Những vụ án nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam
Chuyên mục điểm qua những vụ án nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam từ trung đại đến cận
đại với những bức màn dần được hé mở
I. Vụ án thái sư Lê Văn Thịnh. Tượng thái sư Lê Văn Thịnh
Năm Ất Mão (1075), Vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) cho mở khoa thi tam trường để
chọn người tài làm quan. Đây là khoa thi đầu tiên ở nước ta, chọn được hơn mười người.
Người đỗ thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Đây chính là vị tiến sĩ đầu tiên ở nước Việt Nam. Vị
thủ khoa này ngày sau làm đến chức Thái sư - một chức quan to vào bậc nhất trong triều.
Nhưng ai có thể ngờ rằng, vị Tiến sĩ – Thái sư này hơn hai chục năm sau bị mắc tội "mưu
làm phản", suýt nữa bị chém. Sau đó bị nhốt vào cũi, đi đày ở miền sơn cước.
Các sách chính sử thời đó và nhiều triều đại sau đều chép chính thức sự kiện này và cho
rằng Lê Văn Thịnh mắc tội phản nghịch là có thực, lẽ ra phải khép vào tội chết. Nhà sử
học Ngô Sĩ Liên (thi đậu Tiến sĩ vào năm Nhâm Tuất – 1442, đời vua Lê Thái Tông),
cũng có lời bàn: "Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết, thế là sai
trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng Phật giáo". (sách "Đại Việt sử ký toàn thư")
Lý Tế Xuyên, tác giả "Việt điện u linh" cũng than thở: "Lê Văn Thịnh tội nên xử trảm
vua lại tha mà chỉ phạt lưu, chính hình như thế thật là lầm lỗi"
Vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh được các nhà chép sử ghi lại như sau:
"Tháng 3 năm Bính Tý (1096), nhân dịp ngày xuân, vua Lý Nhân Tông ngự ra hò Dâm
Đàm (Hồ Tây), đi một chiếc thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong
đám mù nghe có tiếng giáo chém. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi
người sợ tái mặt đi, nói rằng: "Nguy lắm rồi!". Người đánh cá tên là Mục Thận quăng cái
lưới trùm lên trên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Văn Thịnh là đại thần
còn ở trên mặt nước, thì vua đâm ra hoảng hốt. Có lẽ Lê Văn Thịnh cũng vì thấy trời tối
mà vội vã sai chèo thuyền gấp tới để hộ vua về. Ngồi trên thuyền bị tròng trành không
vững, Văn Thịnh phải ngồi khom mình, tay chống vào thuyền cho vững. Hình dáng trông
như con hổ. Một mặt khác, có lẽ Văn Thịnh cũng tin vào các thuật và có tiếng sẵn là đã
học được phép hoá hổ. Cho nên, kẻ trông thấy con hổ trong thuyền lại càng nghi cho ý
muốn hại vua"
Người ta đặt vấn đề nghi vấn có thể có hay không, câu chuyện Lê Văn Thịnh là một sự
hiểu lầm hay chỉ là một mưu mô loại bỏ công thần của vua Lý, một hành vi thường có
của các vua chúa triều đại phong kiến?
Lần trang sử cũ, ta thấy có nhiều bản án "huyễn hoặc" tương tự, không biết bao nhiêu
nhân tài quốc gia bị triều đình phong kiến huỷ diệt. Bản thân chế độ vua chúa vì muốn
giữ độc quyền thống trị thường thay thù địch và hoảng sợ trước tài năng. Tầng lớp phong
kiến chỉ có thể lợi dụng những kẻ có tài trong thời gian nhất định mà không tận dụng
được tài năng đó. Trong các triều đại phong kiến lịch sử cổ kim thế giới, những đại công
thần bị lưu đày, tàn sát như Lê Văn Thịnh không hiếm. Hàm Tín, trước khi bị Hán Cao
Tổ và Lưu Bang giết ở Vị vương cung, đã biết rằng kẻ dùng mình sẽ không tha mình khi
đế nghiệp hoàn thành, nên từng than thở: "Giảo thỏ chết, chó săn bị thịt, chim hết, cung
bị xếp xó"
Đại thi hào Nguyễn Du không phải ngẫu nhiên khi mở đầu Truyện Kiều, ông đã than thở:
"Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau"
Và khi sắp kết thúc tác phẩm, ông lại thở than:
thời Lý.
Nhưng lịch sử thật trớ trêu, 11 năm sau (năm 1096), vị Thái sư này lại mắc phải trọng tội
tày đình.
Sau những thành công lớn lao của Lê Văn Thịnh cùng với tiếng tăm lẫy lừng mà ông đạt
được, hẳn Lê Văn Thịnh đã trở thành một mối lo âu đối với vua quan bấy giờ. Vua thì sợ
Lê Văn Thịnh ngày kia có thể làm nguy hại ngôi báu của mình; quan thi sợ Lê Văn Thịnh
có biệt tài, có quyền uy to lớn có thể làm phương hại đến địa vị mà họ đang hưởng. Vì
vậy đã dựng nên " sự kiện hồ Dâm Đàm" để loại trừ một đối thủ đáng ngại… Có lẽ vì thế
mà họ đã dựa vào sự mê tín trong dân chúng, tạo nên câu chuyện phản nghịch để có cơ
hội tẩy trừ một chông gai trước mắt?
II.Vụ án Lệ Chi Viên.
Ngày 27 tháng 7, 1442 (năm Nhâm Tuất), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt
quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của
Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc
xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người
thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp,
văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt
đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa về,
ngày 6 tháng 8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy
cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc. Nguyễn Trãi
Đến nay, nhiều nhà sử học đã đi đến thống nhất về nguyên nhân đích thực của vụ thảm án
này. Chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.
Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị
nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải thụ án.
Theo sử sách, vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình thực ra chính
là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con, ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc,
Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói: "Ta hối không nghe lời Thắng, Phúc".
Các nhà nghiên cứu cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên
Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông. Do đó để diệt khẩu, bà sai
giết hai người này.
Chính bởi ngôi vua của Lê Nhân Tông có phần "không chính" nên sau này, năm 1459,
con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con
Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: "Diên Ninh (niên hiệu của
vua Nhân Tông) vốn không phải là con của tiên đế (Thái Tông) "
Dù sao đi nữa, chuyện Bang Cơ có phải con vua Thái Tông thực hay không nhưng cũng
như Tần Thủy Hoàng, ngôi chính của ông đã định, bởi thế những người phản lại như Lê
Nghi Dân nhà Lê hay tướng Phàn Ô Kỳ nước Tần vẫn bị coi là "nghịch", là trái lẽ. Vua Lê Thánh Tông
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông rửa oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm thơ văn Nguyễn
Trãi để lưu lại hậu thế, và ông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ:
Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
Tạm dịch:
Tâm hồn Ức Trai rực rỡ tựa sao Khuê.
cánh của Trần Nguyên Hãn và bị dẹp.
Năm 1455 , vua Lê Nhân Tông (1443-1459) ra lệnh phục chức cho Trần Nguyên Hãn,
truy phong là "Phúc thần", cho gọi con cháu ra làm quan, nhưng không ai ra.
Đời nhà Mạc, ông được truy phong là Tả tướng quốc, Trung liệt Đại vương. Ông chính là
trường hợp rất hiếm trong các công thần khai quốc nhà Lê được nhà Mạc thù địch tưởng
nhớ và truy phong, có lẽ một phần lý do vì bản ý nhà Mạc muốn thu phục lòng người.
Việc tôn vinh ông khiến "thiên hạ" thấy sự khắc bạc của nhà Lê với người có công trạng.
[sửa] Nguyên nhân
Cái chết của Trần Nguyên Hãn được nhận định là do một hoặc nhiều nguyên nhân:
• Ông nằm trong vòng xoáy tranh giành quyền lực trong triều đình nhà Lê thời hậu chiến.
Có ý kiến cho rằng Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo ủng hộ Lê Tư Tề, con trưởng
của Lê Lợi trong khi Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn ủng hộ người con thứ là Nguyên
Long. Khi phái Lê Sát thắng thế và Lê Tư Tề bị ruồng bỏ, thì ông cũng không tránh khỏi
hậu họa là chuyện thường.
• Mối nghi ngại của Lê Lợi đối với triều đại cũ: Lê Lợi từng hại Trần Cảo – người tự
nhận là tôn thất nhà Trần, từng được đưa lên nắm ngôi Hoàng đế bù nhìn, từng lấy lý do
mẹ của thái tử Nguyên Long có tên là Phạm Thị Ngọc Trần và ép người có họ Trần phải
đổi sang họ Trình để kiêng huý. Những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ có thể
"quên " hẳn nhà Trần đi. Mà Trần Nguyên Hãn lại xuất thân là quý tộc nhà Trần, con
cháu của hai danh thần nhiều danh vị của triều cũ là Trần Quang Khải và Trần Nguyên
Đán.
Mặc dù được nhiều sử gia cũng như người có quan tâm thừa nhận rộng rãi, nhưng cho tới
giờ, những giả thiết và nguyên nhân trên không được hậu thuẫn bởi những bằng chứng
trong chính sử.
-Lời bình của Trần Quốc Vượng
“ Phạm Lãi đi biệt, đổi tên họ, dẫn theo người đẹp [Tây Thi] bỏ hoàn toàn ham
muốn quyền lực.
Nên vua dù có biết (mà biết thực, nên mới cho ghi vào sử), cũng nghĩ ông này bây giờ
không dòm ngó gì tới ngôi báu.
Đàng này
Duyệt trình tâu sự việc Lên vua Minh Mạng. Nhà vua có ý bao che, ra lệnh giải Lý ra
Huế xét xử. Lê Văn Duyệt lại dùng "Thượng Phương Kiếm" là kiếm vua ban cho được
quyền "tiền trảm hậu tấu"chém trước tâu sau), chém Huỳnh Công Lý, rồi cho ướp muối
thủ cấp họ Huỳnh gởi ra kinh đô, trên nắp thùng đề dòng chữ: “Phụng thừa thánh chỉ, xử
trảm tội nhân ". Trước sự đã rồi, vua Minh Mạng đành bỏ qua. Nay dựa vào chuyện nầy,
Bạch Xuân Nguyên cho rằng Lê Văn Duyệt phạm tội khi quân. Bạch Xuân Nguyên còn
cho rằng Lê Văn Duyệt đồng lõa với phó vệ uý Lê Văn Khôi khai thác trái phép rừng
cây, nên giáng chức Khôi, và muốn gởi Khôi ra Huế để triều đình xét nghị.
Ông Khôi nguyên tên là Nguyễn Hữu Khôi , là một thổ mục Cao Bằng, phạm tội chống
chính quyền sở tại, bỏ trốn vào Thanh Hóa. Khi Lê Văn Duyệt làm kinh lược Thanh
Nghệ năm Kỷ Mão (1819), ông Khôi ra đầu thú. Lê Văn Duyệt tin dùng ông Khôi, đổi
tên là Lê Văn Khôi. Lê Văn Khôi theo dưới trướng Lê Văn Duyệt, vào Gia Định thành,
làm đến phó vệ uý Minh Nghĩa vệ. Nay Lê Văn Khôi vừa lo chuyện Bạch Xuân Nguyên
truy cứu việc Lê Văn Duyệt, vừa lo lộ chuyện tự thân ông đã từng phạm lỗi ở Cao Bằng,
nên quyết định nổi dậy.
Đêm 18 tháng năm, năm Quý Tỵ (5-7-1833), Lê Văn Khôi cùng với 27 người lính thuộc
nhóm hồi lương, tấn công dinh bố chánh sứ, giết Bạch Xuân Nguyên. Nghe có nội biến,
tổng đốc Nguyễn Văn Quế vội vàng tìm cách trấn áp, cũng bị giết luôn. Án sát sứ và viên
lãnh binh chạy thoát. Lê Văn Khôi chiếm thành. Quân sĩ đều về theo họ Lê, trong đó có
một người con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hán. Lê Văn Khôi tự xưng là Đại
nguyên suý, tổ chức cầm quyền như một triều đình riêng, rồi sai quân đánh lấy hết các
tỉnh (Nam Kỳ) thuộc Gia Định thành trước đây.
Được tin cấp báo, triều đình cử Tống Phúc Lương, Phan Văn Thúy, Nguyễn Xuân,
Trương Minh Giảng, Trần Văn Năng đem quân thủy bộ và cả tượng binh vào đánh Lê
Văn Khôi, chiếm lại các tỉnh. Lê văn Khôi rút vào thành Phan Yên (Phiên An), đóng cửa
chống giữ, và sai người cầu cứu Xiêm La (Thái Lan). Quân triều đình một mặt đánh đuổi
quân Xiêm, một mặt vây chặt thành Phan Yên. Thành nầy do Nguyễn Phúc Ánh (sau là
1785. Sau khi Nguyễn Phúc Ánh chiếm hẳn được Sài Côn và toàn vùng Gia Định năm
Kỷ Dậu (1789), nhà chúa cho Lê Văn Duyệt chiêu tập mộ binh, thuộc tả quân. Từ đó,
Duyệt tham gia những cuộc hành quân chống Tây Sơn, bắt đầu nổi tiếng trong trận giải
vây Diên Khánh năm ất mão (1795). Ngôi sao Lê Văn Duyệt dần dần sáng chói, và rực rỡ
nhất trong trận đánh đến sạch tan tành lực lượng hải quân của Tây Sơn tại cửa Thị Nại
(Quy Nhơn) năm Tân Tậu (1801). Trận đánh nầy được chính sử nhà Nguyễn gọi là "trung
hưng đệ nhất võ công" (Võ công oanh liệt nhất của công cuộc trung hưng nhà Nguyễn),
và người chiếm công đầu, can đảm liều lĩnh thực hiện trận hỏa công nầy, chỉ biết tiến chứ
không chịu lùi là Lê Văn Duyệt. Sau trận nầy, Nguyễn Văn Thành ở lại cầm chân các
tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng (đang vây Quy Nhơn do Võ Tánh
và Ngô Tòng Châu giữ); chúa Nguyễn dẫn quân ra đánh Phú Xuân, sai Lê Văn Duyệt và
Lê Chất đi trước. Cả hai hợp lực đánh hạ Phú Xuân nhanh chóng. Vua Cảnh Thịnh (nhà
Tây Sơn) phải bỏ chạy ra Bắc hà. Ngày mồng 2 tháng 5 năm Tân Tậu (1801), Nguyễn
Phúc Ánh ngược dòng sông Hương, trở về tái chiếm thành Phú Xuân.
Sau mặt trận Phú Xuân, một mặt chúa Nguyễn gởi quân truy đuổi vua Cảnh Thịnh, một
mặt gởi các tướng Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Nguyễn Văn Thành quay vào giải vây Quy
Nhơn, nhưng đã trễ vì Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trong thành Quy Nhơn biết không
chống cự nổi, đành tự tử theo thành. Các tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn
Dũng tuy chiếm được Quy Nhơn, nhưng cũng không chịu nổi áp lực của quân chúa
Nguyễn từ hai phía bắc và nam đổ đến tấn công, nên phải bỏ Quy Nhơn tháng 3 năm
Nhâm Tuất (1802), theo đường núi qua Ai Lao, ra Nghệ An.
Ngày 2-5- nhâm tuất (l-6-1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua tại Phú Xuân, lấy niên
hiệu là Gia Long, rồi tự mình đem quân ra bắc, đánh dẹp lực lượng Tây Sơn còn lại. Lê
Văn Duyệt được thăng Khâm sai chưởng tả quân Bình Tây tướng quân, và Lê Chất làm
Khâm sai chưởng hậu quân Bình Tây tướng quân, cùng nhau dẫn quân đi trước. Lực
lượng nhà Nguyễn tiến chiếm Thăng Long, và bắt được vua Cảnh Thịnh dễ dàng, chấm
dứt nhà Tây Sơn.
vừa dùng chính trị, không bao lâu Lê Văn Duyệt ổn định được tình hình. Hơn 900 người
ra đầu thú, đều được ông Lê tâu xin triều đình khoan hồng và tha mạng. Trong nhóm nầy,
có Nguyễn Hữu Khôi sau đổi tên là Lê Văn Khôi.
Vua Gia Long từ trần ngày 19 tháng chạp năm Kỷ Mão (3-2-1820). Trước khi mất , nhà
vua cho triệu Lê Văn Duyệt cùng thượng thư bộ lễ là Phạm Đăng Hưng dặn dò hậu sự.
Sau khi vua Minh Mạng (trị vì 1820- 1840) lên ngôi, nhà vua cử Lê Văn Duyệt vào làm
tổng trấn Gia Định dân thứ nhì tháng 5 năm canh thìn (1820) với quyền hạn rất lớn
“thăng giáng quan lại, lấy lợi trừ hại, việc thành, mưu kế ngoài biên, đều được tiện nghi
làm việc", kể cả quyền "tiền trảm hậu tấu” (giết trước tâu sau). Hành động nầy của vua
Minh Mạng có thể do hai nguyên nhân. Thứ nhất nhà vua e ngại uy tín lê Văn Duyệt quá
lớn, tính tình lại nóng nảy, có thể gây ra đảo chánh cung đình vì lúc đó cháu đích tôn của
vua Gia Long, hoàng tôn Mỹ Đường (Đán), con hoàng tử Cảnh, cháu gọi Minh Mạng
bằng chú, khá lớn tuổi và vẫn còn sống. Trong triều đình đã từng có dư luận đề nghị vua
Gia Long chọn Mỹ Đường để kế vị ngôi báu. Thứ nhì tình hình Gia Định lúc đó bất ổn.
Một nhà sư người Chân Lạp (Cao Miên) tên là Kế, dùng phù chú mê hoặc lòng dân, tự
xưng Chiêu Vương, xúi người Chân Lạp nổi dậy, cướp bóc các vùng biên giới giữa hai
nước Việt Miên. tình hình nầy cần một nhà cai trị tài giỏi và cứng rắn, lại được vua tin
cẩn giao toàn quyền hành động tại chỗ. Người đó không ai thích hợp hơn Lê Văn Duyệt.
Trở vào Gia Định, Lê Văn Duyệt sai quân dẹp yên ngay loạn sư Kế. Để giữ gìn kỷ cương
quan lại, viên Phó tổng trấn là Huỳnh Công Lý phạm tội tham ngược liền bị Lê Văn
Duyệt ra lệnh xử tử, dầu y có con gái là hầu thiếp của nhà vua. Lê Văn Duyệt cai trị rất
nghiêm minh. ông còn thi hành một chính sách ngoại giao uyển chuyển, ôn hòa với các
nước tây phương, không gây trở ngại trong việc các giáo sĩ Thiên Chúa giáo truyền đạo,
giữ vững việc bảo hộ Chân Lạp, làm cho Xiêm La nể sợ, và cả Miến Điện cũng rất mến
phục.
Năm Quý Mùi (1823), Lê Văn Duyệt về triều (Huế) phúc trình tình hình Gia Định thành,
xin vua thu dụng con cháu các công thần đã hy sinh thời Nguyễn Phúc Ánh còn bôn tẩu ở
vuốt, lấy lính Bắc thuận, Hồi Lương làm lòng bụng, lũ kia tính phóng túng, khó uốn nắn,
vốn không phải là nguồn thiện, cho nên Duyệt chết chưa bao lâu giặc Khôi giặc Nhã lập
tức đem lính Hồi Lương Bắc Thuận cùng tiêu hạ là lũ gã Troi hát chèo, giữ thành làm
phản, nhân mà cổ hoặc nhân tâm, vạ lây đến các tỉnh Nam Kỳ, đồng phiền đại đội quan
quân tiến đánh. Thanh tra năm tỉnh dẫu đã thu phục mà nơi giặc ở là thành Phan Yên, bọn
giặc còn giữ. Những cái gì còn ở trong thành đều phá sạch cả. Quan quân đánh dẹp nhiều
năm, thương vong cũng nhiều, tai vạ không thể nói hết được. Nay Duyệt đã chết sự trạng
không thể xét rõ được nhưng xem con nuôi nó là Lê Văn Hán trước đây ra vào trong
thành cùng giặc Khôi trong ngoài ứng nhau. đến lúc bọn giặc đến nhà thờ Duyệt bắt Bạch
Xuân Nguyên trói lại đốt làm đèn để tế Duyệt thì chỗ ẩn cũng hiện, chỗ tâm tích Duyệt
không bói cũng biết rồi. Nếu không nói rõ tội danh sợ không lấy gì làm răn sau nầy. Vậy
xin truy lấy quan chức, vợ con giao bộ Hình tra rõ. Làm tội năng nhẹ tỏ phép nước."
Dựa trên cáo trạng của quan viên Đô sát viện. vua Minh Mạng xuống dụ kể hết những
"tội lỗi" của lê Văn Duyệt, và nêu ra câu hỏi: "Vậy Lê văn Duyệt cùng con cháu nó nên
trị tội như thế nào giao đình thần nghĩ tâu".
Câu hỏi của nhà vua là lời mở ngỏ cho triều đình mặc sức phụ họa. Sau vài ngày bàn
thảo, các quan Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh cùng dâng sớ luận tội Lê
Văn Duyệt vào sáu điều bội nghịch như sau:
" Năm Minh Mạng thứ 4 [1823], Duyệt tự tiện cho tư nhân lũ Phan Đạt giả đi do thám
cưỡi thuyền riêng đi Miến Điện trong ấy thư tín tất có giao thông chiêu nạp. Lấy nghĩa
nhân thân không ngoại giao đem vào luật thì Duyệt để lòng làm việc không thể hỏi đến
được, tội nầy là một.
"2. đến khi sứ giả Miến Điện đến thành mới đem việc tâu. vua đã dụ rằng đại nghĩa quan
hệ không có lẽ vội nghe lời nước ngoài mà bỏ hòa hiếu, gây cừu thù. Mà Duyệt còn cố
xin dung nạp, may mà triều đình trả lại đồ cống cho sứ giả về, danh nghĩa giải bày được
minh bạch với thiên hạ, thế là Duyệt không những mưu việc nước không tốt và muốn
Tha niên tái ngộ Trần Kiều sự.
Nhất đản hoàng bào bức thử thần. "
Dịch nghĩa:
"Giúp Hán trước hơn chư hán tướng,
Phò Chu há kém mười chu thần.
Việc Trần Kiệu sau nầy lại gặp,
Mặc áo hoàng bào chối được du?"
Người không có lòng bất thần quyết nhiên không dám đem những câu nói bất thần ấy nói
ra miệng cho mọi người nghe. Bởi thế tiêu hạ bộ khúc, tập thành thói quen, chết chưa
nguội xác đã có án to nầy. xin đem cả các khoản trên nãy giao đình thần kết án cho xứng
đáng tội danh. "
Một lần nữa, vua Minh Mạng đưa bản luận tội nầy ra trước triều đình để các quan bàn
luận. Đình thần đã thảo ra bản án gồm bảy điều để khép ông vào tội xử trảm (chém đầu),
hai điều vào tội xử giảo (thắt cổ), và một điều vào tội sung quân (bãi chức, đày làm lính).
* Bảy tội đáng xử trảm: sai người riêng đi Miến Điện kết ngoại giao; xin tống thuyền
Anh Cát Lợi đến thành để tỏ có quyền; xin giết thị vệ Trần Văn Tình để khóa miệng
người; kháng sớ giữ lại người được tuyên triệu điệu bổ quan viên; cậy bè đảng xin tăng
thọ cho Lê Chất; chứa riêng giấy đóng ấn vua sẵn; gọi mả cha là lăng, nói với người,
xưng là "cô".
* Hai tội đáng xử giảo: cố xin dung nạp Miến Điện để thỏa việc làm bậy; nói với người
rằng xin được thơ phụ tiên có câu "Trần Kiều hoàng bào".
* Một tội đáng xử sung quân: tự tiện sai biền binh tu tạo tàu thuyền.
hỏi ý, Vũ Xuân Cẩn đang làm tổng đốc Bình Phú (Bình Định, Phú Yên), đã yêu cầu triều
đình lấy công bù tội đối với Lê Văn Duyệt. Nay nhân dịp vua mới lên ngôi, Vũ Xuân Cẩn
làm sớ tâu rất cảm động và ông kết luận :
" … Và lại những khoản lũ ấy bị can thành án còn đấy đã đăng lên quốc sử làm tin, nếu
được ơn trên mở sách ra xem thì thủy chung tâm tích hành trạng một đời của lũ ấy rõ
rành minh bạch, tôi cũng không dám biện bạch nhiều. Cúi mong đặc cách gia ơn sức
xuống tra hỏi những dòng dõi lũ ấy hiện còn, đứa nào có thể thu khiển được thì cho chức
hàm nho nhỏ cho được nhờ chút lộc nước, nếu đứa nào không tài năng gì cũng cho miễn
binh đao chung thân để chủ việc thờ cúng để tỏ lòng trung hậu. . . "
Sau tấu sớ nầy, vua Tự Đức xuống chiếu xóa tội Lê Văn Duyệt. Trước hết, nhà vua ra
lệnh bộ Binh tìm hỏi cháu chắt của họ Lê trong quân ngũ. Bộ Binh tìm được Lê Văn Điển
là cháu Lê Văn Duyệt, cất nhắc lên làm cai đội.
Năm 1849, kinh thành có bệnh dịch. Các quan văn võ gồm 32 người do Tạ Quang Cự
(bên võ) và Hà Duy Phiên (bên văn) đứng đầu viết sớ nói rằng: "Dịch lệ là quỷ đi làm
việc, quỷ có chỗ ở thì không làm ma quái nữa. Cho nên Bá Hữu hiện ra ma quỷ, Tử Sản
cho lập nhà thờ thì ma quỷ ấy thôi ngay. " Các quan dựa vào điều nầy xin vua Tự Đức
xóa tội cho Lê Văn Duyệt và gia đình. Vua Tự Đức liền ra lệnh tỉnh Gia Định dẹp bỏ tấm
bia đá “quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ”, làm lại ngôi mộ Lê Văn Duyệt; sai tỉnh
Định Tường trả lại 32 mẫu ruộng của phụ thân Lê Văn Duyệt cho Lê Văn Niên, người
cháu gọi tả quân bằng ông bác. (Số ruộng nầy đã bị sung công khi vụ án xảy ra.) Hai ngôi
mộ của song thân Lê Văn Duyệt ở thôn Long Thịnh (Định Tường) cũng được các quan
chức địa phương tu sửa lại.
Người con thừa tự của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yên, gọi ông bằng bác. Lê Văn Yên là
con Lê Văn Phong, em của ông Duyệt, được vua Gia Long chọn làm con nuôi ông Duyệt.
Lê Văn Phong gia nhập quân ngũ của Nguyễn Phúc ánh, lập nhìêu chiến công. Sau khi
Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, Lê Văn Phong lên đến chức đô thống chế, được cử làm
cắt đứt việc giao thiệp với Xiêm La. Lê Văn Duyệt cho dịch thư và tâu về triều đình Huế.
Triều đình từ chối việc nầy, ra lệnh hậu thưởng sứ giả rồi cho về. Lê Văn Duyệt thi hành
đúng lệnh của triều đình, vậy không thể dựa vào sự kiện Miến Điện xin thông sứ để kết
tội Lê Văn Duyệt.
Về điều thứ ba, thứ tư, và thứ năm, một viên đại quan trọng trấn ở xa triều đình biết phải
làm gì và chọn lựa người nào trong từng công việc, lại công khai đưa ý kiến ra trước triều
đình chứ không ngấm ngầm tự ý hành động, là chuyện bình thường, không có gì đáng
chê trách. Một vị đại quan ở ngoài lo việc phát triển hải thuyền rất đáng khuyến khích.
Giấy có ấn triện nhà vua đóng sẵn do triều đình cấp, chứ tự Lê Văn Duyệt không làm
khuôn ấn riêng.
Điều thứ sáu quy kết Lê Văn Duyệt tội dựng đảng với Lê Chất hoàn loàn có tính cách vu
cáo, vì Lê Văn Duyệt và Lê Chất là hai chiến hữu thân thiết từ thời Nguyễn Phúc Ánh
chưa lên ngôi. Hai ông cùng tiến chiếm Phú Xuân, cùng đem quân ra Bắc hà đánh tan lực
lượng vua Cảnh Thịnh. Công khai xin vua đặc cách gia ân tăng tuổi thọ cho một người
bạn, đây lại là một người bạn đồng vào sinh ra tử, thì chẳng phải là một tội lỗi gì để bị kết
án xử trảm.
Chuyện bốn câu thơ tiên giáng, nếu quả thật có tang chứng như vụ Nguyễn Văn Thuyên,
Nguyễn Văn Thành thì chắc chắn không đợi đến khi Lê Văn Duyệt qua đời mới bị kết án,
và cũng không đợi các quan đề nghị, mà chính vua Minh Mạng sẽ trực tiếp giải quyết
ngay, vì nhà vua vốn tính đa nghi, và nhất là nhà vua rất sợ đụng chạm đến ngôi báu của
nhà vua. Việc vua Minh Mạng đối xử quyết liệt với chị dâu và cháu ruột của mình, vợ và
con hoàng tử Cảnh, đủ thấy nhà vua rất lo lắng chuyện đảo chánh cung đình.
Minh Mạng chẳng những không thích tính cứng cỏi của Lê Văn Duyệt, mà nhà vua lo
ngại về lòng trung thành của ông Lê đối với riêng nhà vua, vì nhà vua e sợ ông Lê ngả về
theo nhóm hậu thuẫn con của hoàng tử Cảnh tức hoàng tôn Mỹ Đường. Phải chăng vì sự
lo ngại âm thầm nầy mà khi vừa lên ngôi, vua Minh Mạng liền đưa Lê Văn Duyệt đi trấn
Do những quan hệ từ thời giám mục Bá Đa Lộc, Lê Văn Duyệt giao thiệp với nhìêu giáo
sĩ tây phương và để cho họ tự do truyền đạo. Ngược lại các giáo sĩ tây phương giúp ông
lê mua vũ khí để trang bị quân đội. Nhờ thế, quân nổi dậy của Lê Văn Khôi chỉ ở trong
thành Phiên An mà có thể cầm cự với với lực lượng hùng hậu của triều đình trong hơn
hai năm mới thất bại. Đây có lẽ là một trong những lý do chính thúc đẩy mạnh mẽ vua
Minh Mạng cho tiến hành vụ án Lê Văn Duyệt sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy của Lê
Văn Khôi. Lúc đó, vua Minh Mạng thi hành chính sách trung ương tập quyền, và không
muốn gian thiệp với người tây phương, cũng như không cho truyền bá đạo Thiên Chúa.
Xử án lê Văn Duyệt là một cách cảnh cáo các địa phương, và nhất là cảnh cáo những
quan viên nào tỏ ý muốn giao thiệp với người âu Châu.
Đặc biệt để tránh tai tiếng, nhà vua đã thi hành một biện pháp rất "hào hiệp" là gởi bản án
kết tội Lê Văn Duyệt xuống hỏi ý kiến các quan, kể cả các quan ở địa phương. Việc nầy
rất hiếm thấy dưới thời quân chủ, nhất là quân chủ độc tôn cứng rắn như thời Minh
Mạng. Có lẽ nhà vua muốn tránh tiếng khi lên án cố mạng đại thần Lê Văn Duyệt, nhưng
ngược lại chứng tỏ uy tín rất lớn của Lê Văn Duyệt khiến nhà vua phải lo ngại phản ứng
của các địa phương. Dĩ nhiên đa số các quan đã a dua với nhà vua kết án Lê Văn Duyệt.
Đó là chưa kể sự ganh ghét, đố ky cũng như tỵ hiềm cá nhân của các quan đối với Lê Văn
Duyệt khi ông còn sinh tiền.
Trong khi đó, chính sử nhà Nguyễn đã ghi rằng Bạch Xuân Nguyên là người vốn tham
tàn. Tại sao triều đình biết Nguyên tham tàn mà triều đình còn bổ ông ta là bố chính sứ?
Ai chịu trách nhiệm đề cử việc bổ nhiệm nầy? Tại sao triều đình không đưa ra xét xử
Bạch Xuân Nguyên vì ông mới là người đầu mối thực sự gây ra cuộc nổi dậy của Lê Văn
Khôi?
Vụ án Lê Văn Duyệt đưa đến nhiều kết quả bất lợi. Về tài sản quốc gia, dẹp xong Lê Văn
Khôi, vua Minh Mạng ra lệnh san phẳng thành Phiên An (Gia Định kinh) mà cha của ông
đã xây dựng và Lê Văn Duyệt đã gia cố. Sau đó, vua Minh Mạng lại cho xây một thành
Lúc đầu Lê Chất theo nhà Tây Sơn, lập được nhiều chiến công, được phong tới chức đô
đốc.
Sau khi vua Quang Trung mất (1792), nội bộ vương triều Tây Sơn dần suy yếu, rạn nứt.
Nhân thấy tướng của Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Văn Tính đóng quân gần đấy, Lê Chất
bàn với cha vợ là đô đốc Lê Trung để cùng trốn sang. Thấy cha vợ cứ chần chừ, một
mình Lê Chất viết thư xin hàng. Nguyễn Văn Tính đem thư dâng lên chúa Nguyễn.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
Lê Chất là đứa giảo hoạt, cho nên lời này chưa hẳn thực đâu.
Năm 1789, quân nhà Nguyễn thắng liên tiếp mấy trận liền, nên vua nhà Tây Sơn là Cảnh
Thịnh (Nguyễn Quang Toản) ngờ Lê Trung và Lê Chất thông đồng với đối phương. Lê
Trung bị giết, Lê Chất bỏ trốn, nhưng bị truy lùng gắt gao quá nên phải bắt một người có
khuôn mặt giống mình, bỏ thuốc độc cho chết để giả vai tuồng tự tử. Ít lâu sau, vào năm
1799, Lê Chất đến gặp tướng chúa Nguyễn là Võ Tánh để xin hàng. Từ đây, Lê Chất gắn
bó với Nguyễn Phúc Ánh cho đến hết đời.
Năm 1801, được phong tước Quận công. Năm 1802, làm Khâm sai chưởng hậu quân
Bình Tây tướng quân, dẫn bộ binh đi đánh chiếm Bắc Hà. Năm 1803, ông cùng Phạm
Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm trông coi việc xây dựng kinh thành.
Năm 1810, ông làm Hiệp tổng trấn Bắc Thành, cùng với Nguyễn Huỳnh Đức, Phạm Như
Đăng. Đến năm 1818, ông lên làm Tổng trấn Bắc Thành.
Bởi có tài năng, Lê Chất lập được nhiều công lao. Tuy nhiên, mỗi lần ông được trọng
thưởng là mỗi lần ông bị kèn cựa, xoi mói. "Đại Nam chính biên liệt truyện", có chép
chuyện ông bị phe phái của tướng Đặng Trần Thường buông lời gièm pha, đến nỗi vua
Gia Long đem vụ việc ra cho triều thần bàn nghị là một ví dụ.
Ông mất vào tháng 7 năm Bính Tuất (1826), hưởng dương 57 tuổi, được truy tặng Thiếu
phó, thụy là Trung Nghị.
Án Lê Văn Duyệt phát ra năm trước thì năm sau ( Bính Thân, 1836) có quan Lại bộ tả thị
lang Lê Bá Tú dâng sớ truy hặc Lê Chất phạm những 16 tội.
Sử gia Trần Trọng Kim chép : Minh Mạng dụ rằng:… Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt,
dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giả thử bổ
Mùa thu năm 1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm về Hương Cảng để hoạt động cách mạng.
Lần này, ông lấy tên là Tống Văn Sơ.
Bấy giờ tổ chức cách mạng của ta đang ở nhà số 186 đường Tam Lung, đất Cửu Long
thuộc Hương Cảng.
Bỗng vào sáng sớm ngày 6/6/1931 ông Tống bị cảnh sát Anh bất ngờ lao vào khám xét
và bắt bớ.
Theo bức điện đánh bằng mật mã của Toàn quyền Đông Dương René Robin đề ngày
6/5/1931, gửi Tô thuộc địa Pháp, chính quyền Đông Dương sở dĩ biết được địa chỉ của
đồng chí Tống là do những vụ bắt bớ dây chuyền ở trong nước và nước ngoài, được Anh
– Pháp chỉ huy.
Toàn quyền Đông Dương René Robin đã điện cho chính quyền Hương Cảng nhờ bắt hộ
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng thời, phái đến Hương Cảng một tên thanh tra mật thám
của Sở Mật thám Đông Dương để cùng với lãnh sự Pháp tại Hương Cảng theo dõi vụ
này.
Chính quyền nơi đó sẽ thi hành ngay tức thì bản án tử hình mà chúng đã xét xử và kết án
vắng mặt lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tại Tòa án Vinh từ tháng 10/1929.
Nguyên sáng ngày 6/6/1931, mật thám Anh ở Hương Cảng đến bắt Tống Văn Sơ mà
không có công lệnh tức giấy phép của chính quyền cho đi bắt.
Bắt xong, chúng tạm giam tại trụ sở cảnh sát Hương Cảng để chờ đưa xuống tàu thủy của
Pháp. Nhưng chỉ vài hôm sau, các đồng chí của ta ở Hương Cảng đã nhanh chóng tới nhờ
luật sư Lô-dơ-bi bênh vực.
Luật sư Lô-dơ-by.
Về phần luật sư Lô-dơ-bi, khi biết người bị bắt là Tống Văn Sơ - một lãnh tụ cách mạng
An Nam thì ông luật sư bày tỏ lòng kính trọng và nhận lời ngay.
25/6/1931, sau khi tận dụng mọi mối quan hệ cá nhân và nghề nghiệp, ông luật sư đã
được gặp mặt Tống Văn Sơ và hỏi những điều cần thiết tối thiểu để lập hồ sơ đưa vụ này
ra Tòa án…
Luật sư Lô-dơ-bi là một người rất nổi tiếng tại Hương Cảng, làm chủ nhiệm công ty luật
Thế nhưng, khi Tống Văn Sơ vừa ra khỏi nhà tù một đoạn đường thì bỗng có một tên
cảnh sát tiến đến, đưa ra trước mặt ông Tống một giấy phép bắt người.
Mặc dù bất lực và đuối lý hoàn toàn trước lý lẽ sắc bén, đúng “pháp luật” của luật sư và
bị cáo, ngay tại phiên tòa thứ hai, vị chưởng lý vẫn tuyên bố xanh rờn: “Ngày 12/8/1931,
Thống đốc Hương Cảng đã ký lệnh trục xuất Tống Văn Sơ, kèm theo lệnh bắt phải xuống
tàu thủy của Pháp để về Đông Dương vào ngày 18/8/1931
Trong số lính gác tại nhà tù,có một người đã được ông Tống cảm hoá, rất đáng tin cậy.
Ông Tống liền viết mấy dòng nhờ người lính gác này trao tận tay cho luật sư Lô-dơ-bi.
Người lính gác đó ngay tức khắc chuyển thư tới địa chỉ cần tìm.
Trong vai trò luật sư, ông Lô-dơ-bi đã chính thức gặp nhà chức trách, phê phán họ kịch
liệt khi chống lại lệnh tuyên án của Cơ mật viện, để cho cảnh sát bắt lại Tống Văn Sơ một
cách trái phép. Và thế là ông Tống lại được thả
Việc đòi tự do cho ông Tống đã thành công, song tính mạng của ông thì vẫn chưa có cách
gì đảm bảo, bởi bọn mật thám ở vùng này đa số đã biết mặt Tống Văn Sơ, chúng đều đã
được phát ảnh ông Tống để theo dõi, nay nếu để ông Tống đi lại ngoài phố, chắc chắn,
bọn mật thám sẽ không tha và khi cần, bọn chúng sẵn sàng thủ tiêu ông Tống để lĩnh món
phần thưởng 15 ngàn đô-la mà Toàn quyền Đông Dương đã treo thưởng.
Sau một thời gian bàn tính, ông bà Lô-dơ-bi quyết định giấu ông Tống vào ký túc xá
Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa tại Hương Cảng.
Khu vực này là của Nhà Chung, cảnh sát Hương Cảng không được quyền vào. Nhờ mối
quan hệ của mình, ông bà Lô-dơ-bi đã thu xếp cho ông Tống được ở riêng một phòng kín
đáo; hàng ngày không được ra ngoài để tránh con mắt rình mò của mật thám.
Và qua một kế hoạch cải trang, ông Tống đã trốn được khỏi tai mắt bọn mật thám, đến ở
nhà luật sư Lô-dơ-by.
Nhà của luật sư Lô-dơ-by, nơi Tống Văn Sơ từng ẩn náu năm 1933. Trang phục gia đình luật sư Lô-dơ-by chuẩn bị cho Nguyễn Ái Quốc để cải trang lúc rời Hương Cảng