VIỆT NAM TRONG HƠN MỘT NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM (9/1945 - 12/1946)
II- Bước đầu công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng
Ngay sau khi trở về thủ đô Hà Nội, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã
đề ra phương hướng, biện pháp xây dựng chế độ mới và đối phó các lực
lượng ngoại xâm. Ngày 28-8-1945, Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt
Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà. Một số đảng viên cộng sản, kể cả Tổng Bí thư Trường Chinh trong
Uỷ ban Dân tộc giải
phóng đã tình nguyện rút lui, nhường chỗ cho một số nhân sĩ yêu nước,
tiến bộ tham gia Chính phủ. Thành phần Chính phủ lâm thời gồm có 13
Bộ và 15 vị Bộ trưởng, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao. Về nguyên tắc, Chính phủ lâm thời tiếp thu bộ máy nhà
nước cũ, đổi mới một số bộ phận, còn lại thì chuyển sang phục vụ chính
quyền mới. Chính quyền các cấp từ Trung ương xuống đến huyện, xã,
quân đội và cảnh sát được thay đổi cho phù hợp với chính thể mới là nền
dân chủ cộng hoà. Nhà nước ban bố Sắc lệnh (số 41/SL ngày 3- l0-1945)
bãi bỏ tất cả các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương và sáp
nhập vào các Bộ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ máy
các ngành được sắp xếp lại, nhưng hầu hết các nhân viên vẫn tiếp tục
công việc như trước. Ở các địa phương, bộ máy chính quyền cũ bị xoá
bỏ, Uỷ ban nhân dân cách mạng là bộ máy chính quyền mới với lãnh
đạo mới. Hầu hết các cơ quan, các ngành đều giữ nguyên, hoạt động
dưới sự điều hành của Uỷ ban nhân dân cách mạng.
Ngoài những cơ sở đã có sẵn của hệ thống nhà nước cũ, sau Cách mạng
tháng Tám, yêu cầu xây dựng chế độ mới đòi hỏi phải có những tổ chức
mới. Ở Trung ương có các Uỷ ban Quỹ Độc lập, Tuần lễ vàng giải quyết
vấn đề tài chính; Tiểu ban Canh nông lo việc khai hoang, phục hoá; Uỷ
Quốc, Việt Cách đòi phải lập lại Chính phủ, đòi xoá bỏ chế độ Uỷ ban
nhân dân Những kẻ cầm đầu Việt Quốc đòi giữ 1/3 số ghế trong Quốc
hội và đòi giữ các Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo
dục, Bộ Thanh niên. Họ yêu cầu Việt Minh cũng chỉ được giữ 1/3 số ghế
trong Quốc hội. Mặt trận Việt Minh và Chính phủ lâm thời một mặt kiên
quyết bác bỏ các yêu cầu phi lí của Việt Quốc, Việt Cách; mặt khác kiên
trì và khôn khéo tiến hành các cuộc hoà giải, thương lượng, nhân
nhượng nhằm tạo bầu không khí ổn định để tiến hành cuộc Tổng
tuyển cử thành công. Đại diện của Mặt trận Việt Minh tiến hành nhiều
cuộc tiếp xúc với đại diện của Việt Quốc, Việt Cách và đã đi tới những
cam kết có tính nguyên tắc trên tinh thần hợp tác, đoàn kết nhằm thực
hiện quyền độc lập, ủng hộ Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Các bên cũng
thoả thuận chấm dứt sự công kích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm
thời, chấp nhận để 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử cho Việt
Quốc, Việt Cách. Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính
phủ liên hiệp lâm thời, trong đó có thêm một số thành viên của Việt
Quốc, Việt Cách. Chính phủ liên hiệp lâm thời và Việt Minh tiếp tục
triển khai công việc chuẩn bị Tổng tuyển cử với phương châm thực hiện
đại đoàn kết thống nhất dân tộc.
Ngày 6-1-1946, toàn dân Việt Nam, trong tư thế người là chủ, nô nức
tham gia cuộc Tổng tuyển cử. Trong điều kiện thù trong, giặc ngoài ra
sức chống phá, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thực sự là một cuộc
đấu tranh gay go, quyết liệt để xác lập quyền làm chủ của nhân dân. Tại
miền Nam, trừ tỉnh Tây Ninh không tổ chức được bầu cử do chiến sự
quá ác liệt, nhân dân ta phải vượt qua bom đạn địch để đi bỏ phiếu.
Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã phải hi sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng
tuyển cử.Tại miền Bắc, ở những nơi có quân Tưởng chiếm đóng, các
đảng phái phản động đe doạ, khủng bố những người đi bỏ phiếu; có nơi
chúng xông vào cướp hòm phiếu.
thứ nhất tại Nhà hát lớn Hà Nội. Do tình thế đặc biệt cần phải nhân
nhượng, Quốc hội biểu quyết tán thành đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là mở rộng thêm 70 đại biểu của Việt Quốc, Việt Cách không qua
bầu cử, theo như sự thoả thuận giữa Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách
ngày 23-12-1945. Quốc hội khẳng định thành tích của Chính phủ lâm
thời trong thời gian đầu xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Đồng thời, Quốc hội quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng
chiến gồm 10 Bộ, do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Nguyễn Hải
Thần làm Phó Chủ tịch. Kì họp thứ nhất Quốc hội khoá I đã bầu Ban
Thường trực Quốc hội (gồm 15 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự
khuyết), do Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, Phạm Văn Đồng và Cung
Đình Quỳ (Việt Quốc) làm Phó ban; Cố vấn đoàn do cố vấn tối cao
Nguyễn Vĩnh Thụy đứng đầu; Kháng chiến uỷ viên Hội do Võ Nguyên
Giáp làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch. Quốc hội cũng
bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng
ban. Bộ máy Nhà nước ở Trung ương được hoàn thiện và củng cố một
bước, có đầy đủ uy tín hiệu lực để lãnh đạo nhân dân tham gia kháng
chiến, kiến quốc, thực hiện mọi chức năng đối nội và đối ngoại. Tại kì
họp đầu tiên (4- 3-1946), Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã quyết định
một số chính sách đối nội và đối ngoại:
Về đối nội:
1- Các đảng phái chặt chẽ đoàn kết, ngôn luận, hành động nhất trí để
phụng sự quốc gia.
2- Sinh mệnh và tài sản của tất cả công dân Việt Nam và kiều dân ngoại
quốc được hoàn toàn bảo đảm.
3- Hành chính và quân đội phải thống nhất về tài chính, kinh tế tập
phủ mới và bầu Ban Thường trựcQuốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh được
Quốc hội uỷ nhiệm đứng ra thành lập Chính phủ mới theo nguyên tắc
đoàn kết và tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái. Người tuyên bố
trước Quốc hội: “Lần này là lần thứ hai mà Quốc hội giao phó cho tôi
phụ trách Chính phủ một lấn nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa
được thống nhất thì bất kì Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng
sức mà làm. Tôi xin nhận"; "Chính phủ sau đây phải là một chính phủ
toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái. Tôi xin tuyên bố
trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng -
Đảng Việt Nam", "Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm
khiết, một chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm để vào mục
đích: Trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của
nước
nhà".
Ngày 3-11-1946, Quốc hội biểu quyết tán thành chính phủ mới do Hồ
Chí Minh thành lập, gồm có 14 thành viên. Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ngày 9-11-1946, Quốc hội thông qua
bản Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đó là "bản hiến pháp
đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp còn là một vết tích lịch
sử đầu tiên trong cõi Á Đông Bản hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng
nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với
thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi
quyền tự do , phụ nữ Việt Nam đãđược ngang hàng với đàn ông để
được hưởng chung mọi quyền tự do đó của một công dân. Hiến pháp đó
đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và
một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp".
Hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân ở các địa phương cũng được
củng cố và kiện toàn từng bước. Trong một thời gian ngắn sau ngày
sự, tìm sắm vũ khí diễn ra sôi nổi. Các đội tự vệ ra đời từ trong phong
trào toàn dân chuẩn bị khởi nghĩa và là lực lượng xung kích của toàn dân
nổi dậy giành chính quyền thời kì Tổng khởi nghĩa tháng Tám, nay được
củng cố và mở rộng, đã trở thành công cụ sắc bén để bảo vệ chính quyền
cách mạng ở cơ sở. Các đơn vị Việt Nam giải phóng quân thành lập trên
cơ sở thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc
quân (5-1945), đã được chấn chỉnh, mở rộng và nay đổi thành Vệ quốc
đoàn (9-1945)1. Đây là đội quân chính quy của Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà. Các đơn vị bảo an binh bị giải thể. Ngày 15-9-1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Ngành Quân giới và tháng 10-
1945, thành lập các chiến khu IV, III2. Tháng 12-1945, Uỷ ban Kháng
chiến miền Nam ra đời. Tháng 1-1946, Quân uỷ Trung ương được thành
lập để giúp Trung ương Đảng lãnh đạo công tác quân sự. Tất cả các khu
phố, thôn, xã đều thành lập các đơn vị tự vệ và tự vệ chiến đấu. Trên cơ
sở đó, những chiến sĩ có giác ngộ chính trị, có tinh thần chiến đấu được
tuyển chọn để bổ sung cho các đơn vị bộ đội tập trung. Dù vũ khí trang
bị thô sơ và thiếu thốn, kinh nghiệm chiến đấu còn ít, nhưng đây là đội
quân cách mạng của công - nông, có sức chiến đấu rất cao. 2- Về kinh tế - tài chính
Một trong những nhiệm vụ cấp bách trước mắt của chính quyền cách
mạng sau khi thành lập là phải nhanh chóng đẩy lùi nạn đói, từng bước
ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Giải quyết nạn đói không chỉ có
ý nghĩa về kinh tế, mà còn bao hàm ý nghĩa chính trị rất sâu sắc. Trong
phiên họp đầu tiên (3-9-1945), Hội đồng Chính phủ lãm thời đã bàn biện
pháp chống đói. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị nhiều biện pháp (tổ chức
lạc quyên, lập hũ gạo cứu đói ) và kêu gọi đồng bào cả nước nhường
cơm sẻ áo. Người nói:
Thái Bình) được bồi đắp lại. Giai cấp công nhân, các đơn vị bộ đội, cán
bộ, viên chức Nhà nước, học sinh, trí thức, công, thương gia tự nguyện
tổ chức thành từng đoàn, từng đội đi về nông thôn giúp nông dân đắp đê
phòng lụt, khai hoang, phục hoá.
Để tạo điều kiện cho nông dân đẩy mạnh sản xuất, chính quyền cách
mạng tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho nông dân
nghèo, chia lại ruộng công theo nguyên tắc công bằng và dân chủ; ra
thông tư giảm tô 25%; miễn thuế ruộng đất đối với các vùng bị lụt và
vùng có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ cùng các loại ruộng đất
hoang, hoá mới được khai phá gieo trồng; ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và
các thứ thuế vô lí khác. Ban Khuyến nông cũng được thành lập ở Trung
ương và địa phương để tổ chức giúp đỡ nông dân khắc phục khó khăn về
giống, vốn, nông cụ, sức kéo; hướng dẫn nông dân về kĩ thuật canh tác.
Nhờ những biện pháp tích cực trên đây, sản xuất nông nghiệp nhanh
chóng được khôi phục và có mặt phát triển hơn trước. Năm 1945, dù bị
trận lụt lớn, nhưng diện tích lúa mùa ở Bắc Bộ vẫn đạt được 890.000 ha,
sản lượng đạt 1.155.000 tấn (năm 1943 là 952.730 tấn và năm 1944 là
832.000 tấn).