CÁC BÀI GI
ẢNG NGOẠI KHOA
Y3C: 06 - 12
46
BỎNG –BỆNH ÁN BỎNG
Thầy Phúc
BỆNH ÁN
“Bệnh nhân nam 23 tuổi, vì cháy nhà nên bệnh nhân cuốn chăn xung quanh mình và lao
vào cứu. Bị bỏng, bệnh nhân lao vào 1 giếng nước và ngâm mình trong đó trong 30 phút.
Sau đó bệnh nhân được người nhà chuyển trực tiếp đến bệnh viện trung ương Huế sau
1h30 phút.
Ghi nhận tại khoa cấp cứu:
- Bệnh nhân tỉnh táo tiếp xúc tôt.
- Kêu đau dữ dội.
- Cảm giác khác nước.
- Bỏng toàn thân, độ III, IV diện tích khoảng 90%.
Tại phòng cấp cứu, bệnh nhân được lập 1 đường truyền rồi chuyển lên khoa hồi sức và
nằm ở đó 9ngày, rồi chuyển xuống khoa bỏng cách đây 4 ngày.
Ghi nhận tại khoa bỏng:
- Toàn thân:
o Bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt.
o Ăn uống được, lượng nước tiểu bình thường, không thiểu hay vô niệu.
o Không ghi nhận được dấu hiệu sống
o Bệnh nhân còn đau nhiều, cảm giác lạnh.
- Thực thể:
o Bỏng toàn thân. Tại 1 số vị trí: mu tay, cẳng chân, ngực, bụng đã bắt đầu
mọc lông và hình thành mô hạt. khu vực 2 bên mạn sườn thì có các nốt
o Bỏng 2 bên mạn sườn: độ 4, diện tích 3%.
o Bỏng ở đùi, mặt, bàn chân, cổ, gáy: độ 2, diện tích: 20%.
o Hoặc có thể vẽ hình ra và chỉ rõ độ bỏng cũng như diện tích.
- 1 chẩn đoán của bỏng bao gồm:
o Tác nhân + độ + diện tích + vùng.
o Ví dụ: đối với bệnh nhân trên, “Bỏng nhiệt khô độ III diện tích 50% vùng chi
trên, bụng, ngực, lưng, cẳng chân”/
- Việc khai thác tác nhân gây ra bỏng chưa được hỏi kỹ, chỉ biết đó là bỏng nhiệt khô,
chưa khai thác thời gian tiếp xúc bỏng vì đó là thứ ta có thể dựa vào để đánh giá mức
độ nặng nhẹ, chưa khai thác sau đó bao lâu thì bệnh nhân lao vào giếng nước, vì nếu
để quá 45phút thì chẳng có ý nghĩa gì.
- Trong thời gian tại khoa hồi sức, nếu có thể thì cũng hỏi diễn tiến ở đó, giai đoạn
trước ngày thứ 3, bệnh nhân có thể bị shock bỏng, sau ngày thứ 3 đó là giai đoạn
nhiễm độc bỏng cấp do các vêt tì đè và hấp thu các chất độc từ tổ chức hoại tử.
- Chú ý phần ghi nhận tại khoa bỏng, ghi rõ từ toàn thân, rồi cơ năng và thực thể trong
đó phần mô tả vết bỏng về tiến triển, mô tả như trên là tạm được.
2. Đánh giá độ bỏng:
a. Chúng ta thường khó đánh giá độ bỏng khi gặp 1 bệnh nhân vào viện đã lâu
ngày, không gặp được bệnh nhân lúc mới vào viện, những vết thương hầu như
đã khô. Nhưng cũng có thể đánh giá sơ bộ được như sau:
b. Phải khai thác nhiều yếu tố khác nhau, có thể chẩn đoán khi vào viện cũng
chưa chắc đúng, phải theo dõi thêm mới có thể đưa ra chẩn đoán chính xác:
i. Khai thác tác nhân gây bỏng và cách sơ cứu tại chỗ
1. Cần khai thác cụ thể và tính chất tác nhân gây bỏng là gì:
a. Bỏng ướt: ví dụ bỏng do bình thủy chứa nước nóng thì
phải khai thác nứơc đó đã dự trữ bao lâu, để đưa ra tiên
lượng về độ sâu của bỏng.
b. Hóa chất: cần khai thác rõ hóa chất là gì? Ví dụ nghe
tới H2SO4 thì phải tiên lượng đó là 1 bỏng rất sâu,
nghe tới dấm thì nhẹ hơn.
khi bị bỏng không?
i. Dùng kem đánh răng, ruốt, mắm??? Không
thích hợp. Phải khai thác để có thể rửa sạch,
tránh nguy cơ nhiễm trùng.
ii. Dùng Pentanol, Pulvo: là 2 loại thuốc được chế
sẵn để xịt vào vị trí bỏng, có tác dụng rất tốt
trong hạn chế độ sâu của bỏng, giảm đau tạm
thời, trung hòa tác nhân gây bỏng. Tuy nhiên
cũng phải khai thác bệnh nhân xịt có đúng
không, vì đó là dịch được nén dưới áp lực cao,
nên phải để cách 25cm
ii. Khai thác tổn thương bệnh lý hiện tại:
iii. Mô tả tiến triển của bỏng – ta có thể dựa vào tiến triển để dự đoán
độ bỏng mà không cần phải có mặt lúc bệnh nhân vào viện
1. Khai thác rõ tiến triển của bệnh nhân khi vào viện, khi nằm tại
khoa hồi sức, và hiện tại, có ý nghĩa rất tốt để ta tiên lượng cho
bệnh nhân.
2. Đánh giá độ bỏng dựa vào tiến triển, ví dụ như trên bệnh nhân
này, đã nằm viện 13 ngày.
a. Những khu vực nào đã lên da non, hầu như gần lành
rồi: thì chỉ có thể là độ I, II mà thôi.
b. Những khu vực nào hiện tại đang hình thành mô hạt,
nhìn lấy các lỗ chân lông, da hồng: đó là độ III.
CÁC BÀI GI
ẢNG NGOẠI KHOA
Y3C: 06 - 12
49
ii. Những đám hoại tử khô, ướt cần cắt lọc để tránh nhiễm độc bỏng cấp.
iii. Nếu có sự hiện diện của Pseudomonas: sử dụng kháng sinh Nitrate bạc
(sulfadiazine), nhưng không sử dụng 1 cách hệ thống, khi nào có
Pseudomonas mới sử dụng.
e. Hướng sử trí chung:
i. Che phủ: tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và các loài vi sinh vật khác.
ii. Ủ ấm: do bệnh nhân phải cởi hết áo quần và nằm trong phòng lạnh để
tránh sự nhân lên của vi khuẩn.
iii. Vùng thiếu da: Ghép da sớm cho bệnh nhân:
1. Ghép da mỏng: lấy da ở đùi, lấy theo cảm giác