Lịch sử di cư của người Hoa v
ào Đàng Trong
HUỲNH NGỌC ĐÁNG Trong lịch sử Việt Nam, vương quốc Đàng Trong là một hiện tượng khá đặc biệt. Từ một
thế lực cát cứ nhỏ bé so với Đàng Ngoài, Đàng Trong đã vươn lên lớn mạnh, tiếp tục di
dân khẩn hoang, mở mang lãnh thổ, can thiệp ảnh hưởng ở Chân Lạp, đối trọng vớI Xiêm
La… Trong nhiều hoạt động của Đàng Trong , người Hoa đã tham gia ngay từ đầu như
những lực lượng đóng góp quan trọng. Ngược lại, Đàng Trong với những đặc điểm khá
riêng biệt đã thu hút mạnh mẽ những ngườI Trung Hoa di cư đến làm ăn sinh sống, cư
ngụ lâu dài như vùng đất lành chim đậu.
Lịch sử quá trình di cư của người Hoa vào Đàng Trong gắn chặt với tiến trình lịch sử
phát triển của Đàng Trong và tình hình vùng duyên hải Nam Trung Hoa.
Vào giữa cuối thế kỷ XVII, tình hình Trung Quốc có nhiều biến động. Năm 1644, với sự
cộng tác của viên tướng nhà Minh phản bội là Ngô Tam Quế, quân đội Mãn Thanh đã
chiếm được Bắc Kinh. Năm sau, Nam Kinh cũng thất thủ. Về cơ bản, Mãn Thanh đã
thống trị toàn Trung Hoa từ đó.
Tuy nhiên, ở vùng Hoa Nam, tình hình vẫn còn hỗn loạn. Cuộc kháng chiến của các đại
diện tôn thất nhà Minh vẫn tiếp tục, mặc dù yếu ớt. Ba vua nhà Minh là Lỗ vương kháng
chiến ở Chiết Giang, Đường vương ở Phúc Kiến và Quế vương ở Quảng Đông. Họ đều
Về sự kiện nhóm Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến Đàng Trong, Đại Nam
Thực Lục Tiền Biên của triều Nguyễn ghi rõ: “… Kỷ Mùi (1679), mùa xuân, tháng
giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn Tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng
Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem
hơn 3000 quân và hơn 50 chiếc thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là
bô thần nhà Minh, vì nghĩa không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến để xin là tôi tớ…”.
Chúa Hiền đã dung nạp họ đưa vào khai khẩn đất Biên Hoà và Mỹ Tho. Đoàn người Hoa
này đã “… vỡ đất phá hoang, dựng thành phố chợ, buôn bán giao thông với người Trung
Quốc, Tây Dương, Nhật Bản. Thuyền buôn tấp nập, phong hoá Trung Hoa đã dần dần
thấm thía xanh tốt khắp đất Đông Phố…”, như Trịnh Hoài Đức đã nhận xét trong Gia
Định Chí.
Nhóm Mạc Cửu gia nhập Đàng Trong trong hoàn cảnh khác hơn. Ông sinh ngày 8 tháng
5 năm Ất Mùi (1855). Như vậy Mạc Cửu sinh ra và trưởng thành khi nhà Minh đã đổ,
Mãn Thanh cơ bản thống trị Trung Hoa. Ông đã rời bỏ quê hương ra đi để tránh bị cạo
đầu bím tóc theo phong tục Mãn Thanh. Cũng theo Thực Lục Tiền Biên, ông đã đến
Chân Lạp “… làm chức Ốc Nha, thấy phủ Sài Mạt ở nước ấy có nhiều người buôn các
nước thụ họp bèn mở sòng gác bạc để thu thuế gọi là hoa chi, lại được hố bạc chôn nên
thành giàu. Nhân đó chiêu tập dâu xiêu dạt đến các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Giá Khê,
Luống Cày, Hương Úc, Cà Mau, lập thành 7 xã thôn. Thấy ở đất ấy tương truyền có
người tiên thường hay hiện ra ở trên sông, nhân thế đặt tên là Hà Tiên. Đến đây Mạc Cửu
cho ngườI bộ thuộc là Trương Cầu và Lý Xá dâng thư xin làm Hà Tiên trưởng. Chúa
nhận cho, trao cho chức Tổng binh. Cửu xây dựng dinh ngũ, đóng ở Phương Thành, nhân
dân ngày càng đến đông…”
Lịch sử di cư của người Hoa vào Đàng Trong có thể chia thành 4 giai đoạn chính là:
Giai đoạn I: (Từ cuối- thế kỷ XVI đến trước năm 1645)
Có hai sự kiện chính: năm 1567, Minh Mục Tông xuống lệnh cho phép thường dân được
Trong định cư lâu dài. Tiêu biểu là đoàn người 3000 binh lính với trên 50 chiến thuyền
của Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch.
Giai đoạn IV: (Từ 1685 trở đi)
Sự kiện đáng lưu ý là năm 1685, Thanh Thánh Tổ đã ban hành “Triển hải lệnh” cho phép
nhân dân được vượt biển đi các nước buôn bán. Đông đảo người Hoa đã đến định cư ở
Đàng Trong trong giai đoạn này. Họ chủ yếu là dân thường, di cưu vì sinh kế v
à các lý do
khác. Nhân vật chính của di dân Trung Hoa đến Đàng Trong trong giai đoạn này không
phải là nạn dân hay di thần nhà Minh nữa.
Trong 4 giai đoạn trên, giai đoạn III đáng chú ý với cuộc di cư khá quy mô của các di
thần nhà Minh. Tuy nhiên, giai đoạn từ 1685 trở đi có ý nghĩa rất quan trọng: cuộc chiến
tranh dai dẳng hơn 40 năm giữa hai họ Trịnh, Nguyễn đã chấm dứt với thế cân bằng, tình
hình chính trị xã hội đã tương đối ổn định; cả một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ
Thuận - Quảng đến Cà Mau đang chờ đợi bàn tay lao động của con người đến từ mọi
hướng; nền ngoại thương của Đàng Trong đang phát triển vượt bậc… tất cả thu hút mạnh
mẽ người Hoa đến Đàng Trong, vùng đất lành chim đậu.
Lịch sử di cư của người Hoa vào Đàng Trong có một số vấn đề đáng lưu ý:
1.Thành phần người Hoa đến Đàng Trong ở các giai đoạn có sự khác biệt khá rõ rệt:
giai đoạn I chủ yếu là thương nhân; giai đoạn II chủ yếu là nạn dân, trong đó có thể có
một số ít thương nhân và các sĩ phu; giai đoạn III chủ yếu là di thần nhà Minh, trong đó
đông đảo là binh lính; giai đoạn cuối thành phần đa dạng hơn bao gồm cả thương gia, trí
thức Nho giáo, các nhà sư… Cần lưu ý vai trò của các trí thức nho giáo và các nhà sư
trong quá trình phát triển văn hoá Đàng Trong. Đó là những nhà thơ, nhà văn đã đến với
Chiêu Anh Các Hà Tiên, là những nhà sư đã góp phần hình thành các tông phái Phật giáo
Đàng Trong.
Đến tỵ nạn ở đây họ không lo bị “dẫn độ” về Trung Quốc, do sức ép từ Mãn Thanh.
Hai là, Đàng Trong là nơi có nền ngoại thương phát triển mạnh, tiếp xúc nhiều thương
thuyền nước ngoài, trong đó có thương thuyền của lực lượng kháng chiến Đài Loan. Cho
nên đó là vùng đất các di thần nhà Minh đã từng qua lại hoặc ít ra có nhiều hiểu biết, gần
gũi hơn các nơi khác. Ngoài ra, vị trí của Đàng Trong nằm trên đường biển từ Đài Loan
đến các quốc đảo, đến Đàng Trong gần hơn đến Thái Lan hay các quốc đảo ấy. Đến Đ
àng
Trọng xin tỵ nạn, nếu không được chấp nhận vẫn còn có thể đi tiếp đến Thái Lan hay các
quốc đảo.
Ba là, ngoài các lý do trên, Đàng Trong còn là nơi “đồng văn, đồng chủng” hơn so với
Thái Lan và các quốc đảo.
Nhóm di thần nhà Minh Trần Thượng Xuyên và Trần Ngạn Địch là một lực lượng có lập
trường chính trị rõ ràng. Do vậy trong ba lý do trên, lý do thứ nhất là quyết định, hai l
à do
sau là sự bổ sung các tiền đề quan trọng. Các di thần nhà Minh sẵn sàng làm tôi cho chúa
Nguyễn - một hoàng đế phương Nam hoàn toàn đứng ngoài quỹ đạo ảnh hưởng chính trị
của Mãn Thanh.
5.Tương tự, tại sao Mạc Cửu tìm về với chúa Nguyễn, đem Hà Tiên sát nhập vào Đàng
Trong. Có thể do các lý do như sau:
Một là, một mình Mạc Cửu không thể tự lực tồn tại được vì thế và lực quá yếu kém. Ông
ta buộc phải chọn cho mình một đồng minh để nương tựa.
Hai là, ngày từ những ngày đầu trứng nước của đất Hà Tiên, Mạc Cửu đã là nạn nhân của
quân đội can thiệp Thái Lan và chia rẽ của nội bộ vương triều Chân Lạp. Nặc Thu và Nặc
Nộn đánh nhau, Nặc Thu cầu cứu quân Xiêm, Xiêm đã vào Chân Lạp, chiếm đóng vùng
and focus on the issues of the social and female immigrant, of the causes why the Tran
Thuong Xuyen, Duong Ngan Dich groups came into Dang Trong, why Mac Cu donated
Ha Tien for the Dang Trong Government, especially explaining the historical meaning of
the words Minh Huong and Thanh Ha…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Liệt truyện Tiền Biên, NXB. KHXH, Hà Nội
1997.
2. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, tập I. Tổ Phiên dịch Sử
học, NXB. Sử học, Hà Nội 1962.
3. Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành Công Chí. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
quốc gia, Viện Sử học, NXB Giáo dục 1998.
4. Anh Nguyên, Mạc Cửu với đất Hà Tiên. Văn hoá Nguyệt san số 26, Sài Gòn 1957.
5. Cheng Ching Ho, Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích tại Hội An.
VNKC tập san, số 6, Sài Gòn, 1996.
6. Furiwara Riichio, Chính sách đối với dân Trung Hoa di cư của các triều đại Việt Nam.
VNKCTS số 8, Sài Gòn, 1974.
7. Trần Kinh Hoà, Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đại học
số 3, Sài Gòn 1981.
8. Cheng Ching Ho, Historical Notes on Hôi An (Faifo). Center for Vietnamese Studies,
Southern Iliinois University at Carbondale.
9. Emile Gaspardone, Un Chinois des mers du sud, le fondateur de Ha Tien. Journal
Asiatique, tomme CCXL, 1952, Fascicule No.3.
10. Nguyễn Thiện Lâu, La Formation et L’évolution du Village de Minh Huong (Faifo),
BAVH.4.1994.