Chương ba
NGOẠI GIAO TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC THỜI TRẦN
(thế kỷ XIII) – phần 3
III. ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ ĐỂ ĐÁNH
THẮNG XÂM LƯỢC
Bọn vua chúa, tướng lĩnh Nguyên tuy cuồng chiến, tàn bạo, nhưng vẫn phải thận trọng
trước sức mạnh và ý chí kiên cường của quân dân ta. Khi được lệnh xuất phát, chủ tướng
Nguyên cho ngay sứ sang ta dọa dẫm để thăm dò thái độ. Sứ Nguyên đem thư sang đòi
vua Trần phải chở quân lương sang Chiêm Thành cho quân Nguyên, và khi Trấn Nam
vương Thoát Hoan đưa quân tới gần biên giới nước ta thì ta phải lên đón. Nhưng hắn đã
không được đáp lại như ý muốn.
Mới đi tới Hồ Nam, tức là còn rất xa biên giới nước ta, quân Nguyên đã được tin triều
đình nhà Trần cho quân lên tăng cường phòng thủ biên giới, chứ không phải vua Trần lên
biên giới để chờ đón chúng. Cũng vào lúc đó, sứ bộ nhà Nguyên sang Đại Việt trở về tới
Hồ Nam, có một sứ bộ của nhà Trần đi cùng. Sứ ta sang Nguyên đưa thư của vua Trần
gửi tướng Nguyên, trả lời dứt khoát rằng từ nước ta tới Chiêm Thành, đường thủy, đường
bộ đều không thuận tiện cho việc vận chuyển lương thực.
Dùng ngoại giao đe dọa không có kết quả, giặt chuyển sang dò xét công cuộc chuẩn bị
kháng chiến của ta. Chưa đi khỏi tỉnh Hồ Nam, chủ tướng Nguyên Thoát Hoan lại nhận
được thư của vua Trần. Giặc nhiều lần đưa thư sang nói chúng đem quân xuống biên giới
không phải để đánh ta, nay ta đưa thư báo chúng là ta đem quân lên biên giới cũng không
phải để đánh chúng, mà vì sắp đến kỳ nộp cống vào tháng 10 tới (tức tháng 11 năm 1284)
nên sửa soạn trước, “đinh lực”, có nghĩa là sửa soạn trước lực lượng để phục vụ việc
cống nạp đó. Trong thư, vua Trần còn nhắt là khi nào Trấn Nam vương đem quân tới biên
giới thì báo cho ta biết.
Chủ trương, phương sách đấu tranh ngoại giao của nhà Trần vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo,
không từ chối mà là từ chối. Giặc biết ta điều quân chuẩn bị đánh chúng, mà phải chịu,
Tại gần nơi giặc đóng quân, ta cho rải "truyền đơn" phản đối hành động xâm lược của
chúng, chủ yếu là nói với Thoát Hoan, đại ý là: "Chiếu trước nói rằng: lệnh riêng cho
quân không vào nước người, thế mà nay lấy cớ Chiêm Thành phản phúc, phái đại quân
tới nước ta, tàn hại trăm họ. Đó là việc làm sai lầm của thái tử, không phải nước ta sai
lầm. Không nên làm khác với chiếu trước. Hãy rút đại quân về”. (Nguyên sử. q.209: An
Nam truyện).
Chủ tướng giặc vội gửi thư sang ta, vừa phân trần, vừa trách móc, vừa dụ dỗ, vừa đe dọa.
Chúng trách vua Trần: “Triều đình điều binh đánh Chiêm Thành, nhiều lần gửi thư bảo
mở đường, chuẩn bị lương thực, không ngờ cố ý trái mệnh triều đình, để cho Hưng Đạo
Vương đem binh nghênh chiến, bắn bị thương quân ta" (Nguyên sử. q.209: An Nam
truyện). Rồi chúng lại dụ dỗ những điều cũ là lui quân, mở đường, đón tiếp chúng. Cuối
thư chúng dọa: "Nếu không, đại quân sẽ đóng lại ở An Nam, mở phủ”(Nguyên sử. q.209:
An Nam truyện). Mở phủ là mở phủ đô hộ, là thống trị nước ta, vì vậy bên ta không thèm
trả lời.
Giữa tháng 2 năm 1285, giặc tiến tới gần kinh thành Thăng Long. Vua Trần cho tướng
Đỗ Khắc Chung đi sứ sang trại giặc giả tiếng cầu hòa, để tìm hiểu tình hình giặc. Đỗ
Khắc Chung sang trại giặc mới gặp tướng giặc là Ô Mã Nhi, còn chưa gặp Thoát Hoan.
Khi Đỗ Khắc Chung đã về rồi, Ô Mã Nhi tiếc không bắt giữ Đỗ Khắc Chung, nên cho
quân đuổi theo, nhưng không kịp.
__________________
Ngay sau đó vua Trần cho sứ mang thư cho Thoát Hoan, yêu cầu rút quân về nước.
Tướng giặc đưa thư đáp lại trách vua Trần cự chiến. Không chờ ta trả lời chúng cho quân
tiến công. Nhưng vua Trần đã cho quân rút lui. Trước khi rút, vua Trần lại cho sứ sang
đòi quân Nguyên rút về nước. Trong suốt quá trình chiến tranh, triều đình nhà Trần luôn
luôn cho sứ sang bên giặc vạch rõ việc chúng đưa quân xâm lược nước ta là phi nghĩa,
đòi chúng phải rút quân về. Việc không ngớt vạch tội phi nghĩa của giặc chắc chắn đã tác
động nhiều đến tinh thần toàn quân giặc, làm giảm sút ý chí chiến đấu vì mục đích xâm
không có, quân ta ở Thiên Trường lặng lẽ rút cả ra biển. Chỉ còn một bộ phận nhỏ cùng
vua Trần ở lại Thiên Trường để tiếp sứ Nguyên. Khi sứ Nguyên đi khỏi thì bộ phận cuối
cùng này cũng rút hết. Toàn bộ đạo quân của vua Trần ở Thiên Trường, Trường Yên rút
lui không gặp trở ngại gì, khi giặc biết thì việc đã rồi. Giặc phải nhận là vua Trần đã "cử
quốc hàng hải"(Diêu toại: Mục am tập (sách thời Nguyên).), đưa cả nước đi ra biển. Điều
đó chứng tỏ đạo quân của vua Trần ở Thiên Trường, Trường Yên là một đạo quân lớn và
đã rút lui ra biển an toàn.
Tháng 7 năm 1285, cuộc chiến tranh xâm lược thứ hai của giặc Nguyên chấm dứt. Quân
dân ta đại thắng. Quân giặc đại bại, số quân Nguyên bị giam giữ làm tù binh ở Đại Việt
có tới hàng vạn người, đương chờ đợi được giải thoát. Muốn giải thoát cho họ, muốn đem
được họ về, triều đình Nguyên phải điều đình, thương lượng với triều đình Đại Việt,
không có cách nào khác. Bạo chúa Hốt Tất Liệt phải chủ động cho sứ sang Đại Việt về
việc này. Cuối tháng 10 năm 1285, sứ Nguyên lên đường sang Đại Việt.
Về phía ta, triều đình nhà Trần cũng không gây khó khăn gì trong việc trao trả tù binh
cho địch, vì số tù binh nhiều quá. Việc điều đình thương lượng của địch, dù có xuất phát
từ thực ý cầu hòa, từ thiện chí giao hảo, hay là không thì ta cũng sẵn sàng tha chết cho tù
binh địch, thả chúng về nước. Cơm gạo đâu mà nuôi hàng vạn tù binh và nuôi để làm gì?
Cho nên xuất phát từ tinh thần nhân nghĩa của dân tộc và căn cứ trên thực tế đó, tháng 2
năm 1286, chấp nhận yêu cầu của triều đình Nguyên, triều đình nhà Trần hạ lệnh tha cho
tù binh về nưóc.
Trong khi triều đình nhà Trần thả tù binh Nguyên cho chúng về nước thì trái lại, triều
đình Nguyên tích cực chuẩn bị xâm lược nước ta một lần nữa.
Nhà Nguyên cấp tốc tổ chức một đạo quân xâm lược và Hốt Tất Liệt lại gửi chiếu thư cho
quan lại và nhân dân Đại Việt, ra sức đả kích vua Trần để có cớ lập một triều đình bù
nhìn làm tay sai cho chúng. Trong khi giặc ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta thì giữa
năm 1286 một sứ bộ của ta sang Nguyên bị triều đình Nguyên bắt giữ. Nhưng, bọn bành
Thoát Hoan nửa tin nửa ngờ, vô cùng hoảng sợ vì lương ăn đã cạn. Do đấy, ngay ngày
mồng bốn Tết, Thoát Hoan dồn quân đi kiếm lương ăn, vào cả miền núi để cướp lương.
Nhưng nhân dân ta thực hiện vườn không nhà trống triệt để, giặc không lùng sục, vơ vét
được gì. Lương đã cạn, giặc không còn tâm trí nào nghĩ đến đánh nhau, không dám chủ
động tiến công, phải dốc sức đi tìm lương, nhưng tìm không ra, đi cướp không được,
thuyền lương không còn, hậu cần tại chỗ không có, đường tiếp tế từ Trung Quốc sang
không lập được, không còn trông mong vào đâu để có lương ăn cho khoảng nửa triệu
quân. Rõ ràng đã đến lúc giặc không thể tiếp tục chiến tranh và không thể ở lâu trên chiến
trường Đại Việt. Nếu cứ đóng quân ở Thăng Long thì nguy hiểm, quân đội Đại Việt
không cần đánh, chỉ vây hãm Thăng Long một thời gian ngắn là quân giặc trong thành tất
phải ra hàng. Do vậy, bọn Thoát Hoan phải vội vã quyết định rút hết quân lên Vạn Kiếp.
Tới Vạn Kiếp, giặc vẫn lúng túng: ở lại cũng dở, mà về cũng dở. Ở lại thì không còn sức
đánh, hết lương ăn. Nhưng về thì không lẽ bỏ lại đoàn thủy quân của Ô Mã Nhi đang
nóng lòng chờ đón đoàn thuyền lương, mà hắn không hề biết là đoàn thuyền này đã bị
quân ta đánh tan từ hàng tháng trước rồi.
Lúng túng như thế nên bọn Thoát Hoan chưa rời khỏi Vạn Kiếp được. Mà càng ở lại Vạn
Kiếp ngày nào, chúng càng hoang mang, thất vọng, lúng túng thêm ngày ấy. Quân ta
không để cho chúng yên. Không mấy đêm là quân ta không tới đánh chúng. Giặc hoảng
sợ, đêm đêm phải vào hết trong trại, không dám cùng quân ta giao chiến, chỉ ban ngày
mới dám kéo nhau ra khỏi trại. Trong khi đó, để nắm vững tình hình giặc là chuẩn bị tốt
kế hoạch phản công của ta, vua Trần cho Hưng Ninh vương Trần Tung là anh ruột Hưng
Đạo vương Trần Quốc Tuấn nhiều lần sang trại giặc, mượn tiếng là để trao đổi việc nghị
hòa với giặc. Lần nào Trần Tung cũng nói là vua Trần sẽ tới trại giặc để giao hảo. Đương
lúc hoang mang lo sợ, thấy ta đến bàn hòa, giặc mừng rỡ, sửa sang doanh trại để chờ đón
vua Trần. Nhưng chờ đón đến bao giờ? Dần dần chúng cũng tự hiểu ra rằng việc bàn hòa
với ta là không thể có được. Chúng càng mất tinh thần và ngày càng kiệt sức. Ta không
bàn hòa, quân cảm tử của ta vẫn đêm đêm tiến vây doanh trại giặc mà giặc thì ngày càng
thiếu ăn.
Ba lần đưa quân đi cướp nước người và cả ba lần đều bị nước người đánh cho tả tơi, tan
tác, mảnh giáp chẳng còn thì kẻ xâm lược nào cũng phải chùn bước nản lòng, phải một
thời gian dài không dám đeo đuổi ý đồ đánh cướp nước người nữa. Chiến thắng của quân
dân ta đời Trần đã vang dội ở nhiều khu vực châu Á và vang dội sang tận miền Tây Á,
Trung Đông. Một nhà sử học Ba Tư ở thế kỷ XIII là Rasit-út-din làm sách Tập sử biên
niên, ghi chép lịch sử đế quốc Mông Thát, bao gồm cả đế quốc Nguyên Mông, có đoạn
viết về việc nước ta đánh thắng quân Thoát Hoan trong cuộc chiến tranh lần thứ ba như
sau:
"Nước đó có vua của họ. Do không thần phục hãn Thoát Hoan . . . Một lần Thoát Hoan
đem quân vào nước đó đánh chiếm các thành thị ven biển, thống trị được một tuần lễ.
Bỗng nhiên từ biển, từ rừng, từ núi, xuất hiện những đạo quân nước đó đánh tan đạo quân
Thoát Hoan đương mải cướp bóc. Thoát Hoan trốn thoát, chạy về Lu-kin-phú” (Rasit-ut-
din: Tập sử biên niên, Bản tiếng Nga, t.II, M.1960).
Chiến thắng của quân dân ta ở thế kỷ thứ XIII, ba lần đánh bại quân Nguyên xâm lược,
thật lẫy lừng, vĩ đại là một trong những võ công hiển hách bậc nhất của dân tộc ta.