15 -25 thùy (như những tuyến riêng
lẻ). Các thùy (lobules) đó được phân cách bởi mô liên kết thưa và mô mỡ (subcutaneous
fat) phong phú. Những tuyến này có cấu tạo kiểu túi phức tạp (còn gọi là kiểu chùm nho)
và được chia thành nhiều thùy. Tuyến vú chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ trong thời gian
mang thai và cho con bú.
Các nang tuyến
là nơi sinh sữa, có
dạng túi tròn hoặc
hơi dài. Các tế bào
chế tiết (lactocyte)
có dạng hình tháp
hoặc hình trụ, tựa
trên màng đáy. Bên ngoài màng đáy là những tế bào cơ biểu mô có nhiều nhánh bào
tương tạo thành giỏ ôm lấy nang tuyến (giống tuyến nước bọt, tuyến mồ hôi). Mỗi nang
tuyến có ống bài xuất nhỏ, các ống bài xuất đó tập trung thành ống bài xuất trong tiểu
thùy . Nhiều ống bài xuất trong tiểu thùy tập trung về ống bài xuất gian tiểu thùy (Lobular
ducts within mammary tissue). Nhiều ống bài xuất gian tiểu thùy tập trung thành ống dẫn
sữa (Lactiferous duct). Mỗi ống dẫn sữa tương đương với một thùy. Ở chân núm vú, các
ống dẫn sữa phình ra tạo thành xoang dẫn sữa (Lactiferous sinuses) và mở ra trên bề mặt
núm vú bằng các lỗ (duct orifices) có kích thước 0,5 mm.
Núm vú (nipple) là phần da dày lên, có dạng hình nón. Biểu bì ở núm vú chứa nhiều
melanin, làm cho núm vú có màu hồng, nâu nhạt hoặc nâu đậm. Nhú chân bì khá dày và
thường phân nhánh, trong đó có nhiều tận cùng thần kinh, do đó dễ tạo phản xạ tiết sữa do
động tác mút sữa của đứa trẻ. Da xung quanh núm vú tạo thành quầng vú (areola) có màu B. Biểu mô trụ có lông giả
C. Biểu mô gồm tế bào trụ có lông chuyển điển hình
D. Biểu mô có tế bào không có lông với vi nhung mao liên tục
E. Tầng niêm mạc, tầng cơ