VIỆT NAM TRONG HƠN MỘT NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM (9/1945 - 12/1946)
Các tỉnh Nam Bộ củng cố lại lực lượng vũ trang, tăng cường trang bị vũ
khí, xây dựng căn cứ để kháng chiến lâu dài. Đầu tháng 2-1946, sau khi
được tăng viện binh, thực dân Pháp gấp rút chiếm đóng vùng nông thôn
Nam Bộ. Chúng mở hàng loạt cuộc hành quân "bình định" trên các khắp
các tỉnh Nam Bộ. Lực lượng của ta bị tổn thất nhiều, chính quyền và
đoàn thể Cứu quốc ở nhiều nơi bị tan vỡ. Trên các vùng chiếm được,
quân địch chia thành các chiến khu, đóng đồn bốt, khống chế hoạt động
chống đối của nhân dân. Vừa hành quân chiếm đóng các vùng đất của ta,
thực dân Pháp vừa ráo riết xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn. Ngay từ
tháng 10-1945, Xêđi âm mưu lập một hội đồng tư vấn gồm 80 người và
giao cho Nguyễn Văn Thinh vận động các nhà trí thức tham gia, nhưng
không thành công. Phần đông trí thức tỏ thái độ bất hợp tác với Pháp.
Đến tháng 2-1946, Xêđi mới lập được hội đồng tư vấn gồm 12 thành
viên là người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp. Ngoài ra, thực
dân Pháp còn tiến hành tuyển quân, tập hợp bọn tay sai để thành lập
chính quyền bù nhìn ở các thị trấn, thị xã. Chúng tìm cách lôi kéo một số
người trong các đạo Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên Chúa và cả lực lượng
Bình Xuyên để chống lực lượng kháng chiến. Ngày 5-3-1946, quân
Anh bàn giao lại toàn bộ địa bàn và vũ khí, trang bị cho quân Pháp, rút
khỏi miền Nam.
Trong lúc nhân dân Nam Bộ kháng chiến thì tại Nam Trung Bộ, mọi
công việc chuẩn bị để kháng chiến cũng được xúc tiến rất khẩn trương
Theo quyết định của Hội nghị quân sự do Xứ uỷ và Uỷ ban nhân dân
Trung Bộ triệu tập cuối tháng 9-1945, Uỷ ban quân chính Nam phần
Trung Bộ được thành lập để chỉ huy 7 tỉnh mặt trận phía nam. Lực lượng
quân sự các tỉnh từ Quảng Ngãi trở ra được điều động vào Nam Trung
Bộ. Các cơ sở kinh tế, quốc phòng quan trọng ở các tỉnh cực Nam Trung
cuộc kháng chiến, tiêu diệt được hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí.
Tuy nhiên, trước sự tấn công mạnh gấp nhiều lần của địch, để bảo toàn
lực lượng, các đơn vị bộ đội các tỉnh cực Nam Trung Bộ đã phải tạm
thời rút ra khỏi các thị xã, thị trấn và một số trục đường giao thông lớn.
Tại các vùng nông thôn ở Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, chính
quyền cách mạng, các đoàn thể Cứu quốc và lực lượng vũ trang của ta
vẫn làm chủ.
Như vậy, 5 tháng kháng chiến (từ tháng 9-1945 đến tháng 2- 1946) là 5
tháng đầy thử thách gian khổ đối với quân và dân ta ở miền Nam, đối
với cả dân tộc và chế độ mới. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân
ta ở miền Nam tuy phải trải qua gian lao và tổn thất, nhưng đã tích luỹ
được nhiều kinh nghiệm chiến đấu, gây dựng được phong trào chiến
tranh du kích, xây dựng
lực lượng, góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều
kiện cho cả nước chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. b) Hoà hoãn, nhân nhượng với quân Tưởng ở miền Bắc
Trong hoàn cảnh phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực
dân Pháp ở miền Nam, sự uy hiếp lật đổ chính quyền của quân Tưởng và
tay sai ở miền Bắc và trên cơ sở khẳng định thực dân Pháp là kẻ thù
chính, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ: "Phải
tránh các trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh
tràn vào nước ta". Mũi nhọn của cách mạng lúc này là tập trung đối phó
với thực dân Pháp ở miền Nam, do đó chúng ta phải tạm thời hoà hoãn,
tránh xung đột với quân Tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Đứng
trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống
còn, hoạt động và phát triển Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết.
(phụ trách các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, canh nông, xã hội). Đồng
thời nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi kinh tế, như cung cấp
một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải, nhận
tiêu tiền Quan Kạn, Quốc tệ ở Việt Nam.
Sự nhân nhượng về chính trị trên đây thể hiện một yêu cầu cơ bản là giữ
vững sự tồn tại của một chính quyền của dân, do dân và vì dân, một
chính quyền của sự hoà giải, đoàn kết thống nhất quốc gia dân tộc thực
hiện tư tưởng độc lập tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh với khẩu hiệu
hành động cấp bách là Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Sự nhân
nhượng đó là cần thiết, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những hoạt
động chống phá cách mạng của quân Tưởng và tay sai. Trong khi thực
hiện hoà giải, nhân nhượng, thông qua công cụ báo chí, thông tin tuyên
truyền, dựa vào sức mạnh quần chúng, chúng ta kiên quyết vạch trần và
ngăn chặn những hành động chia rẽ, phản dân hại nước của các lực
lượng tay sai của Tưởng. Những kẻ phá hoại (có đủ bằng chứng) thì bị
trừng trị theo pháp luật. Chính phủ còn ban hành một số sắc lệnh nhằm
trấn áp bọn phản cách mạng: Sắc lệnh ngày 5-9-1945 giải tán Đại Việt
quốc gia xã hội đảng và Đại Việt quốc dân đảng (là những đảng phản
động, tay sai của phát xít Nhật); Sắc lệnh ngày 12-9-1945 cho an trí
những người nguy hiểm đối với nền Cộng hoà dân chủ Việt Nam; Sắc
lệnh lập toà án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng.
Thực hiện những biện pháp sách lược nhân nhượng trên đây đã hạn chế
và vô hiệu hoá đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân
Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng
của chúng. Cũng nhờ đó, chúng tamới có điều kiện tập trung lực lượng
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam.
Đúng như dự đoán của Ban Thường vụ Trung ương Đảng: "Trước sau
Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là
Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng"1, ngày 28-2-1946,
Hiệp ước Hoa - Pháp được kí kết ở Trùng Khánh. Theo Hiệp ước này,
Pháp được quyền thay quân đội Tưởng vào miền Bắc Đông Dương để
giải giáp quân đội Nhật. Ngược lại Pháp nhường cho Tưởng một số
quyền lợi về kinh tế, chính trị, như trả lại các tô giới và nhượng địa của
Pháp trên đất Trung Quốc, nhượng cho Tưởng một "khu đặc biệt" để tự
do buôn bán và có quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải Phòng, bán
cho Tưởng đoạn đường sắt từ Hồ Kiều đến Côn Minh (thuộc tuyến
đường sắt Hà Nội - Vân Nam), những kiều dân Trung Quốc ở Đông
Dương được hưởng nhiều quyền lợim đặc biệt.
Cùng thời gian trên, từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1946, giữa đại diện
Chính phủ Pháp và Việt Nam đã có những cuộc gặp gỡ. Tháng 11-1945,
đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hoàng Minh Giám đã
tiếp xúc với phía Pháp và lập trường của Chính phủ Việt Nam được xác
định qua bức giác thư ngày 12-11 như sau:
l- Nước Pháp sẽ thừa nhận không chậm trễ nền độc lập toàn vẹn của
Việt Nam;
2- Chính phủ Việt Nam sẽ thực thi những biện pháp bảo vệ uy tín nước
Pháp và sẽ có những nhượng bộ với Pháp về phương diện kinh tế và văn
hoá;
3- Nhằm tạo ra được một không khí thuận lợi cho việc đàm phán, các
nhà chức trách Pháp sẽ cho chấm dứt ngay những chiến sự ở Nam Bộ và
trong suốt thời gian của cuộc đàm phán, ngưng vận chuyển đến Đông
Dương quân đội và vũ khí".
Trong cuộc gặp Giăng Xanhtơni (Jean Sainteny) ngày 25-2- 1946, Chủ
mà chủ trương cho đúng ".
Nếu chấp nhận cuộc chiến đấu với Pháp lúc này, chúng ta sẽ gặp nhiều
bất lợi lớn. Về chính trị, ta có khó khăn vì hoạt động chia rẽ của bọn
phản động. Về quân sự, Pháp có thêm lực lượng và chiếm được nhiều
nơi; cuộc kháng chiến ở Nam Bộ gặp khó khăn. Về kinh tế, vấn đề tiếp
tế lương thực không bảo đảm. Về quốc tế, Liên Xô và các lực lượng dân
chủ chưa có điều kiện trực tiếp giúp ta Chấp nhận hoà hoãn, nhân
nhượng với Pháp cũng có những bất lợi khác: Thực dân Pháp lợi dụng
hoà hoãn để phát triển lực lượng và sau đó bội ước đánh ta. Bọn phản
động lợi dụng việc kí kết mà vu cáo ta là "bán nước". Nhưng thực hiện
giải pháp này, ta sẽ phá tan được âm mưu của Tưởng và tay sai đẩy ta
vào thế bị cô lập; đồng thời giành được thời gian chuẩn bị cho cuộc
chiến đấu mới.
Ngày 5-3-1946, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(tại làng Canh, Hà Đông) nhất trí tán thành chủ trương Hoà để tiến của
Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Chiều 6-3-1946, sau nhiều lần
thương lượng, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kí với G.
Xanhtơni (J.sainteny) - đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp bản Hiệp
định Sơ bộ, đặt cơ sở cho cuộc đàm phán giữa hai bên để đi đến mộthiệp
định chính thức.
Theo Hiệp định Sơ bộ:
Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một
quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp; có chính phủ, nghị viện, quân
đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu dân ý
quyết định. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý cho 15.000
trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt. Ai xâm phạm đến tính mạng,
tài sản của quân đội Trung Hoa sẽ bị nghiêm trị"1. Ngày 9-3-1946, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị Hoà để tiến, vạch rõ lí do vì
sao ta kí với Pháp
Hiệp định Sơ bộ và đề ra những việc cần làm sau khi Hiệp định được kí
kết:
1- Giải thích ý nghĩa Hiệp định, chống mọi nhận thức và tư tưởng sai
lệch đối với việc kí kết.
2- Chuẩn bị kháng chiến lâu dài, đề phòng Pháp bội ước.
3- Đấu tranh với Tưởng, đề phòng chúng cố tình kéo dài thời hạn đóng
quân trên miền Bắc.
4- Đề phòng các đảng phái phản động xuyên tạc và phá hoại.
5- Chỉ đạo miền Nam gây dựng lại cơ sở đã mất và cổ động phong trào
đòi thống nhất Bắc - Trung - Nam.
Trong khi đó, thực dân Pháp sớm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định. Ngày
9-3-1946, quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng và đóng trái phép ở Bến Bính.